Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

THÀNH PHỐ BIÊN HÒA

TỈNH ĐỒNG NAI

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 30/2025/KDTM-ST

Ngày: 22-5-2025

V/v: “Tranh chấp hợp đồng mua bán hàng hóa”

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BIÊN HÒA

  • - Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

    • - Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Đinh Trần Ngọc Phương Trang.

    • - Các Hội thẩm nhân dân: Ông Trần Văn Chánh.

    • Bà Thiều Thị Phi Loan.
  • - Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Hồng Nhi – Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Biên Hòa, tỉnh Đồng Nai.

  • - Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Biên Hòa tham gia phiên toà: Bà Nguyễn Thị Đông – Kiểm sát viên.

Trong ngày 22 tháng 5 năm 2025 tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Biên Hòa – tỉnh Đồng Nai xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 208/2024/TLST-KDTM ngày 23 tháng 12 năm 2024 về việc “Tranh chấp hợp đồng mua bán hàng hóa” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 27/2025/QĐXXST-KDTM ngày 31 tháng 3 năm 2025 và Quyết định hoãn phiên tòa số: 197/2025/QÐST-KDTM ngày 24/4/2025 giữa các đương sự:

  • - Nguyên đơn: Công ty TNHH S.

    Địa chỉ: B, tổ E, khu phố A, phường A, TP ., tỉnh Bình Dương.

    Địa chỉ liên lạc: Ô 3, Lô A đường D, khu công nghiệp K, xã Đ, huyện B, tỉnh bình Dương.

    Người đại diện theo ủy quyền: Bà Lê Thị Thanh N, sinh năm 1981 (Văn bản ủy quyền số 04/2024/UQ-TC ngày 25/7/2024).

    Địa chỉ liên lạc: Tổ C, khu P, phường T, TP ., tỉnh Bình Dương.

    SĐT: 0932.269.xxx.

  • - Bị đơn: Công ty TNHH T.

    Địa chỉ: 3, khu phố E, phường H, TP ., tỉnh Đồng Nai.

    (Bà N có đơn xin vắng mặt; bị đơn vắng mặt không có lý do)

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo đơn khởi kiện, bản tự khai, đơn thay đổi yêu cầu khởi kiện, người đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn trình bày:

Ngày 15/3/2023, Công ty S (gọi tắt là Công ty S) và Công ty TNHH T (gọi tắt là Công ty T) ký hợp đồng nguyên tắc mua bán hàng hóa số 01/HĐNT-ATP-23 về việc mua bán các loại sản phẩm về sơn, dùng để sơn hàng đồ gỗ nội thất. Trong đó thỏa thuận: Số lượng, chủng loại hàng hóa: Theo từng đơn đặt hàng của Công ty T; đơn giá: được thực hiện theo bảng báo giá có chữ ký xác nhận giữa hai bên; thời hạn thanh toán: Bên mua bảo đảm thanh toán 100% giá trị hàng hóa phát sinh trong vòng 1-5 ngày sau, tính từ ngày hai bên xác nhận công nợ vào cuối tháng. Trường hợp chậm thanh toán, bên mua đồng ý thanh toán cho bên bán lãi suất phạt do chậm thanh toán như sau:

  • - Mức phạt 0,00%/ngày thanh toán chậm trên tổng số tiền chậm thanh toán từ ngày thứ nhất đến ngày thứ mười.

  • - Mức phạt 0,02%/ngày thanh toán chậm trên tổng số tiền chậm thanh toán từ ngày thứ mười một đến ngày thứ hai mươi.

  • - Mức phạt 0,03%/ngày thanh toán chậm trên tổng số tiền chậm thanh toán từ ngày thứ hai mươi mốt trở về sau.

Thực hiện hợp đồng trên Công ty S và Công ty T đã thực hiện đầy đủ chính xác các nội dung hai bên thỏa thuận. Tuy nhiên đến tháng 11/2023, Công ty T bắt đầu không thanh toán như cam kết.

Quá trình thực hiện hợp đồng Công ty T còn nợ lại Công ty S số tiền là 271.744.000đồng bao gồm:

  • - Tiền hàng tháng 11/2023 theo hóa đơn GTGT số 652 ngày 30/11/2023, số tiền 173.294.000đồng.

