|
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH GIA LAI
Bản án số: 30/2025/DS-PT |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc ---------------------- |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH GIA LAI
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Đặng Chí Công.
Các Thẩm phán:
Bà Trần Thị Hồng.
Ông Trần Văn Thưởng.
- Thư ký phiên toà: Bà Trần Thị Thuý Vân - Thư ký Toà án nhân dân tỉnh Gia Lai.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Gia Lai: Ông Trần Quốc Tuấn - Kiểm sát viên tham gia phiên tòa.
Trong ngày 11 tháng 4 năm 2025 tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Gia Lai xét xử phúc thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số 12/2025/TLPT-DS ngày 13 tháng 02 năm 2025 về "Tranh chấp đòi lại tài sản".
Do bản án dân sự sơ thẩm số 19/2024/DS-ST ngày 31/12/2024 của Tòa án nhân dân huyện Mang Yang, tỉnh Gia Lai bị kháng cáo.
Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm số 34/2025/QĐ-PT ngày 13 tháng 3 năm 2025 và Quyết định hoãn phiên tòa số 49/2025/QĐ-PT ngày 27 tháng 3 năm 2025, giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Ông Đoàn Văn C, sinh năm 1974; địa chỉ: Thôn N, xã Đ, huyện M, tỉnh Gia Lai. Có mặt.
- Bị đơn: Bà Quách Thị T, sinh năm: 1977; địa chỉ: Thôn N, xã Đ, huyện M, tỉnh Gia Lai. Có mặt.
- Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan: Bà Đỗ Thị Mỹ T1, sinh năm 1985. Địa chỉ: Thôn N, xã Đ, huyện M, tỉnh Gia Lai. Vắng mặt.
- Người kháng cáo: ông Đoàn Văn C.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
* Nguyên đơn ông Đoàn Văn C trình bày:
Ngày 22/9/2023 ông Đoàn Văn C có chuyển trả nợ cho bà Quách Thị T số tiền 38.750.000 đồng, nhưng khi chuyển tiền thì ông có chuyển nhầm thành số tiền là 287.000.000 đồng nhưng bà T chỉ chuyển trả lại cho ông số tiền là 98.000.000 đồng, còn lại số tiền 150.250.000 đồng thì bà T giữ lại không trả cho ông. Ông có đến gặp bà T nhiều lần để đòi lại số tiền mà ông đã chuyển dư, nhưng bà T trả lời số tiền chuyển dư còn lại bà T đã trừ vào số tiền ông còn nợ và chỉ chuyển trả lại số tiền dư là 98.000.000 đồng. Bà Quách Thị T yêu cầu ông trả cho bà số tiền ông còn nợ 150.250.000 đồng thì ông không đồng ý vì thực tế ông chỉ nợ bà Quách Thị T số tiền 38.750.000 đồng, ngoài ra ông không có nợ bà T bất cứ khoản tiền nào khác. Việc mua bán chanh dây là giữa bà Quách Thị T và bà Đỗ Thị Mỹ T1 ông không có liên quan, ông chỉ là người giới thiệu để bà T bán hàng cho bà T1 và ông được hưởng lợi 500 đồng/kg. Vì vậy, ông yêu cầu Tòa án buộc bà Quách Thị T trả cho ông số tiền ông đã chuyển khoản nhầm là 150.250.000 đồng.
