|
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HỒNG NGỰ TỈNH ĐỒNG THÁP |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
Bản án số: 30/2025/HS-ST
Ngày 22-5-2025
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HỒNG NGỰ,TỈNH ĐỒNG THÁP
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Trương Huỳnh Anh.
Các Hội thẩm nhân dân:
- 1. Ông Phạm Thiện Bửu;
- 2. Ông Trần Duy Hồ.
- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Tuyết Vân - Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Hồng Ngự, tỉnh Đồng Tháp.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Hồng Ngự, tỉnh Đồng Tháp tham gia phiên tòa: Ông Trần Lam Điền - Kiểm sát viên.
Trong ngày 22 tháng 5 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Hồng Ngự, tiến hành xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 19/2025/TLST-HS, ngày 15 tháng 4 năm 2025, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 24/2025/QĐXXST-HS, ngày 25 tháng 4 năm 2025, đối với bị cáo:
Phan Thanh L (Tên gọi khác: C), sinh ngày 06/5/1994, tại tỉnh Đồng Tháp; Nơi cư trú: khóm E, phường A, thành phố H, tỉnh Đồng Tháp; Nghề nghiệp: Làm thuê; Trình độ học vấn: 5/12; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Giới tính: Nam; Con ông Phan Minh T (chết) và bà Trần Thị S (chết); Vợ: Bị cáo khai tại phiên tòa có vợ tên là Phạm Thị Phượng M và đã ly hôn; Con: Chưa có; Anh, chị em ruột: Có 02 người, bị cáo là con lớn nhất trong gia đình; Tiền sự: Không; Tiền án: Không. Tạm giữ: từ ngày 08/01/2025 đến ngày 16/01/2025; Tạm giam: Không. Hiện bị cáo đang bị áp dụng biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú và tạm hoãn xuất nhập cảnh (Bị cáo có mặt tại phiên tòa).
- Bị hại: Ông Huỳnh Thanh N (L1), sinh năm 1975 (Xin vắng mặt tại phiên tòa). Nơi cư trú: khóm C, phường A, thành phố H, tỉnh Đồng Tháp.
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
- Anh Trần Duy P, sinh năm 1994 – Chủ hộ kinh doanh Trần Duy P. Nơi cư trú: khóm S, phường A, thành phố H, tỉnh Đồng Tháp (Xin vắng mặt tại phiên tòa).
- Ông Ngô Văn S1, sinh năm 1976 (Vắng mặt tại phiên tòa); Nơi cư trú: ấp P, xã P, huyện H, tỉnh Đồng Tháp.
- Anh Đoàn Văn H, sinh năm 2000 (Xin vắng mặt tại phiên tòa). Nơi cư trú: ấp B, xã B, thành phố H, tỉnh Đồng Tháp.
- Người làm chứng:
- Ông Đoàn Thanh H1, sinh năm 1974 (Vắng mặt tại phiên tòa); Nơi cư trú: khóm E, phường A, thành phố H, tỉnh Đồng Tháp.
- Ông Lê Hải L2 (Q), sinh năm 1976 (Vắng mặt tại phiên tòa); Nơi cư trú: khóm A, phường A, thành phố H, tỉnh Đồng Tháp.
- Ông Trần Thanh H2, sinh năm 1976 (Vắng mặt tại phiên tòa); Nơi cư trú: ấp A, xã A, huyện T, tỉnh Đồng Tháp.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Vào khoảng 18 giờ 00 phút ngày 19/10/2024, ông Huỳnh Thanh N điều khiển xe mô tô hiệu Honda, loại FUTURE màu đỏ-đen, biển số 66H1-445.59 đến nhà ông Đoàn Thanh H1 tại khóm E, phường A, thành phố H, tỉnh Đồng Tháp để tổ chức uống rượu bia, ông N đỗ (đậu) xe trước cửa nhà ông H1, đối diện nhà của bị cáo Phan Thanh L. Đến khoảng 19 giờ cùng ngày, khu vực bị cúp điện, bị cáo đi bộ ngang nhà ông H1 nhìn thấy xe mô tô của ông N còn gắn chìa khóa trên ổ khóa xe, không ai trông coi nên L nảy sinh ý định trộm xe đem cầm cố lấy tiền tiêu xài. Tiếp đó bị cáo đi bộ đến đứng gần xe mô tô của ông N, quan sát thấy những người ở trong nhà không ai chú ý nên bị cáo dắt trộm xe về nhà của mình. Sau khi lấy được xe, chờ một lúc sau, không thấy ai truy hô bị mất trộm, bị cáo điều khiển xe mô tô của ông N đi đến đoạn đường vắng, tháo biển số xe vứt bỏ, rồi chạy xe đến cửa hàng cầm đồ Duy P, địa chỉ: khóm S, phường A, thành phố H, tỉnh Đồng Tháp do Trần Duy P làm chủ, để cầm cố xe vay số tiền 2.000.000 đồng. Sau đó bị cáo dùng điện thoại di động gọi cho Đoàn Văn H chạy xe mô tô đến rước bị cáo về nhà. Khoảng bảy ngày sau bị cáo tiếp tục đến cửa hàng cầm đồ Duy P vay thêm 10.000.000 đồng cũng từ việc cầm cố chiếc xe trộm được nêu trên, rồi dùng tiền tiêu xài cá nhân hết.
Đến ngày 08/01/2025, ông Huỳnh Thanh N được ông Ngô Văn S1 cho biết xe mô tô biển số 66H1-445.59 của ông N bị mất trộm đang ở tại cửa hàng cầm đồ Duy P nên ông N cùng ông S1 đến cửa hàng, xác nhận đúng xe mô tô bị mất trộm, ông N trình báo cho Công an phường A, thành phố H tiếp nhận kiểm tra, xác minh. Xác định có dấu hiệu tội phạm, Công an phường A chuyển nguồn tin đến Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố H thụ lý, giải quyết theo thẩm quyền.
- Tại Bản kết luận định giá tài sản số 02/KL-HĐĐG ngày 10/01/2025 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự, UBND thành phố H kết luận:
- + Giá trị 01 (một) xe mô tô không có biển kiểm soát, nhãn hiệu Honda, loại Future, màu đỏ-đen, số máy JC90E0189071, số khung: RLHJC7651MY069908, đã qua sử dụng là 29.000.000 đồng (Hai mươi chín triệu đồng).
- + Giá trị 01 (một) biển kiểm soát 66H1-445.59 (không thu hồi được) 20.000 đồng (Hai mươi ngàn đồng).
- Vật chứng thu giữ và xử lý: 01 (một) xe mô tô không có biển kiểm soát, nhãn hiệu HONDA, loại FUTURE, màu đỏ đen, số máy JC90E0189071, số khung: RLHJC7651MY069908, đã qua sử dụng. Xe mô tô thuộc sở hữu của bị hại Huỳnh Thanh N. Xét thấy bị hại có yêu cầu nhận lại tài sản, đồng thời việc trả lại tài sản không làm ảnh hưởng đến việc điều tra, truy tố, xét xử nên Cơ quan Cảnh sát điều tra đã xử lý vật chứng, trả lại tài sản cho bị hại.
- Về trách nhiệm dân sự:
- + Bị hại Huỳnh Thanh N đã nhận lại xe và số tiền 50.000 đồng chi phí làm lại biển số xe từ bị cáo L, không có yêu cầu gì thêm. Đối với số tiền 2.000.000 đồng đã đưa cho ông Ngô Văn S1 thì cũng không yêu cầu giải quyết gì.
- + Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan anh Trần Duy P yêu cầu bị cáo L trả lại số tiền 12.000.000 đồng đã đưa cho bị cáo để cầm cố xe, không có yêu cầu gì thêm. Bị cáo thống nhất số tiền nhưng chưa có tiền để trả lại.
Quá trình điều tra bị cáo Phan Thanh L đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội mà mình đã thực hiện. Lời nhận tội của bị cáo phù hợp với lời khai của bị hại, các tài liệu và chứng cứ thu thập có trong hồ sơ vụ án.
Tại bản cáo trạng số: 23/CT-VKSTPHN, ngày 15 tháng 4 năm 2025 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Hồng Ngự, tỉnh Đồng Tháp truy tố bị cáo Phan Thanh L về tội “Trộm cắp tài sản" theo khoản 1 Điều 173 của Bộ luật Hình sự. Về trách nhiệm dân sự buộc bị cáo Phan Thanh L có nghĩa vụ trả lại cho anh Trần Duy P số tiền 12.000.000 đồng. Về xử lý vật chứng đã xử lý xong.
Tại phiên toà, Kiểm sát viên đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Hồng Ngự thực hành quyền công tố khẳng định hành vi của bị cáo Phan Thanh L đã đủ yếu tố cấu thành tội “Trộm cắp tài sản” theo quy định tại khoản 1 Điều 173 của Bộ luật Hình sự. Do đó, Viện kiểm sát giữ nguyên quyết định truy tố bị cáo về tội “Trộm cắp tài sản”. Đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng khoản 1 Điều 173, điểm b, i, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51, Điều 38 của Bộ luật Hình sự, xử phạt bị cáo từ 09 (chín) đến 12 (mười hai) tháng tù. Về trách nhiệm dân sự và xử lý vật chứng như Cao trạng đã truy tố.
Tại phiên tòa, bị cáo Phan Thanh L đã thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình theo cáo trạng truy tố của Viện kiểm sát, thống nhất với nội dung luận tội của Kiểm sát viên, thống nhất bồi thường cho anh Trần Duy P số tiền là 12.000.000đ và xin Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về tố tụng: Hành vi và các quyết định tố tụng của Cơ quan Cảnh sát điều tra, Điều tra viên, Viện kiểm sát, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo và những người tham gia tố tụng khác không có ý kiến hoặc khiếu nại về các hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
[2] Về hành vi phạm tội của bị cáo: Bị cáo Phan Thanh L là người có đủ năng lực trách nhiệm hình sự, nhận thức được hành vi của mình là nguy hiểm cho xã hội, nhưng vì muốn có tiền tiêu xài thỏa mãn nhu cầu của bản thân, bị cáo đã lợi dụng tình hình đêm tối, khi không ai cảnh giác, nên đã lén lút lấy trộm tài sản của ông Huỳnh Thanh N với mục đích tiêu xài cá nhân. Tài sản mà bị cáo lén lút trộm chiếm đoạt của bị hại là 01 (một) xe mô tô giá trị là 29.000.000 đồng (Hai mươi chín triệu đồng) và biển kiểm soát xe mô tô này giá trị là 20.000 đồng (Hai mươi ngàn đồng), tổng giá trị tài sản bị cáo trộm là 29.020.000đ. Sau khi lấy trộm tài sản trên bị cáo đã cầm cố lấy tiền sử dụng vào mục đích cá nhân của mình. Hành vi phạm tội của bị cáo đã hoàn thành.
Như vậy đã có đủ căn cứ để kết luận hành vi của bị cáo Phan Thanh L đã phạm tội: "Trộm cắp tài sản" theo quy định tại khoản 1 Điều 173 của Bộ luật Hình sự như cáo trạng truy tố của Viện kiểm sát.
Điều 173. Tội trộm cắp tài sản:
“1. Người nào trộm cắp tài sản của người khác trị giá từ 2.000.000 đồng đến dưới 50.000.000 đồng hoặc dưới 2.000.000 đồng nhưng thuộc trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc phạt tù từ 06 tháng đến 03 năm ....”
[3] Xét về tính chất, mức độ, hậu quả do hành vi phạm tội của bị cáo, Hội đồng xét xử xét thấy: Hành vi phạm tội của bị cáo thể hiện sự bất chấp xem thường pháp luật. Tội phạm mà bị cáo gây ra đã xâm hại đến quyền sở hữu tài sản của người khác mặt khác còn làm ảnh hưởng đến tình hình trật tự trị an ở địa phương.
[4] Về nhân thân của bị cáo: Trước khi thực hiện hành vi phạm tội thì bị cáo không có tiền án, tiền sự.
[5] Về tình tiết giảm nhẹ, tăng nặng trách nhiệm hình sự:
Tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Bị cáo được hưởng phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng, thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, tự nguyện bồi thường thiệt hại và có ông, bà nội là người có công với cách mạng cho đất nước được quy định tại điểm b, i, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự.
Tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Không.
[6] Khi quyết định hình phạt, căn cứ vào tính chất, mức độ, hậu quả do hành vi phạm tội của bị cáo gây ra, các tình tiết giảm nhẹ và nhân thân của bị cáo như phân tích ở trên. Nhận thấy, hiện nay tình hình trộm cắp trên cả nước nói chung và trên địa bàn thành phố H nói riêng xảy ra ngày càng nhiều với thủ đoạn hết sức tinh vi. Nhằm để ổn định trật tự trị an ở địa phương, góp phần vào công cuộc phòng, chống và ngăn ngừa tội phạm, Hội đồng xét xử xét thấy phải xử phạt bị cáo một mức hình phạt nghiêm khắc, cách ly bị cáo ra khỏi đời sống cộng đồng một thời gian nhất định, để có đủ điều kiện cải tạo, giáo dục cho bị cáo thấy được lỗi lầm của mình, phấn đấu trở thành con người tốt có ích cho gia đình và xã hội. Có như thế mới thể hiện tính nghiêm minh của pháp luật, đồng thời cũng nhằm răn đe, giáo dục và phòng ngừa chung cho những ai có ý định phạm tội như bị cáo.
[7] Về hình phạt bổ sung: Tại khoản 5 Điều 173 Bộ luật Hình sự có quy định: “5. Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 5.000.000 đồng đến 500.000.000 đồng”. Tuy nhiên, xét thấy hiện nay bị cáo đang làm thuê, thu nhập không ổn định nên Hội đồng xét xử không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.
[8] Các tình tiết khác của nội dung vụ án:
Đối với ông Ngô Văn S1 có mối quan hệ họ hàng với bị cáo (bị cáo gọi ông S1 là chú). Sau khi trộm xe mô tô của ông N, bị cáo đem đi cầm cố tại cửa hàng D một khoảng thời gian, bị cáo khai có nói cho ông S1 biết về việc trộm xe, ông S1 chỉ thừa nhận nghe người khác nói bị cáo lấy xe, nghe anh H nói xe cầm ở cửa hàng D, phường A (không rõ địa chỉ cụ thể). Sau đó ông S1 liên hệ với ông H1 gặp ông N hỏi nếu tìm được xe thì ông N cho bao nhiêu tiền, ông N hứa nếu tìm được xe sẽ đưa cho ông S1 9.000.000 đồng, đồng thời đưa trước cho ông S1 2.000.000 đồng. Tiếp đó ông S1 tìm kiếm và chỉ ông N đến cửa hàng D, ông N thấy xe nên trình báo Cơ quan Công an. Qua điều tra, xét thấy ông Ngô Văn S1 biết được bị cáo là người đã thực hiện hành vi trộm cắp tài sản của ông N đem đi cầm cố tại cửa hàng “D“, nhưng ông S1 không tố giác với cơ quan chức năng, mà chủ động đi tìm bị hại cung cấp thông tin để được ông N cho tiền tiêu xài. Do bị cáo phạm tội” Trộm cắp tài sản” quy định tại khoản 1 Điều 173 Bộ luật Hình sự. Đồng thời, việc cho tiền của ông N là hoàn toàn tự nguyện và nay ông N cũng không yêu cầu giải quyết gì đối với số tiền 2.000.000₫ đã cho ông S1 này. Nên Viện kiểm sát không truy cứu trách nhiệm hình sự đối với hành vi của ông Ngô Văn S1 vì chưa đủ yếu tố cấu thành tội Không tố giác tội phạm và tội Cưỡng đoạt tài sản theo quy định tại Điều 390 và Điều 170 Bộ luật Hình sự, nên Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết.
Đối với anh Trần Duy P là chủ hộ kinh doanh Trần Duy P nhận cầm cố xe môtô do bị cáo trộm được mà có. Qua điều tra, anh P có mối quan hệ quen biết với bị cáo từ lâu, bị cáo cũng nhiều lần cầm xe môtô Dream (của bị cáo) và chuộc xe từ anh P, nên lần này bị cáo đến cầm cố xe anh P hỏi giấy đăng ký xe đâu, bị cáo nói để ở nhà rồi nên anh P tin tưởng nhận cầm cố, không biết xe do trộm được mà có. Nên Viện kiểm sát không truy cứu trách nhiệm hình sự đối với anh P về hành vi tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có quy định tại Điều 323 Bộ luật Hình sự. Cơ quan Cảnh sát điều tra đã đề nghị xử phạt vi phạm hành chính đối với anh P về hành vi nhận cầm cố tài sản không đúng quy định, nên Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết.
Đối với anh Đoàn Văn H điều khiển xe mô tô chở bị cáo về nhà sau khi bị cáo cầm cố xe do trộm được mà có. Qua điều tra, anh H chỉ biết bị cáo đi cầm cố xe, không biết bị cáo trộm xe của ông N, không thừa nhận kể cho ông S1 nghe về việc bị cáo cầm cố xe, đồng thời không nhận lợi ích gì từ bị cáo khi trộm xe. Nên Viện kiểm sát không truy cứu trách nhiệm hình sự đối với anh H với vai trò đồng phạm tội Trộm cắp tài sản, nên Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết.
[9] Về trách nhiệm dân sự: Anh Trần Duy P – Chủ hộ kinh doanh Trần Duy P yêu cầu bị cáo phải trả lại số tiền 12.000.000đ mà bị cáo cầm cố xe trộm được cho mình, ngoài ra không yêu cầu gì khác. Hội đồng xét xử xét thấy yêu cầu của anh Trần Duy P là phù hợp với quy định pháp luật nên được chấp nhận, buộc bị cáo phải trả cho anh Trần Duy P số tiền là 12.000.000 đồng.
Bị hại ông Huỳnh Thanh N đã nhận được 50.000đ từ bị cáo bồi thường đối với chi phí làm biển kiểm soát chiếc xe mô tô mất trộm, bị hại không yêu cầu bị cáo bồi thường gì thêm. Bị hại cũng không yêu cầu giải quyết gì đối với số tiền 2.000.000₫ mà bị hại đã đã đưa cho ông Ngô Văn S1, nên Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết.
[10] Về vật chứng và tài sản thu giữ được của vụ án: 01 (một) xe mô tô không có biển kiểm soát, nhãn hiệu HONDA, loại FUTURE, màu đỏ đen, số máy JC90E0189071, số khung: RLHJC7651MY069908, đã qua sử dụng. Xe mô tô thuộc sở hữu của bị hại Huỳnh Thanh N. Xét thấy bị hại có yêu cầu nhận lại tài sản, đồng thời việc trả lại tài sản không làm ảnh hưởng đến việc điều tra, truy tố, xét xử nên Cơ quan Cảnh sát điều tra đã xử lý vật chứng, trả lại tài sản cho bị hại là phù hợp, nên Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết.
[11] Về án phí sơ thẩm: Căn cứ Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự và điểm a, c khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án thì bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm là 200.000đồng và án phí dân sự sơ thẩm là 600.000đ.
[12] Từ các phân tích nêu trên, Hội đồng xét xử nhận thấy nội dung luận tội của Kiểm sát viên là có căn cứ và phù hợp với pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
- - Căn cứ khoản 1 Điều 173, điểm b, i, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51, Điều 38 của Bộ luật Hình sự.
Tuyên bố: Bị cáo Phan Thanh L phạm tội “Trộm cắp tài sản”.
Xử phạt bị cáo Phan Thanh L 12 (Mười hai) tháng tù. Thời hạn tù được tính từ ngày bị cáo chấp hành hình phạt tù và được trừ đi các ngày mà bị cáo đã bị tạm giữ (từ ngày 08/01/2025 đến ngày 16/01/2025).
- Về trách nhiệm dân sự: Căn cứ Điều 48 của Bộ luật Hình sự, các Điều 357, 468, 584, 585 và 590 Bộ luật Dân sự. Buộc bị cáo Phan Thanh L phải trả cho anh Trần Duy P – Chủ hộ kinh doanh Trần Duy P số tiền là 12.000.000đ (Mười hai triệu đồng).
Kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án (đối với các khoản tiền phải trả cho người được thi hành án) cho đến khi thi hành án xong, bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại Điều 357, khoản 2 Điều 468 của Bộ luật dân sự năm 2015.
- Về án phí sơ thẩm: Căn cứ Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự và điểm a, c khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Buộc bị cáo Phan Thanh L phải chịu án phí hình sự sơ thẩm là 200.000đồng và án phí dân sự sơ thẩm là 600.000đ, tổng cộng là 800.000đ (Tám trăm nghìn đồng).
- Về quyền kháng cáo: Bị cáo có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Đối với bị hại và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận bản án hoặc ngày bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật.
Trong trường hợp bản án, quyêt định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN- CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Trương Huỳnh Anh |
Bản án số 30/2025/HS-ST ngày 22/05/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HỒNG NGỰ, TỈNH ĐỒNG THÁP về trộm cắp tài sản (hình sự sơ thẩm)
- Số bản án: 30/2025/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Trộm cắp tài sản (Hình sự sơ thẩm)
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 22/05/2025
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HỒNG NGỰ, TỈNH ĐỒNG THÁP
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Bị cáo Long trộm xe