  • - Tiền hàng tháng 12/2023 theo hóa đơn GTGT số 700 ngày 29/12/2023, số tiền 30.910.000đồng.

  • - Tiền hàng ngày 15/5/2024 theo hóa đơn GTGT số 158 ngày 16/5/2024, số tiền 67.540.000đồng.

Công ty S đã nhiều lần gửi thông báo xác nhận công nợ, gọi điện thoại, nhắn tin đề nghị Công ty T thanh toán toàn bộ số tiền còn nợ nhưng Công ty T liên tục hứa hẹn và không thanh toán nợ cho Công ty S.

Do Công ty T vi phạm nghĩa vụ thanh toán theo hợp đồng đã ký nên Công ty S khởi kiện yêu cầu khởi kiện yêu cầu Công ty T thanh toán tiền mua hàng còn thiếu là 271.744.000đồng và tiền lãi như sau:

  • - Tiền hàng theo hóa đơn GTGT số 652 ngày 30/11/2023, số tiền gốc là 173.294.000đồng. Ngày thanh toán 5/12/2023, ngày chuyển sáng nợ quá hạn: 06/12/2023. Tiền lãi từ ngày 06-16/12/2023 (lãi phạt 0%/ngày) là 173.294.000 x 10 ngày x 0% = 0. Tiền lãi từ ngày 17-27/12/2023 (lãi phạt 0,02%/ngày) là 173.294.000 x 10 ngày x 0,02% = 346.588đồng. Tiền lãi từ ngày 28/12/2023 đến ngày 22/5/2025 (lãi phạt 0,03%/ngày) là 173.294.000đồng x 511 ngày x 0,03% = 26.565.970đồng.

  • - Tiền hàng theo hóa đơn GTGT số 700 ngày 29/12/2023, số tiền gốc là 30.910.000đồng. Ngày thanh toán 05/01/2024, ngày chuyển sáng nợ quá hạn: 06/01/2024. Tiền lãi từ ngày 06-16/01/2024 (lãi phạt 0%/ngày) là 30.910.000đồng x 10 ngày x 0% = 0. Tiền lãi từ ngày 17-27/01/2024 (lãi phạt 0,02%/ngày) là 30.910.000đồng x 10 ngày x 0,02% = 61.820đồng. Tiền lãi từ ngày 28/01/2024 đến ngày 22/5/2025 (lãi phạt 0,03%/ngày) là 30.910.000đồng x 480 ngày x 0,03% = 4.451.040đồng.

  • - Tiền hàng theo hóa đơn GTGT số 158 ngày 16/5/2024, số tiền gốc là 67.540.000đồng. Ngày thanh toán 05/6/2024, ngày chuyển sáng nợ quá hạn: 06/6/2024. Tiền lãi từ ngày 06-16/6/2024 (lãi phạt 0%/ngày) là 67.540.000đồng x 10 ngày x 0% = 0. Tiền lãi từ ngày 17-27/6/2024 (lãi phạt 0,02%/ngày) là 67.540.000đồng x 10 ngày x 0,02% = 135.080đồng. Tiền lãi từ ngày 28/6/2024 đến ngày 22/5/2025 (lãi phạt 0,03%/ngày) là 67.540.000đồng x 328 ngày x 0,03% = 6.645.936đồng.

Tổng cộng tiền lãi là: 38.206434đồng.

Và Công ty T phải tiếp tục chịu tiền lãi trên số tiền nợ gốc chưa thanh toán cho Công ty S tính từ ngày tiếp theo của ngày xét xử sơ thẩm cho đến khi Công ty T hết toàn bộ nợ gốc mua hàng.

Do ở xa nên người đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn xin vắng mặt trong toàn bộ quá trình giải quyết vụ án và khi Tòa án đưa vụ án ra xét xử.

Đối với bị đơn Công ty TNHH T: Quá trình giải quyết vụ án, Tòa án đã tổng đạt hợp lệ các văn bản tố tụng cho bị đơn Công ty TNHH T nhưng Công ty T không cử đại diện đến Tòa án làm việc, không gửi văn bản trình bày ý kiến cho Tòa án nên Tòa án không thể ghi nhận ý kiến của Công ty về việc giải quyết vụ án.