* Bị đơn bà Quách Thị T trình bày:
Giữa bà và ông Đoàn Văn C có giao dịch làm ăn mua bán chanh dây từ năm 2021, vào ngày 27/10/2022 bà có giao đơn hàng hơn 10 tấn chanh dịch cho ông C nhập cho Hợp tác xã H, ông C đã thanh toán trước một phần của đơn hàng và còn nợ lại bà số tiền 150.960.000 đồng. Bà nhiều lần yêu cầu ông C thanh toán cho bà số tiền còn nợ là 150.960.000 đồng nhưng ông C không trả mà yêu cầu bà lên đòi bà T1. Quá trình mua bán bà chỉ giao dịch trực tiếp với ông C, ông C yêu cầu bà lên đòi tiền bà T1 nhưng bà không có giấy tờ gì để đi đòi tiền bà T1. Vào ngày 27/10/2022 ông C có gọi bà lên xác nhận chất lượng của lô hàng hơn 10 tấn chanh mà ông C nhận của bà do bà T1 có nói hàng hóa nhập không đạt chuẩn, bà có lên gặp ông C và bà T1 nói nếu ông C và bà T1 cho rằng hàng không đạt yêu cầu thì trả lại hàng cho bà để bà bán cho nơi khác, nhưng bà T1 vẫn đồng ý nhập hàng để xuất đi Trung Quốc. Đơn hàng này ông C đã thanh toán cho bà 70% đơn hàng, còn nợ lại 30% tương đương với số tiền 150.960.000 đồng thì ông C chưa thanh toán cho bà. Việc giao dịch làm ăn mua bán chanh dây bà chỉ làm việc trực tiếp với ông Đoàn Văn Ca T2 việc thỏa thuận giá cả, thời gian giao hàng, sau khi hoàn thành xong thì ông C là người thanh toán đơn hàng cho bà, bà chưa từng làm việc trực tiếp với bà T1. Do ông C còn nợ tiền các lần bà nhập chanh cho ông C trong đó có số tiền nhập chanh ngày 27/10/2022. Vào ngày 22/9/2023 ông C chuyển cho bà số tiền 287.000.000 đồng, bà có thông báo cho ông C biết bà trừ các khoản tiền ông C mua chanh còn nợ lại của bà trong đó có số tiền ông C nợ là 150.960.000 đồng (nhưng bà chỉ trừ số tiền 150.250.000 đồng) cộng với các khoản nợ khác thì bà chuyển trả lại cho ông C chẳn số tiền là 98.000.000 đồng. Việc bà trừ tiền ông C chuyển khoản nhầm là do ông C còn nợ tiền mua bán chanh dây của bà không trả chứ bà không có ý chiếm đoạt tiền của ông C. Nay ông C khởi kiện buộc bà trả lại số tiền 150.250.000 đồng thì bà không đồng ý, đồng thời yêu cầu Tòa án giải quyết buộc ông C phải trả cho bà số tiền còn nợ bằng với số tiền 150.250.000 đồng bà đã khấu trừ.
* Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan bà Đỗ Thị Mỹ T1 trình bày:
Việc ông Đoàn Văn C khởi kiện yêu cầu bà Quách Thị T trả số tiền chuyển nhầm vào tài khoản số tiền 150.250.000 đồng, đối với sự việc này có chuyển nhầm hay không thì bà không biết. Nhưng vào khoảng năm 2022, chúng tôi có giao dịch đơn hàng thí điểm cho HTX liên kết trong lô hàng đó. Bà là đại diện hợp tác xã đã thực hiện thanh toán bước đầu cọc 30%. Khi bắt đầu xuất hàng bà đã duyệt thanh toán thêm 40% đơn hàng và giữ lại 30% đơn để khách kiểm tra chất lượng hàng hóa trong thời gian kiểm tra khách phát hiện hàng tạp bẩn, nhiễm khuẩn và trả đơn hàng quay đầu từ Trung Quốc về xét chi phí quay đầu quá cao, bà đã bàn bạc và quyết định nhờ bên Trung Quốc sàn lọc hàng bán rẻ và chấp nhận hủy số hàng bị hỏng. Sau quá trình xử lý đơn hàng về phần 30% đơn hàng còn lại bà đã họp ba bên giữa bà, ông C và bà T để trao đổi xử lí thiệt hại, cách thức chia nhau về trách nhiệm mỗi bên chịu 10%, trong tổng số 30% đã bị lỗ. Hai bên ông C và bà T không đồng nhất ý kiến vì ông C cho rằng mình sản xuất giao hàng cho ông C là xong. Trong khi sự việc về chất lượng theo luật là phải đúng chất lượng an toàn vệ sinh thực phẩm trong giao dịch hàng hóa thực phẩm thì mới hoàn thành thanh toán. Trước sự việc trên để không mất thời gian hợp tác xã đã thực hiện