|
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN P TỈNH PHÚ YÊN |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc ————————— |
|
Bản án số: 30/2025/HNGĐ-ST Ngày 27-06-2025 V/v tranh chấp ly hôn, con chung |
|
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN P, TỈNH PHÚ YÊN
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Trương Thị Thu Hiền.
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Lê Bá Tự và ông Trần Văn Phương.
- Thư ký phiên tòa: Bà Đỗ Rum Ba – Thư ký Tòa án nhân dân huyện P, tỉnh Phú Yên.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện P, tỉnh Phú Yên tham gia phiên tòa: Bà Huỳnh Tuyết Nhi – Kiểm sát viên.
Ngày 27 tháng 06 năm 2025 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện P, tỉnh Phú Yên xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 03/2024/TLST-HNGĐ ngày 17 tháng 02 năm 2025 về tranh chấp ly hôn theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 27/2025/QĐXXST-HNGĐ ngày 17 tháng 02 năm 2025 và quyết định hoãn phiên tòa số 22b/2025/QĐST-HNGĐ ngày 11/6/2025 giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Ông Lê Nguyễn Quốc H, sinh năm 1986.
Địa chỉ: Thôn Đ, xã H, huyện P, tỉnh Phú Yên. Có mặt.
- Bị đơn: Bà Trần Thị L, sinh năm 1987.
Địa chỉ: Thôn Đ, xã H, huyện P, tỉnh Phú Yên. Vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Nguyên đơn ông Lê Nguyễn Quốc H tại đơn khởi kiện và quá trình tham gia tố tụng trình bày:
Về hôn nhân: Nguyên đơn tự nguyện tìm hiểu và kết hôn với bị đơn Trần Thị L trên cơ sở tự nguyện tìm hiểu, có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân (UBND) xã H vào ngày 02/4/2006, số 32/2006. Quá trình sống chung với nhau hạnh phúc được một thời gian thì đến năm 2019 bắt đầu phát sinh mâu thuẫn nghiêm trọng. Nguyên nhân, do bà L làm công nhân xưởng hạt điều, sau đó bạn bè rủ rê ăn chơi, dẫn đến nợ nần nên đã bỏ về nhà cha, mẹ sinh sống, rồi trốn khỏi địa phương đi làm ăn nơi khác. Từ năm 2019 đến nay, bà L không có về nhà, mà chỉ liên lạc qua điện thoại với các con và gia đình, vợ chồng sống ly thân thời gian dài, không ai còn tình cảm với nhau, mâu thuẫn đã trầm trọng, mục đích hôn nhân không đạt được nên nguyên đơn yêu cầu Tòa án giải quyết cho ly hôn.
Về con chung: Vợ chồng có 02 người con chung là Lê Trần Trúc L1, sinh ngày 24/01/2007 và Lê Trần Khánh L2, sinh ngày 17/01/2010. Hiện nay, cháu Trúc L1 đã trưởng thành, không yêu cầu Tòa án giải quyết, cháu Khánh L2 hiện đang sống với cha, nên khi ly hôn, nguyên đơn yêu cầu được tiếp tục nuôi con và không yêu cầu cấp dưỡng.
Về tài sản chung: Nguyên đơn không yêu cầu Tòa án giải quyết; về nợ chung: Quá trình làm ăn vợ chồng không có nợ chung, bà L ăn chơi nợ nần cá nhân xã hội ông H không biết nên không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Bị đơn bà Trần Thị L được Tòa án triệu tập hợp lệ nhiều lần nhưng đều vắng mặt không lý do và không trình bày ý kiến.
Tại biên bản lấy khời khai ngày 09/4/2025 bà Phạm Thị L3 (mẹ ruột bà Trần Thị L) trình bày: Vợ chồng bà L kết hôn từ năm 2006, quá trình sống chung không hiểu vì lý do nợ nần gì mà bà L bỏ nhà đi làm ăn xa ở S hơn 04 năm nay không có về nhà. Tuy nhiên, bà L vẫn còn liên lạc với gia đình, gửi tiền về cho các con.
Tòa án đã tiến hành mở phiên họp kiểm tra tiếp cận công khai chứng cứ và hòa giải, tuy nhiên bị đơn vắng mặt nên không tiến hành hòa giải được.