Ý kiến của đại diện Viện kiểm sát tham gia phiên tòa:

  • Về việc tuân theo pháp luật tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án của Thẩm phán, Hội đồng xét xử và việc chấp hành pháp luật của người tham gia tố tụng dân sự kể từ khi thụ lý vụ án cho đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án được thực hiện đúng quy định.

  • Về việc tuân theo pháp luật của các đương sự: Nguyên đơn đã chấp hành theo đúng quy định của Bộ luật tố tụng dân sự 2015. Bị đơn chấp hành không đúng quy định của Bộ luật tố tụng dân sự 2015.

  • Về việc giải quyết vụ án: Đối với yêu cầu thanh toán tiền mua hàng còn thiếu và tiền lãi chậm trả của nguyên đơn là có căn cứ chấp nhận. Do đó, đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, buộc bị đơn trả cho nguyên đơn số tiền mua hàng còn thiếu là 271.744.000đồng và tiền lãi chậm trả theo lãi suất đã thỏa thuận trong hợp đồng.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

  1. [1] Về quan hệ pháp luật, tư cách đượng sự: Nguyên đơn Công ty TNHH S khởi kiện yêu cầu Công ty TNHH T phải thanh toán tổng số tiền còn nợ của 03 hóa đơn GTGT là 271.744.000đồng và lãi suất chậm trả tạm tính đến ngày 22/5/2025 là 38.206434đồng nên căn cứ Điều 30 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015 xác định quan hệ pháp luật tranh chấp của vụ án “Tranh chấp hợp đồng mua bán hàng hóa”. Căn cứ vào Điều 68 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015 xác định Công ty TNHH S là nguyên đơn, Công ty TNHH T là bị đơn trong vụ án.

  2. [2] Về thẩm quyền giải quyết vụ án: Công ty TNHH T có trụ sở tại thành phố B, tỉnh Đồng Nai. Căn cứ vào các Điều 30, 35, 39 Bộ luật Tố tụng Dân sự năm 2015 xác định vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân thành phố Biên Hòa, tỉnh Đồng Nai.

  3. [3] Về các thủ tục tố tụng khác: Người đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn có đơn xin xét xử vắng mặt. Bị đơn Công ty TNHH T đã được triệu tập hợp lệ lần hai vẫn vắng mặt nên căn cứ Điều 228, Điều 238 Bộ luật Tố tụng Dân sự năm 2015, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt tất cả những người tham gia tố tụng.

  4. [4] Ngày 12/5/2025, người đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn là bà Lê Thị Thanh N có đơn thay đổi yêu cầu khởi kiện. Theo đó, Công ty TNHH S xác định lại thời điểm tính lãi theo từng hóa đơn GTGT chưa thanh toán. Việc thay đổi một phần yêu cầu khởi kiện của Công ty TNHH S không vượt quá phạm vi khởi kiện ban đầu nên Hội đồng xét xử chấp nhận.

  5. [5] Về nội dung vụ án: Công ty S khởi kiện yêu cầu khởi kiện yêu cầu Công ty T thanh toán tiền mua hàng còn thiếu là 271.744.000đồng và tiền lãi như sau:

    • - Tiền hàng theo hóa đơn GTGT số 652 ngày 30/11/2023, số tiền gốc là 173.294.000đồng. Ngày thanh toán 5/12/2023, ngày chuyển sáng nợ quá hạn: 06/12/2023. Tiền lãi từ ngày 06-16/12/2023 (lãi phạt 0%/ngày) là 173.294.000 x 10 ngày x 0% = 0. Tiền lãi từ ngày 17-27/12/2023 (lãi phạt 0,02%/ngày) là 173.294.000 x 10 ngày x 0,02% = 346.588đồng. Tiền lãi từ ngày 28/12/2023 đến ngày 22/5/2025 (lãi phạt 0,03%/ngày) là 173.294.000đồng x 511 ngày x 0,03% = 26.565.970đồng.

    • - Tiền hàng theo hóa đơn GTGT số 700 ngày 29/12/2023, số tiền gốc là 30.910.000đồng. Ngày thanh toán 05/01/2024, ngày chuyển sáng nợ quá hạn: 06/01/2024. Tiền lãi từ ngày 06-16/01/2024 (lãi phạt 0%/ngày) là 30.910.000đồng x 10 ngày x 0% = 0. Tiền lãi từ ngày 17-27/01/2024 (lãi phạt 0,02%/ngày) là 30.910.000đồng x 10 ngày x 0,02% = 61.820đồng. Tiền lãi từ ngày 28/01/2024 đến ngày 22/5/2025 (lãi phạt 0,03%/ngày) là 30.910.000đồng x 480 ngày x 0,03% = 4.451.040đồng.