thanh toán 10% cùng chia sẻ với 02 bên còn lại với số tiền 100.000.000 đồng. Số tiền còn lại 02 bên tự xử lý. Và cũng để các bên có hợp tác sản xuất và bù lại những gì đã mất, hợp tác xã có đưa ra phương án khi làm lại sẽ dùng số tiền lợi nhuận HTX để bù vào dần số tiền đã mất cùng nhau phát triển, nhưng thực chất đến thời điểm đó cũng không có nhận được đơn hàng. Vì vậy mấu chốt vấn đề vẫn là 30% còn lại của số tiền đã mất và HTX đã thanh toán xong 10% tương đương với số tiền qua cho ông C là hơn 100.000.000 đồng. Trong đó HTX đã có thương lượng với ông C về việc bà T có sử dụng dịch vụ cây giống là 60.000.000 đồng bà T không có tiền để trả cho HTX vì vậy số tiền này tính qua cho ông C để hoàn thiện thanh toán 10% phần chia trách nhiệm của HTX). Phần còn lại 160.000.000 đồng hai bên tự chia sẻ cùng nhau. Bà xét thấy trong sự việc này HTX đã hoàn thành trách nhiệm chia sẻ đối với tập thể sản xuất còn xét về phần mua bán trao đổi thực phẩm thì số tiền 30% giữ để kiểm soát chất lượng và có kết quả thì thất thoát bên mua sẽ không thanh toán số tiền 30% còn lại và bên bán phải bồi thường thiệt hại cho bên mua tính theo giá trị thất thoát hàng hóa. Vậy vụ việc trên HTX đã hoàn thành nhiệm vụ chiếu theo 02 đơn vị còn lại phải có trách nhiệm như nhau chia đôi số tiền đã mất là mỗi người 10% tương đương với hơn 70 triệu đồng trên 1 người là hợp lý đúng trách nhiệm. Còn bà không liên quan gì đến sự việc ông C đã chuyển nhầm tiền cho bà T.
* Tại bản án dân sự sơ thẩm số 19/2024/DS-ST ngày 31/12/2024 của Tòa án nhân dân huyện Mang Yang, tỉnh Gia Lai đã quyết định: căn cứ khoản 14 Điều 26; Điều 35; Điều 39; Điều 91; Điều 144; Điều 147; điểm a khoản 2 Điều 200; Điều 227; Điều 228; Điều 273 Bộ luật tố tụng dân sự; khoản 1 Điều 166, Điều 280, Điều 440 Bộ luật dân sự; Điều 26 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH 14, ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Xử: Không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của ông Đoàn Văn C về việc buộc bà Quách Thị T phải trả số tiền 150.250.000 đồng đã chuyển khoản nhầm; Chấp nhận yêu cầu phản tố của bà Quách Thị T, buộc ông Đoàn Văn C thanh toán cho bà Quách Thị T số tiền còn nợ là 150.250.000 đồng (Một trăm năm mươi triệu hai trăm năm mươi nghìn đồng), trừ vào số tiền ông C đã chuyển khoản cho bà T là 150.250.000 đồng (Một trăm năm mươi triệu hai trăm năm mươi nghìn đồng). Ông Đoàn Văn C đã thanh toán hết nợ cho bà Quách Thị T.
Ngoài ra cấp sơ thẩm còn tuyên nghĩa vụ chịu án phí dân sự sơ thẩm và quyền kháng cáo của các đương sự.
* Kháng cáo: Ngày 13/01/2025, ông Đoàn Văn C kháng cáo đề nghị Tòa án cấp phúc thẩm xem xét lại toàn bộ nội dung bản án dân sự sơ thẩm theo hướng chấp nhận đơn khởi kiện của ông.
* Tại phiên tòa phúc thẩm: Nguyên đơn không rút đơn khởi kiện và giữ nguyên nội dung kháng cáo; các đương sự không thỏa thuận được với nhau về việc giải quyết vụ án.
* Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Gia Lai đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ khoản 1 Điều 308 Bộ luật Tố tụng dân sự, không chấp nhận kháng cáo, giữ nguyên bản án sơ thẩm.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
[1]. Đơn kháng cáo của ông Đoàn Văn C trong thời hạn luật định nên được xem xét, xét xử theo trình tự phúc thẩm. Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan bà Đỗ Thị Mỹ T1 vắng mặt tại phiên tòa lần thứ hai, căn cứ Điều 227 Bộ luật tố tụng dân sự, HĐXX vẫn tiến hành xét xử vụ án.