Tại phiên tòa: Nguyên đơn trình bày vẫn giữ nguyên yêu cầu khởi kiện, xin được ly hôn và nuôi con chung, tài sản chung không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Kiểm sát viên phát biểu tại phiên tòa: Về thủ tục tố tụng từ khi thụ lý đến khi xét xử sơ thẩm, Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký đã thực hiện đúng theo quy định pháp luật. Các đương sự thực hiện đúng theo quy định pháp luật, riêng bị đơn không chấp hành đúng theo giấy triệu tập của Tòa án. Về nội dung vụ án: Đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn được ly hôn với bị đơn; Con chung: Giao cháu Lê Trần Khánh L2 cho nguyên đơn trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng, không giải quyết phần cấp dưỡng; Cháu Lê Trần Trúc L1 đã trưởng thành không yêu cầu giải quyết; về tài sản chung và nợ chung: Không yêu cầu giải quyết; Về án phí và chi phí tố tụng nguyên đơn phải chịu theo quy định pháp luật.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên tòa, trên cơ sở đánh giá toàn diện chứng cứ được tranh tụng tại phiên tòa.
[1] Về tố tụng: Nguyên đơn Lê Nguyễn Quốc H nộp đơn xin ly hôn với bị đơn Trần Thị L có nơi cư trú tại thôn Đ, xã H, huyện P, tỉnh Phú Yên. Đây là quan hệ tranh chấp ly hôn, thuộc thẩm quyền giải quyết sơ thẩm của Tòa án nhân dân huyện P, tỉnh Phú Yên theo khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự (BLTTDS).
Tại phiên tòa bị đơn Trần Thị L vắng mặt lần thứ hai không có lý do, nhưng đã được Tòa án tiến hành tống đạt, thông báo hợp lệ nên căn cứ vào Điều 227, 228 Bộ luật tố tụng dân sự Tòa án xét xử vắng mặt.
[2] Xét các yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn:
[2.1] Về hôn nhân: Nguyên đơn Lê Nguyễn Quốc H và Trần Thị L tự nguyện tìm hiểu và đăng ký kết hôn với nhau tại Ủy ban nhân dân xã H, huyện P, tỉnh Phú Yên theo giấy chứng nhận số 32/2006 ngày 02/4/2006. Đây là hôn nhân tự nguyện, hợp pháp phù hợp với quy định của pháp luật nên được công nhận.
Đến năm 2020 thì giữa nguyên đơn và bị đơn phát sinh mâu thuẫn nghiêm trọng dẫn đến vợ chồng phải sống ly thân, nguyên nhân là do bà L đi làm ăn, quen biết nhiều người xã hội phức tạp, rủ rê dẫn đến ăn chơi, gây nợ nần cá nhân, vì sợ trách nhiệm nên đã bỏ địa phương đi làm ăn xa, từ đó đến nay không có về nhà. Lời khai của nguyên đơn phù hợp với lời khai của mẹ bị đơn bà Phạm Thị L3 tại biên bản lấy lời khai ngày 09/4/2015, phù hợp với xác nhận của địa phương ở biên bản xác minh ngày 09/4/2025 của Ủy ban nhân dân xã H hiện nay bà L không có đăng ký thường trú và không ở tại địa chỉ thôn V, xã H, huyện P, tỉnh Phú Yên.
Tòa án đã tiến hành tống đạt văn bản tố tụng cho bà Phạm Thị L3 (mẹ bị đơn) cũng như tiến hành thông báo trên phương tiện thông tin đại chúng 03 số liên tiếp gồm: B các số 33, 34, 35 và 36 ngày 23/4;25/4 và 02/5/2025; trên Đ VTV8 phát lúc 06h45 ngày 22, 23, 24/4/2025; trên cổng thông tin điện tử của Tòa án.
Bị đơn bà Trần Thị L biết được việc nguyên đơn yêu cầu xin ly hôn, nhưng cố tình vắng mặt, không cung cấp địa chỉ và không chấp hành theo giấy triệu tập của Tòa án là thuộc trường hợp cố tình giấu địa chỉ, không có mặt tại Tòa án là từ bỏ quyền và nghĩa vụ tố tụng của mình theo quy định pháp luật.
