TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TÂN BIÊN TỈNH TÂY NINH Bản án số: 30/2025/HSST Ngày: 01-4-2025 | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TÂN BIÊN, TỈNH TÂY NINH
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
- - Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: ông Dương Phú Sang
- Các Hội thẩm nhân dân:
- + Ông Trần Hữu Nghĩa;
- + Bà Trần Thị Bạch Tuyết;
- - Thư ký phiên tòa: ông Tống Hoàng Tuấn - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Tân Biên, tỉnh Tây Ninh.
- - Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Tân Biên, tỉnh Tây Ninh tham gia phiên tòa: ông Trần Văn Tới – Kiểm sát viên.
Ngày 01 tháng 4 năm 2025 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Tân Biên, tỉnh Tây Ninh xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 15/2025/TLST-HS ngày 14/02/2025, theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 22/2025/QĐXXST-HS ngày 19/3/2025, đối với các bị cáo:
1/ Đặng Văn T, sinh năm 1987 tại tỉnh Tây Ninh; nơi cư trú: ấp T, xã T, huyện T, tỉnh Tây Ninh; nghề nghiệp: làm mướn; trình độ văn hóa: 08/12; giới tính: nam; dân tộc: kinh; tôn giáo: không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Đặng Văn R (đã chết) và bà Bùi Thị N; có vợ là Nguyễn Thị T1 (đã ly hôn) và 01 người con;
Tiền án: Có 02 tiền án:
- + Tại Bản án hình sự phúc thẩm số 107 ngày 04/7/2012 của Tòa án nhân dân tỉnh Tây Ninh, áp dụng điểm a, d khoản 2 Điều 115; điểm o, p khoản 1, 2 Điều 46; Điều 60 Bộ luật hình sự xử phạt bị cáo Đặng Văn T 03 năm tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách là 05 năm, tính từ ngày tuyên án phúc thẩm về tội “Giao cấu với trẻ em".
- + Tại Bản án hình sự phúc thẩm số 121 ngày 23/8/2016 của Tòa án nhân dân tỉnh Tây Ninh, áp dụng điểm b, p khoản 2 Điều 194; điểm o, p khoản 1 Điều 46 Bộ luật hình sự năm 1999, xử phạt bị cáo Đặng Văn T 08 năm tù về tội “Mua bán trái phép chất ma túy”; áp dụng khoản 5 Điều 60, khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự năm 1999, tổng hợp hình phạt 03 năm tù đối với Đặng Văn T theo bản án hình sự phúc thẩm số 107 ngày 04/7/2012 của Tòa án nhân dân tỉnh Tây Ninh. Đặng Văn T chấp hành chung 02 bản án là 11 năm tù được tính từ ngày 03/02/2016. Đã chấp hành xong toàn bộ bản án vào ngày 31/01/2024, chưa được xóa án tích.
- Tiền sự: Không có.
Bị cáo Đặng Văn T bị tạm giữ từ ngày 01/8/2024, chuyển tạm giam từ ngày 10/8/2024 cho đến nay. Bị cáo có mặt tại phiên tòa.
2/ Trương Thị Thúy Q, sinh năm 1995 tại tỉnh Tây Ninh; nơi cư trú: ấp T, xã T, huyện T, tỉnh Tây Ninh; nghề nghiệp: buôn bán; trình độ văn hóa: 11/12; giới tính: nữ; dân tộc: kinh; tôn giáo: không; quốc tịch: Việt Nam; con ông: không xác định và bà Trương Thị N1; có chồng là Đoàn Văn N2 và 01 người con;
- Tiền án: Có 01 tiền án. Tại Bản án hình sự sơ thẩm số 83 ngày 27/12/2022 của Tòa án nhân dân huyện Tân Biên, tỉnh Tây Ninh, áp dụng khoản 1 Điều 173; điểm b, s khoản 1 Điều 51; điểm g, o Điều 52; Điều 38 Bộ luật hình sự xử phạt bị cáo Trương Thị Thúy Q 01 năm tù về tội “Trộm cắp tài sản. Đã chấp hành xong toàn bộ bản án ngày 29/8/2023, chưa được xóa án tích.