    • - Tiền hàng theo hóa đơn GTGT số 158 ngày 16/5/2024, số tiền gốc là 67.540.000đồng. Ngày thanh toán 05/6/2024, ngày chuyển sáng nợ quá hạn: 06/6/2024. Tiền lãi từ ngày 06-16/6/2024 (lãi phạt 0%/ngày) là 67.540.000đồng x 10 ngày x 0% = 0. Tiền lãi từ ngày 17-27/6/2024 (lãi phạt 0,02%/ngày) là 67.540.000đồng x 10 ngày x 0,02% = 135.080đồng. Tiền lãi từ ngày 28/6/2024 đến ngày 22/5/2025 (lãi phạt 0,03%/ngày) là 67.540.000đồng x 328 ngày x 0,03% = 6.645.936đồng.

    Tổng cộng tiền lãi là: 38.206434đồng.

    Và Công ty T phải tiếp tục chịu tiền lãi trên số tiền nợ gốc chưa thanh toán cho Công ty S tính từ ngày tiếp theo của ngày xét xử sơ thẩm cho đến khi Công ty T hết toàn bộ nợ gốc mua hàng.

  6. [5.1] Xét yêu cầu khởi kiện về số tiền nợ gốc và lời trình bày của người đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn là có căn cứ chấp nhận bởi lẽ: Nguyên đơn khởi kiện và đã cung cấp được các chứng cứ là hợp đồng nguyên tắc mua bán hàng hóa số 01/HĐNT-ATP-23 ngày 15/3/2023, bảng báo giá số 03/04-ATP/23 ngày 19/4/2022, các phiếu giao hàng từ tháng 02/11/2023 đến ngày 15/5/2024; các hóa đơn giá trị gia tăng, bảng đối chiếu công nợ thì Công ty T còn nợ lại Công ty S số tiền nợ là 271.744.000đồng.

  7. [5.2] Về lãi suất: Căn cứ thỏa thuận giữa các bên về thời gian thanh toán tại mục 3.3 của Điều 03 hợp đồng nguyên tắc, lãi suất phạt quy định tại khoản 6.6 Điều 06 hợp đồng nguyên tắc, điểm a khoản 1 Điều 13 Nghị quyết 01/2019/NQ-HĐTP ngày 11/01/2019 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân Tối cao và Điều 306 Luật Thương mại 2005, Án lệ số 09/2016/AL của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao thông qua ngày 17 tháng 10 năm 2016;

    Theo văn bản số 10/NHNoTPBH.CCTT ngày 13/02/2025 của Ngân hàng N1 – Chi nhánh B cung cấp mức lãi suất cho vay thông thường là 7%/năm, mức lãi suất quá hạn bằng 150% mức lãi suất trong hạn; Theo công văn số 01/2025/CCTT ngày 13/02/2025 của Ngân hàng TMCP N2 chi nhánh B cung cấp mức lãi suất cho vay thông thường là 7,95%năm, mức lãi suất quá hạn bằng 150% mức lãi suất trong hạn; Theo văn bản số 262/CNĐNA-TH ngày 13/02/2025 của Ngân hàng T1 chi nhánh B cung cấp lãi suất ngắn hạn cho vay là 9,75%/năm, mức lãi suất quá hạn bằng 150% mức lãi suất trong hạn. Do đó, mức lãi suất quá hạn trung bình một năm là (7% + 7,95% + 9,75%) x 150% : 3 = 12,35%/năm. Mức lãi suất quá hạn trung bình hàng tháng là 12,35% : 12 tháng = 1,03%.

    Nguyên đơn chỉ yêu cầu mức lãi suất tối đa theo thỏa thuận trong hợp đồng là 0,03%/ngày tương đương 0,9%/tháng là không vượt quá mức lãi suất nợ quá hạn trung bình trên thị trường tại thời điểm thanh toán. Do đó, Công ty S yêu cầu Công ty T tổng cộng tiền lãi tính tới ngày 22/5/2025 là 38.206.434đồng và tiền lãi theo mức lãi suất đã thỏa thuận trong hợp đồng trên số tiền nợ gốc chưa thanh toán cho Công ty S tính từ ngày tiếp theo của ngày xét xử sơ thẩm cho đến khi Công ty T hết toàn bộ nợ gốc mua hàng là có căn cứ chấp nhận.