Xét vợ chồng sống ly thân thời gian dài, hai bên không còn tình cảm, mục đích hôn nhân không đạt được, mâu thuẫn đã trầm trọng, đời sống hôn nhân không thể kéo dài căn cứ theo điều 51, 56 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014 quy định: “Tòa án giải quyết cho ly hôn nếu có căn cứ về việc vợ, chồng có hành vi bạo lực gia đình hoặc vi phạm nghiêm trọng quyền, nghĩa vụ của vợ, chồng làm cho hôn nhân lâm vào tình trạng trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích của hôn nhân không đạt được”. Thấy rằng, yêu cầu xin ly hôn của nguyên đơn với bị đơn là có căn cứ nên được chấp nhận.
[2.2] Về con chung: Vợ chồng có 02 người con chung là Lê Trần Trúc L1, sinh ngày 24/01/2007 và Lê Trần Khánh L2, sinh ngày 17/01/2010. Hiện nay, cháu Trúc L1 đã trưởng thành, phát triển bình thường, nên Hội đồng xét xử không xem xét, giải quyết. Riêng cháu Khánh L2 hiện đang sống với cha, xét nguyện vọng của nguyên đơn yêu cầu được tiếp tục nuôi dưỡng con chung, không yêu cầu cấp dưỡng và nguyện vọng của cháu Khánh L2 là được tiếp tục sống với cha là phù hợp với quyền, lợi ích chính đáng của trẻ, phù hợp với quy định pháp luật nên được chấp nhận.
Nguyên đơn không yêu cầu cấp dưỡng nên Hội đồng xét xử không xem xét, giải quyết.
[3] Về tài sản chung, nợ chung: Nguyên đơn không yêu cầu giải quyết nên Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết.
[4] Xét các đề xuất của đại diện Viện kiểm sát tham gia tại phiên tòa phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử nên được chấp nhận.
[5] Về chi phí tố tụng: Nguyên đơn tự nguyện chịu theo quy định pháp luật số tiền đã nộp chi phí thông báo trên phương tiện thông tin đại chúng là 3.750.000 đồng (nguyên đơn đã nộp đủ).
Về án phí: Nguyên đơn tự nguyện chịu án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm theo quy định pháp luật là 300.000 đồng.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào các Điều 51, 56, 57, 81, 82, 83, 84 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014;
Căn cứ Khoản 1 Điều 28, điểm a Khoản 1 Điều 35, điểm a Khoản 1 Điều 39, Điều 147, 227, 228 Bộ luật Tố tụng dân sự;
Căn cứ Điều 26, 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 của Ủy ban Thường vụ Quốc Hội.
Tuyên xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn Lê Nguyễn Quốc H xin ly hôn với bị đơn Trần Thị L.
- Về hôn nhân: Ông Lê Nguyễn Quốc H được ly hôn với bà Trần Thị L.
- Về con chung: Hiện nay cháu Lê Trần Trúc L1, sinh ngày 24/01/2007 đã trưởng thành nên Hội đồng xét xử không giải quyết; Giao cháu Lê Trần Khánh L2, sinh ngày 17/01/2010 cho nguyên đơn Lê Nguyễn Quốc H được trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục.
Người không trực tiếp nuôi con có quyền và nghĩa vụ thăm nom, chăm sóc, giáo dục con chung mà không ai được cản trở.
- Về tài sản chung, nợ chung: Nguyên đơn không yêu cầu, Hội đồng xét xử không xem xét, giải quyết
- Về chi phí tố tụng: Ông Lê Nguyễn Quốc H tự nguyện chịu 3.750.000 đồng chi phí thông báo trên phương tiện thông tin đại chúng (nguyên đơn đã nộp đủ).
- Về án phí: Nguyên đơn Lê Nguyễn Quốc H tự nguyện chịu 300.000 đồng án phí Hôn nhân gia đình sơ thẩm, nhưng được trừ vào 300.000 đồng đã nộp tạm ứng án phí theo biên lai thu tiền số 0005200 ngày 17/02/2025 tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện P, tỉnh Phú Yên.
- Quyền kháng cáo: Nguyên đơn được kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Bị đơn vắng mặt được kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA (đã ký) Trương Thị Thu Hiền |
Bản án số 30/2025/HNGĐ-ST ngày 27/06/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN P, TỈNH PHÚ YÊN về tranh chấp ly hôn, con chung
- Số bản án: 30/2025/HNGĐ-ST
- Quan hệ pháp luật: tranh chấp ly hôn, con chung
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 27/06/2025
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN P, TỈNH PHÚ YÊN
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Bản án ly hôn vắng mặt 01 bên, tòa án chấp nhận ly hôn, không tranh chấp con chung, tài sản chung