- Tiền sự: Không có.
Bị cáo Trương Thị Thúy Q bị tạm giữ từ ngày 01/8/2024, chuyển tạm giam từ ngày 10/8/2024 cho đến nay. Bị cáo có mặt tại phiên tòa.
3/ Đặng Văn K, sinh năm 1995 tại tỉnh Tây Ninh; nơi cư trú: ấp T, xã T, huyện T, tỉnh Tây Ninh; nghề nghiệp: làm mướn; trình độ văn hóa: 01/12; giới tính: nam; dân tộc: kinh; tôn giáo: không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Đặng Văn C (đã chết) và bà Trương Thị B; bị cáo chưa có vợ, con; tiền án, tiền sự: không có. Bị cáo Đặng Văn K bị tạm giữ từ ngày 01/8/2024, chuyển tạm giam từ ngày 10/8/2024 cho đến nay. Bị cáo có mặt tại phiên tòa.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Trương Thị Thúy Q và Đặng Văn T là người nghiện ma túy, chung sống với nhau như vợ chồng.Từ cuối tháng 5/2024, Q đến nhà nghỉ “Như Tiên”, tại ấp T, xã T, huyện T, tỉnh Tây Ninh, thuê trọ tháng tại phòng số 06 để ở. Vào trưa ngày 31/7/2024, T đi đến khu vực ấp T, xã T, huyện T, tỉnh Tây Ninh mua ma túy với số tiền 400.000 đồng của một người tên T2, không rõ nhân thân, lai lịch. Sau khi mua được ma túy, T đến nhà nghỉ đón Q chở đến nhà Đặng Văn K rủ K mang cái nỏ bằng thủy tinh đến phòng số 6 nhà nghỉ “Như Tiên” để làm dụng cụ sử dụng ma túy, thì K đồng ý. Sau đó, T và Q về phòng trước, khoảng 10 phút sau K đến, T lấy chai nước suối có sẵn tại phòng đục lỗ chế thành bình hút ma túy và lấy nỏ thủy tinh của K mang đến cấm vào, tạo thành bộ dụng cụ sử dụng ma túy. T lấy ma túy vừa mua đổ một phần vào dụng cụ để sử dụng, phần ma túy còn lại T cho Q cất giữ để sử dụng. T, Q, K ngồi trong phòng thay phiên nhau hút ma túy liên tục khoảng 10 phút thì nghỉ. Sau khi sử dụng ma túy xong, K đi về, trong phòng chỉ còn lại T và Q. Sau đó, Q tháo rời bộ dụng cụ sử dụng ma túy ra, bỏ vào túi vải màu đen và mang đến khe hở cặp vách tường, cạnh lối đi bên phải của nhà nghỉ C1. Quàng bỏ bịch ma túy còn lại của T cho vào trong gói thuốc lá hiệu Jet và đem đến cất giấu tại gốc sứ gần nhà nghỉ, rồi quay lại phòng nghỉ cùng với T. Đến 18 giờ cùng ngày, Công an huyện T tiến hành kiểm tra nhà nghỉ N4. Tại đây, phát hiện Q và T có biểu hiện sử dụng trái phép chất ma túy.
Qua làm việc Q và T thừa nhận hành vi tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy nên tiến hành khám xét thu giữ một bộ dụng cụ sử dụng ma túy và một bịch nilon chứa chất ma túy để bên trong gói thuốc lá hiệu Jet. Ngoài ra còn thu giữ của Q 01 đoạn ống nhựa hàn kín hai đầu, bên trong chứa chất ma túy do Q mua của một người không rõ nhân thân, lai lịch trước đó để sử dụng một mình nhưng sử dụng chưa hết.
Tại Cơ quan điều tra, Đặng Văn T, Trương Thị Thúy Q, Đặng Văn K đã khai nhận rõ toàn bộ hành vi phạm tội của mình.
Đặng Văn T đã bị kết án thuộc trường hợp tái phạm nguy hiểm chưa được xóa án tích lại tiếp tục phạm tội nên thuộc trường hợp tái phạm nguy hiểm.
