TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH CÀ MAU Bản án số: 30/2025/HS-PT Ngày: 15-4-2025 | CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH CÀ MAU
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Nguyễn Trọng Quế
Các Thẩm phán: Ông Trịnh Xuân Miễn
Ông Huỳnh Văn Út
- Thư ký phiên toà: Ông Phạm Hải Sơn, là Thư ký Toà án nhân dân tỉnh Cà Mau
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Cà Mau tham gia phiên tòa: Bà Lê Kiều Diễm - Kiểm sát viên.
Ngày 15 tháng 4 năm 2025, tại trụ sở Toà án nhân dân tỉnh Cà Mau xét xử phúc thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 28/2025/TLPT-HS ngày 21 tháng 3 năm 2025 đối với bị cáo Tô Vủ H do có kháng cáo của bị cáo đối với Bản án hình sự sơ thẩm số 06/2025/HS-ST ngày 20 tháng 02 năm 2025 của Tòa án nhân dân huyện Đầm Dơi.
- Bị cáo có kháng cáo:
Tô Vủ H, sinh năm 1997 tại Cà Mau; nơi cư trú: Ấp B, xã T, huyện Đ, tỉnh Cà Mau; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ học vấn: 6/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Tô Văn K và bà Nguyễn Thị Đ; vợ tên Dương Tất Bích C và có 01 con; tiền án, tiền sự: Không; bị bắt tạm giữ ngày 16/7/2024; bị tạm giam từ ngày 19/7/2024 đến nay. Bị cáo có mặt.
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan (không được Tòa án triệu tập): Ông Nguyễn Văn M, bà Dương Tất Bích C, ông Nguyễn Nhựt D và ông Nguyễn Việt K1.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 18 giờ 30 phút ngày 12/7/2024, T gọi điện nhờ H mua dùm 800.000 đồng ma túy đá để T và L sử dụng thì H đồng ý. Đến khoảng 19 giờ, H đi xe grab đến hẻm N thuộc phường F, thành phố C gặp người tên Đ1 để mua 800.000 đồng ma túy đá. Sau đó, H đi về nhà nghỉ H1 thuộc khóm A, thị trấn Đ đưa gói ma túy cho T rồi quay trở về phòng trọ của H ở nhà trọ K2 thuộc khóm A, thị trấn Đ. Khoảng 20 giờ, B, K1, D và N đến phòng trọ của H. Tại đây, H mang dụng cụ sử dụng ma tuý gồm 01 chai coca lớn, 01 ống hút nhựa, 01 ống thuỷ tinh bên trong có sẵn chất ma tuý cho B, K1, D, N và H cùng sử dụng hết chất ma tuý.
Khoảng 01 giờ ngày 13/7/2024, H liên hệ qua zalo với Đ1 hỏi mua 1.000.000 đồng ma tuý đá nhưng khất nợ sẽ trả sau được Đ1 đồng ý. H mượn xe máy của K1 đi lấy ma túy, sau đó rủ D đi cùng. D điều khiển xe máy chở H đến hẻm N gặp Đ1 nhận ma tuý đá và H cất giấu ma tuý vào bên trong túi áo rồi chở D về nhà trọ K2. Khoảng 5 giờ, H đến nhà nghỉ H1 thuê phòng 212 cho B và N vào ở và khoảng 10 giờ thì H đem ma tuý và dụng cụ sử dụng đến cho N, B và H cùng nhau sử dụng. Lúc này có T từ phòng 201 đi sang phòng 212 nên H rủ T cùng sử dụng. Sử dụng được một lúc thì T trở về phòng 201 lấy gói ma túy đá sử dụng còn dư mà H mua giùm trước đó quay lại phòng 212 để cho T, N, B và H cùng tiếp tục sử dụng, L có qua phòng 212 nhưng L không tham gia. Sau đó, N lấy bộ dụng cụ và gói mua túy đã sử dụng hết vứt vào thùng rác, còn H quay trở về nhà trọ K. Khoảng 23 giờ, H tiếp tục đem ma tuý đá cùng dụng cụ đến phòng 207 nhà nghỉ Huỳnh N1 gặp N và B để cùng sử dụng. Sau đó, H để lại dụng cụ sử dụng ma túy rồi quay về nhà T.
Khoảng 00 giờ ngày 14/7/2024, H nhờ D và K1 đến Cà Mau để nhận ma tuý dùm. H đưa cho K1 số tiền 600.000 đồng, trong đó tiền đổ xăng, ăn uống là 200.000 đồng, tiền mua ma tuý là 400.000 đồng. Khi đến hẻm N thì K1 và D gặp Đ1 nhận 01 gói ma tuý đá rồi trả số tiền 400.000 đồng. Khoảng 03 giờ, cả hai về đến nhà T, D để ma tuý đá trên bàn, H lấy gói ma tuý đá cất giấu vào bên trong thẻ nhân viên của C là vợ của H. Khoảng 05 giờ, H đến phòng 207 nhà nghỉ H1 gặp N và B để lấy chìa khoá phòng 209 rồi đến Trạm Y tế xã T lấy phiếu chích ngừa cho con của H. Đến khoảng 8 giờ, T1 đến phòng 207 tìm N đòi tiền thì thấy bộ dụng cụ sử dụng ma túy mà H, N và B sử dụng trước đó có sẵn trên giường nên T1 lấy sử dụng. Lúc này H quay trở về phòng 207 gặp T1 nên H bỏ đi qua phòng 209. Tại phòng 209 H dùng kéo cắt gói nilon chứa ma tuý đá chiết thành 02 gói nilon dùng lửa hàn kín miệng rồi bỏ vào thẻ nhân viên của C. Đến 9 giờ 50 phút, Công an thị trấn Đ kiểm tra hành chính phòng 209, H mở cửa sổ ném bảng tên của C có chứa 02 gói nilon ra ngoài cửa sổ.
Tại bản thử nước tiểu, kết luận H, B, N, T, T1, D, K1 có sử dụng trái phép chất ma túy.
Tại kết luận giám định: 02 gói nilon chứa bột màu trắng khối lượng 1,3585 gam, loại Methamphemine; chất màu nâu bám dính trong quả cầu và ống thủy tinh là ma túy, loại Methamphemine.
Tại Bản án hình sự sơ thẩm số 06/2025/HS-ST ngày 20/02/2025, Tòa án nhân dân huyện Đầm Dơi đã quyết định: Căn cứ vào điểm a, b khoản 2 Điều 255; điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51, Điều 55 Bộ luật Hình sự, xử phạt bị cáo H 09 năm tù về tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy” và 02 năm tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”. Tổng hợp hình phạt, bị cáo phải chấp hành hình phạt chung của 02 tội là 11 năm tù. Ngoài ra, án sơ thẩm còn xử lý vật chứng, án phí, quyền kháng cáo theo luật định.
Ngày 05/3/2025 Tòa án nhân dân huyện Đầm Dơi nhận được đơn kháng cáo của bị cáo xin được giảm nhẹ hình phạt.
Tại phiên tòa phúc thẩm:
- Bị cáo vẫn giữ nguyên yêu cầu kháng cáo.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Cà Mau phát biểu: Đề nghị áp dụng điểm a khoản 1 Điều 355 và Điều 356 của Bộ luật Tố tụng hình sự, chấp nhận một phần kháng cáo của bị cáo, sửa Bản án hình sự sơ thẩm số 06/2025/HS-ST ngày 20/02/2025 của Tòa án nhân dân huyện Đầm Dơi về phần hình phạt.
- Lời nói sau cùng của bị cáo: Thừa nhận hành vi phạm tội, xin được giảm nhẹ hình phạt.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Tại phiên tòa phúc thẩm, bị cáo Tô Vủ H khai nhận hành vi phạm tội là phù hợp với các chứng cứ có trong hồ sơ. Cụ thể: Khoảng 20 giờ ngày 12/7/2024, bị cáo đã cung cấp ma túy cũng như công cụ sử dụng ma túy để tổ chức cho bị cáo cùng N, B, D và K1 sử dụng trái phép chất ma túy tại phòng trọ của bị cáo ở nhà T thuộc khóm A, thị trấn Đ, huyện Đ, tỉnh Cà Mau. Khoảng 10 giờ ngày 13/7/2024, H tiếp tục cung cấp ma túy, công cụ sử dụng ma túy để tổ chức cho bị cáo cùng N, B sử dụng tại phòng số 212 nhà nghỉ H1 thuộc khóm A, thị trấn Đ và tại đây tiếp tục rủ T cùng sử dụng ma túy. Khoảng 23 giờ ngày 13/7/2024 H tiếp tục đem ma túy và công cụ sử dụng để tổ chức cho bị cáo cùng B, N sử dụng trái phép chất ma túy tại phòng số 207 nhà nghỉ H1. Giữa bị cáo với N, B, D, K1, T không có sự bàn bạc thống nhất, phân giao nhiệm vụ cho nhau, mà chính bị cáo là người yêu cầu sử dụng ma túy, trực tiếp liên hệ mua ma túy và đưa cho những người còn lại sử dụng. Vào thời điểm bị kiểm tra còn thu giữ được của bị cáo 02 gói nilon bên trong chứa 1,3585 gam Methamphetamine. Với các tình tiết này, Tòa án nhân dân huyện Đầm Dơi đã xét xử bị cáo H về tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy” theo điểm a, b khoản 2 Điều 255 và tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo điểm c khoản 1 Điều 249 của Bộ luật Hình sự là có căn cứ.
[2] Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội. Trong đó, hành vi tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy thuộc trường hợp tội phạm rất nghiêm trọng, hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy thuộc trường hợp tội phạm nghiêm trọng, xâm phạm chính sách quản lý đặc biệt của Nhà nước đối với các chất ma túy, xâm phạm trật tự an toàn xã hội, hủy hoại sức khỏe và sức lao động của con người, là mầm mống của nhiều loại tội phạm khác. Bị cáo tổ chức sử dụng ma túy và tàng trữ ma túy trái pháp luật vi phạm pháp luật hình sự, phạm tội thì bị xử lý và phải chịu hình phạt theo quy định.
[3] Khi xét xử, cấp sơ thẩm đã có xem xét đầy đủ và toàn diện tính chất của vụ án, mức độ nghiêm trọng của hành vi phạm tội, áp dụng tình tiết giảm nhẹ thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải cho bị cáo. Từ đó, xử phạt bị cáo 09 năm tù về tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy” và 02 năm tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” là phù hợp. Sau khi xét xử sơ thẩm, bị cáo kháng cáo xin được giảm nhẹ hình phạt, nhưng không cung cấp được tình tiết giảm nhẹ nào mới. Do đó, kháng cáo của bị cáo không được chấp nhận.
[4] Với các phân tích nêu trên, ý kiến của đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Cà Mau được chấp nhận;
[5] Do kháng cáo không được chấp nhận, nên bị cáo phải chịu án phí hình sự phúc thẩm.
[6] Các phần khác của án sơ thẩm không bị kháng cáo hoặc bị kháng nghị, đã có hiệu lực thi hành kể từ khi hết hạn kháng cáo, kháng nghị.
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào khoản 2 Điều 136, điểm a khoản 1 Điều 355, Điều 356 của Bộ luật Tố tụng hình sự; Điểm a, b khoản 2 Điều 255, điểm c khoản 1 Điều 249, điểm s khoản 1 Điều 51 và Điều 55 của Bộ luật Hình sự; Khoản 2 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án:
- Không chấp nhận kháng cáo của bị cáo Tô Vũ H về việc xin giảm nhẹ hình phạt. Giữ nguyên Bản án hình sự sơ thẩm số 06/2025/HS-ST ngày 20 tháng 02 năm 2025 của Tòa án nhân dân huyện Đầm Dơi về phần hình phạt.
- Xử phạt bị cáo Tô Vủ H 09 (chín) năm tù về tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy” và 02 (hai) năm tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”. Tổng hợp hình phạt, bị cáo phải chấp hành hình phạt chung của hai tội là 11 (mười một) năm tù. Thời hạn tù được tính từ ngày 16 tháng 7 năm 2024.
- Bị cáo phải chịu 200.000 (hai trăm nghìn) đồng án phí hình sự phúc thẩm.
- Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị có hiệu lực pháp luật kể từ khi hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
Nơi nhận:
| TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA (Đã ký) Nguyễn Trọng Quế |
Bản án số 30/2025/HS-PT ngày 15/04/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH CÀ MAU về hình sự (tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy và tàng trữ trái phép chất ma túy)
- Số bản án: 30/2025/HS-PT
- Quan hệ pháp luật: Hình sự (Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy và Tàng trữ trái phép chất ma túy)
- Cấp xét xử: Phúc thẩm
- Ngày ban hành: 15/04/2025
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH CÀ MAU
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Không chấp nhận kháng cáo của bị cáo