  8. [6] Về án phí: Công ty T phải chịu án phí kinh doanh thương mại sơ thẩm số tiền là 15.497.522đồng. Công ty S được nhận lại tiền tạm ứng án phí sơ thẩm đã nộp.

  9. [7] Ý kiến đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Biên Hòa tham gia phiên tòa chỉ phù hợp với các chứng cứ có trong hồ sơ vụ án và nhận định của Hội đồng xét xử nên được chấp nhận.

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào các Điều 30, Điều 35, Điều 39, Điều 147; Điều 203, Điều 220, Điều 227, Điều 228, Điều 266, Điều 273 Bộ Luật tố tụng dân sự;

Áp dụng các Điều 24, 50, 55, 306 Luật thương mại; các Điều 274, 275, 280 Bộ luật dân sự năm 2015;

Áp dụng Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội; Nghị quyết 01/2019/NQ-HĐTP ngày 11/01/2019 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân Tối cao hướng dẫn áp dụng một số quy định về lãi, lãi suất, phạt vi phạm trong hợp đồng vay tài sản; lãi suất trung bình trên thị trường; quyết định lãi, lãi suất trong bản án, quyết định của Tòa án; Án lệ số 09/2016/AL của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao thông qua ngày 17 tháng 10 năm 2016;

Tuyên xử:

  1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của Công ty TNHH S về việc “Tranh chấp hợp đồng mua bán hàng hóa” đối với Công ty TNHH T.

    Buộc Công ty TNHH T phải thanh toán cho Công ty TNHH S tổng số tiền còn nợ là 309.950.434đồng (Ba trăm lẻ chín triệu, chín trăm năm mươi nghìn, bốn trăm ba mươi bốn đồng). Trong đó, tiền nợ gốc là 271.744.000đồng (Hai trăm bảy mươi mốt triệu, bảy trăm bốn mươi bốn nghìn đồng), tiền nợ lãi là 38.206.434đồng (Ba mươi tám triệu hai trăm lẻ sáu nghìn, bốn trăm ba mươi bốn đồng).

    Kể từ ngày tiếp theo của ngày xét xử sơ thẩm cho đến khi thi hành án xong số tiền nợ gốc chưa thanh toán, bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất các bên thỏa thuận trong hợp đồng tương ứng với thời gian chậm trả.

  2. Về án phí: Công ty TNHH T phải chịu án phí kinh doanh thương mại sơ thẩm số tiền là 15.497.522đồng (Mười lăm triệu, bốn trăm chín mươi bảy nghìn, năm trăm hai mươi hai đồng). Hoàn trả cho Công ty TNHH S số tiền 7.165.500đồng (Bảy triệu, một trăm sáu mươi lăm nghìn, năm trăm đồng) tạm ứng án phí sơ thẩm đã nộp theo biên lai thu số 0005171 ngày 19/12/2024 của Chi cục thi hành án dân sự thành phố Biên Hòa.

    Trường hợp Bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6,7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

  3. Nguyên đơn và bị đơn có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết hợp lệ theo quy định.

Nơi nhận:

  • - Tòa án nhân dân tỉnh Đồng Nai;
  • - Viện kiểm sát nhân dân TP.Biên Hòa;
  • - Các đương sự;
  • - Chi cục THADS thành phố Biên Hòa;
  • - Lưu hồ sơ vụ án.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TOÀ

Đinh Trần Ngọc Phương Trang

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 30/2025/KDTM-ST ngày 22/05/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BIÊN HÒA, TỈNH ĐỒNG NAI về tranh chấp hợp đồng mua bán hàng hóa

  • Số bản án: 30/2025/KDTM-ST
  • Quan hệ pháp luật: Tranh chấp hợp đồng mua bán hàng hóa
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 22/05/2025
  • Loại vụ/việc: Kinh doanh thương mại
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BIÊN HÒA, TỈNH ĐỒNG NAI
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: T/C HĐ mua bán hàng hóa
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger