TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN LÂM HÀ TỈNH LÂM ĐỒNG | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc |
Bản án số: 30/2025/HS - ST Ngày: 20/3/2025 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN LÂM HÀ, TỈNH LÂM ĐỒNG
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Phạm Thị Thúy
Các Hội thẩm nhân dân: + Bà Ngô Thị Luân
+ Bà Trần Thị Thanh Vân
- Thư ký phiên toà: bà Nguyễn Thị Phương – là Thư ký Toà án nhân dân huyện Lâm Hà.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Lâm Hà tham gia phiên tòa: bà Trần Duy Hoàng Thao - Kiểm sát viên.
Ngày 20 tháng 3 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Lâm Hà, tỉnh Lâm Đồng xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 17/2025/TLST-HS ngày 07 tháng 02 năm 2025 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 19/2025/QĐXXST-HS ngày 20 tháng 02 năm 2025 và Quyết định hoãn phiên tòa số 05/2025/HSST- QĐ ngày 06 tháng 3 năm 2025 đối với bị cáo:
Họ và tên: Đinh Ngọc H, tên gọi khác: Đinh Văn H1, sinh năm 1998, tại Lâm Đồng; Nơi ĐKHKTT và nơi cư trú: thôn T, xã T, huyện L, tỉnh Lâm Đồng; nghề nghiệp: làm nông; trình độ văn hoá: 6/12; dân tộc: Kinh; giới tính: nam; tôn giáo: không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Đinh Văn L và bà Triệu Bích X; tiền án, tiền sự: không; Nhân thân: Ngày 09/4/2013, bị UBND huyện L, tỉnh Lâm Đồng đưa vào Trường G thời hạn 24 tháng theo Quyết định số 900/QĐ-UB. Ra trường ngày 28/01/2014 theo quyết định số 74 ngày 28/01/2014 của Hiệu trưởng Trường G; Ngày 27/02/2024, bị Công an huyện L xử phạt vi phạm hành chính số tiền 6.500.000đồng về hành vi Cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác nhưng không bị truy cứu trách nhiệm hình sự; bị cáo bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 14/8/2024 hiện đang bị tạm giam tại phân trại L thuộc trại tạm giam Công an tỉnh L; bị cáo có mặt tại phiên tòa.
Bị hại: Bà Ngô Thị L1, sinh năm 1969. Địa chỉ: thôn A, xã T, huyện L, tỉnh Lâm Đồng. Có mặt
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
+ Ông Nguyễn Bá H2, sinh năm 1966. Địa chỉ: thôn A, xã T, huyện L, tỉnh Lâm Đồng. Có mặt
+ Anh Bế Văn H3, sinh năm 1990. Địa chỉ: thôn A, xã T, huyện L, tỉnh Lâm Đồng. Có mặt
+ Chị Mao Thị Thùy U, sinh năm 2001. Địa chỉ: thôn T, xã T, huyện L, tỉnh Lâm Đồng. Vắng mặt
+ Anh Lê Tấn Đ, sinh năm 1994. Địa chỉ: thôn T, xã T, huyện L, tỉnh Lâm Đồng. Vắng mặt
+ Bà Trần Thị B, sinh năm 1983. Địa chỉ: thôn T, xã T, huyện L, tỉnh Lâm Đồng. Văng mặt
Người làm chứng:
Anh Quàng Thanh T, sinh năm 1998. Địa chỉ: thôn T, xã T, huyện L, tỉnh Lâm Đồng. Văng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Vụ Trộm cắp tài sản:
Vào khoảng 17h00' ngày 08/7/2020, vợ chồng bà Ngô Thị L1, cùng chồng là ông Đinh Văn H4 đi từ nhà đến bãi thiếc thuộc thôn A, xã T (cách nhà khoảng 06km) để làm vườn, lúc này ở nhà bà L1 có cháu họ của bà L1 là H1, đang ở nhờ. Do đã ở nhờ nhà bà L1 được một thời gian nên Đinh Ngọc H biết nhà bà L1 có 01 chiếc máy cưa nhãn hiệu STIHL, số loại MS 381, màu cam – trắng – đen, không có lam cưa đang để trong phòng ngủ của bà L1 mà cửa phòng bị hỏng không khóa nên H đã nảy sinh ý định lấy trộm chiếc máy cưa này đem bán lấy tiền tiêu xài cá nhân. Đến khoảng 09 giờ ngày 09/8/2020, Đinh Ngọc H gọi điện thoại cho Bế Văn H3, nhờ H3 tìm người mua máy cưa giúp, thì H3 đồng ý. Do trước đó Bế Văn H3 có nghe ông Nguyễn Bá H2 nói cần mua máy cưa nên H3 gọi điện cho ông H2, thì ông H2 nói đem máy cưa đến xem rồi mua, H3 nói lại với H thì H nhờ H3 đem máy cưa đến nhà ông H2 giúp vì Hoàng bận việc nên sẽ đến sau, thì H3 đồng ý. Sau khi nhờ được H3, H vào phòng ngủ của bà Ngô Thị L1 lấy chiếc máy cưa để ở góc cửa ra vào của phòng ngủ vác đi ra phía sau nhà bà L1 rồi đi theo đường đất ra ngả ba cách nhà bà L1 khoảng 200m đợi Huynh đến lấy máy cưa. Một lúc sau H3 điều khiển xe mô tô đến, thì H đặt máy cưa lên xe cho H3 để chở đến nhà ông H2, ông H2 sau khi xem máy cưa thì đồng ý mua, lúc này H3 nói ông H2 đợi H đến báo giá và trả tiền cho H. Khoảng 30 phút sau, Đinh Ngọc H đi taxi đến nhà ông H2, tại đây ông H2 và H thỏa thuận giá bán chiếc máy cưa là 2.500.000đồng, tuy nhiên ông H2 chỉ còn số tiền 2.000.000đồng nên đưa trước cho H, còn 500.000đồng thì H nói ông H2 khi nào có thì đưa cho H3, rồi H lên xe taxi rời khỏi nhà ông H2, sau đó đi khỏi địa phương. Đến chiều cùng ngày ông H2 đưa số tiền 500.000đồng còn lại cho H3 để trả cho H, thì H3 gọi điện báo cho H biết, tuy nhiên sau đó H3 không gặp lại H, đến khi sự việc bị phát hiện thì H3 giao nộp lại số tiền 500.000đồng cho Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện L.
Ngày 21/7/2020, Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự huyện L kết luận về việc định giá tài sản trong tố tụng hình sự số 79/HĐĐG: 01 máy cưa xích chạy bằng xăng nhãn hiệu STIHL, số loại MS-381, màu cam trắng - đen, không có lam và xích, mua mới tháng 6/2019, tỷ lệ chất lượng còn lại 80%; tổng giá trị tài sản định giá là 2.560.000 đồng.
Vật chứng thu giữ: 01 chiếc máy cưa nhãn hiệu STIHL, số loại MS 381, màu cam trắng – đen, không có lam cưa; Số tiền 500.000 (Năm trăm ngàn) đồng.
Vụ Mua bán trái phép chất ma túy:
Vào ngày 29/01/2024, H đang ở nhà tại thôn T, xã T, huyện L, tỉnh Lâm Đồng thì Mao Thị Thùy U gọi điện thoại cho H5 hỏi mua “một hộp năm" ma túy "đã", H đồng ý và nói để liên hệ lại bảo giá sau. Sau đó H5 liên hệ với một người tên “D" (không rõ nhân thân, lại lịch) hỏi mua “một hộp năm" ma túy “đã” với giá 4.000.000đồng, rồi H gọi điện thoại cho U nói giá ma túy là 4.500.000 đồng, thì được U đồng ý nói cho thứ trước mới thanh toán tiền, H đồng ý và hẹn gặp ở nhà H. Hoàng liên H6 với “D” rồi điều khiển xe mô tô hiệu Yamaha, loại Exciter màu xanh xám mượn của bạn trước đó (H không nhớ rõ biển số xe) đến chỗ hẹn tại ngã ba đường đất giáp với đường Đ mua ma túy của “D”. Trên đường về đến gần khu vực cổng trường học Lê Văn T1 thuộc xã T, huyện L, tỉnh Lâm Đồng, H gặp Quàng Thanh T (Cò), điều khiển xe mô tô loại Suzuki chở Mao Thị Thùy U, H nhận ra U là người gọi điện hỏi mua ma túy nên điều khiển xe dẫn T và U về nhà của mình. Khi đến nhà, H dẫn U vào phòng ngủ của mình, còn T đứng bên ngoài nhà đợi. H lấy bộ dụng cụ sử dụng ma túy tự chế là một chai nhựa có gắn ống hút nhựa và cóng thủy tỉnh để trên nệm rồi lấy một kéo kim loại cắt gói nylon bên trong có chứa ma túy “đá” và dùng ống hút nhựa được cắt vát một đầu xúc một ít ma túy đổ váo cóng thủy tinh, H lấy quẹt lửa đốt ma túy tạo thành khỏi đưa cho U sử dụng, rồi H đi ra ngoài gọi T vào đưa cho T sử dụng, sau khi sử dụng ma túy thì T đi ra ngoài đợi U. U sử dụng xong thì đồng ý mua và nói chuyển khoản trả tiền vì U không có tiến mặt, do H không có số tài khoản ngân hàng nên H gọi điện cho anh Lê Tấn Đ có cửa hàng mua bán điện thoại và làm dịch vụ nhận và chuyển tiền mà H quen biết hỏi mượn tài khoản ngân hàng để U chuyển tiền vào, anh Đ không biết số tiền chuyển vào tài khoản là tiền mua ma túy nên đồng ý và gửi số tài khoản của mình cho H, H đưa số tài khoản 6360166666789 của Ngân hàng M đứng tên chủ tài khoản là Lê Tấn Đ cho U, U sử dụng tài khoản số 96467686 của Ngân hàng M đứng tên chủ tài khoản là Trần Thị B chuyển số tiền mua ma túy là 4.000.000đồng, U xin nợ lại 500.000đồng thì được H đồng ý và sau khi H xác nhận với anh Đ số tiền nhận được, H đưa cho U một gói nylon chứa ma túy mà H vừa lấy cho U sử dụng, U nhận gói ma túy thì cất giấu trong vỏ bao thuốc lá cầm trên tay đi ra ngoài gặp T rồi cả hai điều khiển xe đi về. Trên đường về, U lấy gói ma túy cất giấu vào trong áo ngực bên trái rồi vứt bỏ bao thuốc lá, U nói T chở đến nhà nghỉ C thuộc xã T, huyện L, tỉnh Lâm Đồng thì xuống xe, còn T điều khiển xe về nhà. Trong khi Mao Thị Thùy U đứng trước cổng nhà nghỉ C tìm nơi sử dụng ma túy thì bị lực lượng Công an phát hiện bắt quả tang hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy, thu giữ một gói nylon bên trong chứa chất ma túy vừa mua được của Đinh Ngọc H. Đối với Đinh Ngọc H sau khi nghe tin Mao
Thị Thùy U bị bắt đã bỏ trốn khỏi địa phương mang theo bộ dụng cụ sử dụng ma túy, kéo kim loại, sau đó vút trên đường chạy trốn, không xác định được vị trí. Ngày 14/8/2024, H ra đầu thú và khai nhận hành vi phạm tội.
Tang vật vụ án thu giữ: Đối với một gói nylon bên trong chứa chất ma túy thu giữ của Mao Thị Thủy U1 được Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện L ra quyết định trưng cầu giám định trong vụ án tàng trữ trái phép chất ma túy khởi tố ngày 06/02/2024 và đã được giải quyết theo Bản án số 102/2024/HS-ST ngày 03/7/2024 của Tòa án nhân dân huyện Lâm Hà.
Tại bản kết luận giám định số 199/KL-KTHS của Phòng K Công an tỉnh L ngày 02/02/2024: Mẫu tinh thể đựng trong gói nylon được niêm phong gửi giám định là ma túy, có khối lượng 2,9745g (Hai phẩy chín bẩy bốn năm gam), loại Methamphetamine. Methamphetamine là chất ma túy nằm trong danh mục IIC, STT: 247, Nghị định 57/2022/NĐ-CP ngày 25/8/2022 của Chính phủ.
Tại bản cáo trạng số 23/CT-VKSLH ngày 06/02/2025 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Lâm Hà, tỉnh Lâm Đồng đã truy tố ra trước Tòa án nhân dân huyện Lâm Hà để xét xử bị can Đinh Ngọc H về tội: “Trộm cắp tài sản” và “Mua bán trái phép chất ma túy” theo quy định tại khoản 1 Điều 173 và khoản 1 Điều 251 của Bộ luật Hình sự.
Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Lâm Hà thực hành quyền công tố luận tội vẫn giữ nguyên quyết định truy tố bị cáo Đinh Ngọc H về tội: “Trộm cắp tài sản” và “Mua bán trái phép chất ma túy” theo quy định tại khoản 1 Điều 173 và khoản 1 Điều 251 của Bộ luật Hình sự.
Về trách nhiệm hình sự, đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng khoản 1 Điều 173, điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 38 của Bộ luật Hình sự xử phạt bị cáo Đinh Ngọc H từ 06 đến 09 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản” áp dụng khoản 1 Điều 251, điểm s khoản 1 Điều 51, Điều 38 của Bộ luật Hình sự đề nghị xử phạt bị cáo Đinh Ngọc H từ 30 đến 36 tháng tù về tội “Mua bán trái phép chất ma túy”. Tổng hợp hình phạt buộc bị cáo phải chấp hành hình phạt chung cho cả hai tội từ 36 đến 45 tháng tù
Về xử lý vật chứng đề nghị giải quyết theo quy định của pháp luật; Về án phí buộc bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định.
Bị cáo xác định quá trình điều tra bị cáo không bị ép cung, dùng nhục hình và lời khai của bị cáo tại cơ quan điều tra là đúng với diễn biến sự việc xảy ra. Bị cáo đồng ý với cáo trạng truy tố và không có ý kiến thắc mắc, khiếu nại gì.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1]. Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra công an huyện L, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện L, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự thủ tục theo quy định của Bộ luật tố tụng Hình sự. Quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa các bị cáo không có ý kiến gì và không khiếu nại về hành vi, quyết định tố tụng của các cơ quan tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của các cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
[2]. Về hành vi phạm tội của bị cáo và tình tiết định khung hình phạt:
Tại phiên tòa, bị cáo khai nhận đã thực hiện hành vi mua bán trái phép chất ma túy và trộm cắp tài sản, cụ thể: vào ngày 29/01/2024, tại nhà ở của bị cáo tại thôn T, xã T, huyện L, tỉnh Lâm Đồng, bị cáo đã có hành vi bán trái phép chất ma túy, có khối lượng là 2,9745g (hai phẩy chín bẩy bốn năm gam), loại Methamphetamine cho Mao Thị Thùy U với giá 4.500.00đồng và đã nhận số tiền 4.000.000đồng. Trước đó vào ngày 09/7/2020, bị cáo đã thực hiện hành vi lén lút chiếm đoạt tài sản là một máy cưa xích chạy bằng xăng nhãn hiệu STIHL, số loại MS-381, màu cam trắng đen, không có lam và xích được định giá là 2.560.000đồng tại nhà của bị hại Ngô Thị L1 ở Thôn A, xã T, huyện L, tỉnh Lâm Đồng.
Lời khai nhận tội của bị cáo phù hợp với nội dung bản cáo trạng, lời khai của bị cáo tại cơ quan điều tra, bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan, tang vật thu giữ và những tài liệu chứng cứ khác được phản ánh trong hồ sơ vụ án. Như vậy, đã có đủ cơ sở để Hội đồng xét xử kết luận bị cáo Đinh Ngọc H phạm tội: “Trộm cắp tài sản” và “Mua bán trái phép chất ma túy” theo quy định tại khoản 1 Điều 173 và khoản 1 Điều 251 của Bộ luật Hình sự theo như cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân huyện Lâm Hà, tỉnh Lâm Đồng đã truy tố là có căn cứ, đúng người, đúng tội và đúng pháp luật.
[3]. Xét tính chất vụ án nghiêm trọng, hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội. Bị cáo là người đã trưởng thành, có đầy đủ nhận thức, do đó bị cáo biết rõ việc lợi dụng tài sản của người bị hại để sơ hở, không có sự cảnh giác để lén lút chiếm đoạt với mục đích đem đi bán để lấy tiền tiêu xài cá nhân là hành vi vi phạm pháp luật, xâm phạm đến quyền sở hữu về tài sản của người khác được pháp luật bảo vệ nhưng bị cáo vẫn cố ý thực hiện. Đồng thời, bị cáo biết hành vi mua bán trái phép chất ma túy là hành vi trái pháp luật, bị pháp luật nghiêm cấm nhưng bị cáo vẫn cố ý thực hiện. Hành vi phạm tội của bị cáo đã trực tiếp xâm phạm đến chính sách độc quyền quản lý của Nhà nước về chất ma túy, đồng thời còn tác động xấu đến tình hình trật tự trị an và an toàn xã hội tại địa phương. Bởi vì, ma túy là loại độc dược, gây ra nhiều tác hại đối với người sử dụng và còn là nguyên nhân gây ra nhiều căn bệnh truyền nhiễm nguy hiểm khác, đồng thời cũng là nguyên nhân làm phát sinh nhiều loại tội phạm khác trong xã hội. Chính vì vậy, Nhà nước ta nghiêm cấm mọi hành vi tàng trữ, vận chuyển, mua bán, sử dụng trái phép chất ma túy, về hình phạt đối với loại tội phạm này cũng rất nghiêm khắc. Tuy nhiên, để thỏa mãn nhu cầu sử dụng ma túy, các bị cáo đã không nghĩ đến tác hại của loại độc dược này đối với chính bản thân mình mà mua bán trái phép chất ma túy. Vì vậy, bị cáo phải chịu trách nhiệm hình sự tương xứng với hành vi mà bị cáo đã thực hiện.
[4]. Về tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với bị cáo: xét thấy bị cáo có nhân thân không tốt đã từng bị Ủy ban nhân dân huyện L đưa vào trường G và bị Công an huyện L xử phạt hành chính về hành vi Cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác nhưng bị cáo thực hiện hành vi phạm tội lần này không thuộc trường hợp áp dụng tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự theo quy định của Bộ luật Hình sự. Ngoài ra, sau khi phạm tội bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; sau khi phạm tội bị cáo đã bỏ trốn gây khó khăn cho công tác điều tra nhưng sau đó nhận thức được hành vi của mình nên đã ra đầu thú về hành vi mua bán trái phép chất ma túy và tài sản trộm cắp cũng đã được thu hồi trả lại cho bị hại và tại phiên tòa bị hại xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo đối với tội Trộm cắp tài sản nên được áp dụng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự.
[5]. Căn cứ vào tính chất, mức độ, hành vi phạm tội cũng như nhân thân của bị cáo, Hội đồng xét xử xét thấy để đảm bảo công tác đấu tranh phòng chống loại tội phạm này trên địa bàn huyện L, tỉnh Lâm Đồng đang có chiều hướng gia tăng, cần phải cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian để bị cáo có cơ hội cải tạo, rèn luyện trở thành người công dân tốt, biết tuân thủ pháp luật. Do đó cần chấp nhận quan điểm luận tội của đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Lâm Hà tại phiên tòa.
Bị cáo bị xét xử cùng một lần hai tội nên áp dụng khoản 1 Điều 55 của Bộ luật Hình sự để quyết định hình phạt đối với từng tội đang bị xét xử và tổng hợp hình phạt chung cho cả hai tội đối với bị cáo.
[6] Đối với người đàn ông tên “D” đã bán ma túy cho H hiện chưa xác định được nhân thân, lai lịch nên cơ quan cảnh sát điều tra Công an tỉnh L tiếp tục điều tra, xác minh làm rõ và xử lý sau.
Đối với hành vi của Mao Thị Thùy U và Quàng Thanh T đã bị Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện L khởi tố vụ án, khởi tố bị can về tội tàng trữ trái phép chất ma túy quy định tại Điều 249 Bộ luật Hình sự. Đến nay U và T đã bị Tòa án nhân dân huyện Lâm Hà xét xử theo Bản án số 102/2024/HS- ST ngày 03/7/2024, đến nay bản án đã có hiệu lực pháp luật thi hành nên Hội đồng xét xử không xem xét.
Đối với Lê Tấn Đ có hành vi cho bị cáo Đinh Ngọc H mượn tài khoản số 6360166666789 của Ngân hàng M1 để nhận số tiền 4.000.000 đồng, rồi sau đó đưa 4.000.000 đồng tiền mặt cho bị can H, tuy nhiên Đ không biết đó là tiền do phạm tội mà có nên Cơ quan điều tra không có căn cứ để xử lý. Do đó, Hội đồng xét xử không xem xét.
Đối với Trần Thị B là người đăng ký sử dụng tài khoản 96467686 của ngân hàng M1 nhưng bà B không trực tiếp quản lý, sử dụng tài khoản trên mà để cho Mao Thị Thùy U sử dụng, do đó bà B không biết việc U sử dụng tài khoản này chuyển tiền mua ma túy nên Cơ quan điều tra không có căn cứ để xử lý. Do đó, Hội đồng xét xử không xem xét.
Đối với hành vi của Bế Văn H3 hỏi bán máy cưa giúp bị cáo H và hành vi của Nguyễn Bá H2 mua máy cưa của bị cáo H, thì cả hai đều không biết máy cưa trên là do bị cáo H chiếm đoạt mà có nên Cơ quan điều tra không có căn cứ để xử lý. Do đó, Hội đồng xét xử không xem xét.
[7]. Về hình phạt bổ sung: Theo quy định tại khoản 5 Điều 173 và khoản 5 Điều 251 của Bộ luật Hình sự thì ngoài hình phạt chính ra, bị cáo còn có thể bị phạt tiền. Xét thấy, bị cáo là người nghiện ma túy không có thu nhập ổn định nên Hội đồng xét xử xét thấy không cần thiết phải áp dụng hình phạt bổ sung là hình phạt tiền đối với bị cáo.
[8] Về trách nhiệm dân sự: Đối với vụ việc trộm cắp tài sản, tại phiên tòa bị hại không có yêu cầu gì nên không xem xét.
[9]. Xử lý vật chứng:
Đối với các vật chứng thu giữ trong vụ trộm cắp tài sản gồm: 01 chiếc máy cưa nhãn hiệu STIHL, số loại MS 381, màu cam trắng – đen, không có lam cưa; Số tiền 500.000đồng thu giữ của H3. Quá trình điều tra cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện L đã xử lý vật chứng giao trả cho bị hại Ngô Thị L1 01 chiếc máy cưa nhãn hiệu STIHL, số loại MS 381, màu cam trắng - đen, không có lam cưa và trả cho Nguyễn Bá H2 số tiền 500.000 đồng. Tại phiên tòa ông H2, bà L1 không có yêu cầu gì thêm nên Hội đồng xét xử không xem xét.
Đối với các vật chứng thu giữ trong vụ Mua bán trái phép chất ma túy gồm: Một gói nylon bên trong chứa chất ma túy thu giữ của Mao Thị Thùy U được Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện L ra quyết định trưng cầu giám định trong vụ án tàng trữ trái phép chất ma túy khởi tố ngày 06/02/2024 và đã được giải quyết theo Bản án số 102/2024/HS-ST ngày 03/7/2024 của Tòa án nhân dân huyện Lâm Hà. Do đó, Hội đồng xét xử không xem xét trong vụ án này.
Đối với 01 điện thoại mà bị cáo Đình Ngọc H7 sử dụng liên lạc với Bế Văn H3 và Mao Thị Thùy U, bị cáo khai đã bị hư hỏng và thất lạc nên không thu hồi được, cơ quan điều tra cũng đã truy tìm nhưng không tìm được nên không xem xét. Đối với số tiền 4.000.000 đồng do bị cáo bán trái phép chất ma túy có được, bị cáo H7 đã sử dụng chỉ tiêu cá nhân hết nên buộc bị cáo phải nộp để sung ngân sách nhà nước.
[10]. Về án phí: Buộc bị cáo phải nộp án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ khoản 1 Điều 251 và khoản 1 Điều 173 Bộ luật Hình sự.
Tuyên bố bị cáo Đinh Ngọc H (Đinh Văn H1) phạm tội: “Trộm cắp tài sản” và “Mua bán trái phép chất ma túy”.
Áp dụng khoản 1 Điều 173, khoản 1 Điều 251, điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 38, Điều 55 của Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017.
Xử phạt: bị cáo Đinh Ngọc H (Đinh Văn H1) 06 (sáu) tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản” và 36 (ba mươi sáu) tháng tù về tội “Mua bán trái phép chất ma túy”. Tổng hợp hình phạt buộc bị cáo phải chấp hành hình phạt chung cho cả hai tội là 42 (bốn mươi hai) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày 14/8/2024.
Về xử lý vật chứng: Áp dụng Điều 47 của Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017 và Điều 106 của Bộ luật Tố tụng Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017.
Buộc bị cáo Đinh Ngọc H (Đinh Văn H1) phải nộp số tiền 4.000.000đồng (bốn triệu đồng) để sung ngân sách nhà nước.
Về án phí: Áp dụng khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng Hình sự năm 2015; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu nộp và quản lý án phí, lệ phí Tòa án, buộc bị cáo Đinh Ngọc H phải nộp 200.000đồng án phí hình sự sơ thẩm.
Bị cáo, bị hại có mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 (mười lăm) ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm (20/3/2025), riêng người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan văng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo liên quan đến quyền và lợi ích hợp pháp của mình trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc kể từ ngày bản án được niêm yết theo quy định để yêu cầu Toà án nhân dân tỉnh Lâm Đồng xét xử phúc thẩm.
Nơi nhận:
| TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Phạm Thị Thúy |
THÀNH VIÊN HỘI ĐỒNG XÉT XỬ | THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Phạm Thị Thúy |
Bản án số 30/2025/HS - ST ngày 20/03/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN LÂM HÀ, TỈNH LÂM ĐỒNG về trộm cắp tài sản và mua bán trái phép chất ma túy
- Số bản án: 30/2025/HS - ST
- Quan hệ pháp luật: Trộm cắp tài sản và Mua bán trái phép chất ma túy
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 20/03/2025
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN LÂM HÀ, TỈNH LÂM ĐỒNG
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Đinh Ngọc H phạm tội Mua bán trái phép chất ma túy và Trộm cắp tài sản