[2]. Ông Đoàn Văn C và bà Quách Thị T có giao dịch mua bán chanh dây với nhau trong các năm 2021, 2022 và 2023. Trong quá trình giao dịch mua bán, ông C là người trực tiếp mua chanh dây của bà T và bán lại cho bà T1 để hưởng tiền chênh lệch, bà T không giao dịch mua bán trực tiếp với bà T1. Ngày 27/10/2022 bà T bán cho ông C hơn 10 tấn chanh dây, sau đó ông C bán lại cho bà T1 nhưng bà T1 chỉ thanh toán cho ông C 70% trị giá đơn hàng và ông C đã thanh toán lại cho bà T, còn lại 30% (trị giá khoảng 156.960.000 đồng) ông C chưa thanh toán cho bà T. Ngày 22/9/2023 ông C chuyển trả nợ cho bà T 38.750.000 đồng nhưng chuyển nhầm thành 287.000.000 đồng. Bà T thông báo cho ông C biết bà trừ khoản nợ 30% trị giá đơn hàng ngày 27/10/2022 là 150.250.000 đồng và một số khoản nợ khác, thì bà chuyển trả lại cho ông C 98.000.000 đồng.
[3]. Xét kháng cáo của nguyên đơn ông C, thấy rằng:
Ông C thừa nhận đơn hàng ngày 27/10/2022 ông chỉ thanh toán cho bà T trị giá 70%, còn lại 30% tương đương với số tiền 150.960.000 đồng chưa thanh toán, vì cho rằng ông là chỉ là người trung gian nên không có trách nhiệm thanh toán số tiền còn lại cho bà T. Xét việc giao dịch mua bán chanh dây được xác lập giữa bà T và ông C, ông C mua chanh dây của bà T và bán lại cho bà T1 để hưởng tiền chênh lệch; bà T không trực tiếp giao dịch mua bán với bà T1, cũng không có thỏa thuận với bà T1 về việc thanh toán tiền. Do đó ông C là người mua hàng của bà T thì phải có nghĩa vụ thanh toán đầy đủ; việc bà T1 không thanh toán đầy đủ cho ông C thì ông C có quyền yêu cầu bà T1 thực hiện nghĩa vụ. Tòa án cấp sơ thẩm đã đánh giá chứng cứ đầy đủ và toàn diện, xét xử không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của ông C, đồng thời chấp nhận yêu cầu phản tố của bà T, buộc ông C thanh toán số tiền 150.250.000 đồng còn thiếu và khấu trừ số tiền ông C đã chuyển khoản nhầm cho bà T là có căn cứ và đúng pháp luật. Hội đồng xét xử căn cứ vào khoản 1 Điều 308 của Bộ luật Tố tụng, không chấp nhận kháng cáo và giữ nguyên bản án sơ thẩm.
[4]. Án phí dân sự phúc thẩm: Người kháng cáo phải chịu án phí dân sự phúc thẩm theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ khoản 1 Điều 308 Bộ luật Tố tụng dân sự và Nghị quyết 326/2016/UBTVQH 14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội về án phí, lệ phí Tòa án.
- Không chấp nhận kháng cáo của ông Đoàn Văn C. Giữ nguyên Bản án dân sự sơ thẩm số 19/2024/DS-ST ngày 31/12/2024 của Tòa án nhân dân huyện Mang Yang, tỉnh Gia Lai.
- Án phí dân sự phúc thẩm: Ông Đoàn Văn C phải chịu 300.000 đồng án phí dân sự phúc thẩm nhưng được trừ vào số tiền 300.000 đồng đã nộp theo biên lai thu số 0012609 ngày 13 tháng 01 năm 2025 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Mang Yang, tỉnh Gia Lai. Ông Đoàn Văn C đã nộp đủ án phí dân sự phúc thẩm.
- Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.
|
Nơi nhận:
|
TM.HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM THẨM PHÁN-CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Đặng Chí Công |
HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM
|
Các Thẩm phán |
|
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa |
|
Trần Thị Hồng |
Trần Văn Thưởng |
Đặng Chí Công |
Bản án số 30/2025/DS-PT ngày 11/04/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH GIA LAI về tranh chấp đòi lại tài sản
- Số bản án: 30/2025/DS-PT
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp đòi lại tài sản
- Cấp xét xử: Phúc thẩm
- Ngày ban hành: 11/04/2025
- Loại vụ/việc: Dân sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH GIA LAI
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: không chấp nhận kháng cáo