Trương Thị Thúy Q đã bị kết án chưa được xóa án tích lại tiếp tục phạm tội nên thuộc trường hợp tái phạm.
* Kết quả giám định: Tại Kết luận giám định số 11517/KL-KTHS, ngày 08/8/2024 của Phòng K1 Công an tỉnh T kết luận:
- - Mẫu chất tinh thể rắn màu trắng, bên trong ống hút bằng nhựa nhựa (thu giữ của Trương Thị Thúy H) gửi đến giám định là chất ma túy; Loại Methamphetamine, khối lượng 0,0772 gam.
- - 01 ống thủy tinh dạng cong (cái nỏ) gửi đến giám định có tìm thấy chất ma túy bên trong; Loại Methamphetamine, khối lượng 0,0255 gam.
- - Mẫu chất tinh thể rắn màu trắng, bên trong 01 bịch nilon bóp miệng (do T đưa cho Q) gửi đến giám định là chất ma túy; Loại Methamphetamine, khối lượng 0,1602 gam.
* Kết quả xét nghiệm chất ma túy trong cơ thể: Tại các phiếu xét nghiệm chất ma túy trong cơ thể ngày 31/7/2024 của Công an thị trấn T, huyện T, tỉnh Tây Ninh xác định Đặng Văn T, Trương Thị Thúy Q, Đặng Văn K dương tính với chất ma túy trong cơ thể.
* Kết quả kê biên tài sản: Qua xác minh tài sản Đặng Văn T, Trương Thị Thúy Q, Đặng Văn K không có tài sản riêng có giá trị nên không tiến hành kê biên.
Bản cáo trạng số 20/CT-VKSTB ngày 13 tháng 02 năm 2025 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Tân Biên, tỉnh Tây Ninh truy tố bị cáo Đặng Văn T về tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy” và tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”, theo quy định tại điểm b, h khoản 2 Điều 255 và điểm o khoản 2 Điều 249 Bộ luật Hình sự.
Truy tố bị cáo Trương Thị Thúy Q về tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy” và tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”, theo quy định tại điểm b khoản 2 Điều 255 và điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự và truy tố bị cáo Đặng Văn K về tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy”, theo quy định tại điểm b khoản 2 Điều 255 Bộ luật Hình sự
Tại phiên tòa:
- - Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Tân Biên giữ nguyên quan điểm truy tố các bị cáo Đặng Văn T, Trương Thị Thúy Q và Đặng Văn K về tội danh, điều luật như nội dung bản cáo trạng đã nêu và đề nghị Hội đồng xét xử:
- Căn cứ các điểm b, h khoản 2 Điều 255; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38 Bộ luật Hình sự:
- Xử phạt bị cáo Đặng Văn T 9 năm đến 10 năm tù về tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy”.
- Căn cứ điểm o khoản 2 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38 Bộ luật Hình sự:
- Xử phạt bị cáo Đặng Văn T từ 5 năm đến 6 năm tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
- Căn cứ điểm b khoản 2 Điều 255; điểm s khoản 1 Điều 51, điểm h khoản 1 Điều 52; Điều 38 Bộ luật Hình sự:
- Xử phạt bị cáo Trương Thị Thúy Q 8 năm đến 9 năm tù về tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy”
- Căn cứ điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51, điểm h khoản 1 Điều 52; Điều 38 Bộ luật Hình sự:
- Xử phạt bị cáo Trương Thị Thúy Q từ 01 năm 06 tháng đến 02 năm tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
- Căn cứ điểm b khoản 2 Điều 255, điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38 Bộ luật Hình sự:
- Xử phạt bị cáo Đặng Văn K 7 năm đến 8 năm tù về tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy”.
Do các bị cáo không có tài sản nên không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.
* Về biện pháp tư pháp:
- - Về xử lý vật chứng: Căn cứ Điều 47 Bộ luật hình sự, Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự đề nghị Hội đồng xét xử xử lý các vật chứng thu giữ theo quy định của pháp luật.
Các bị cáo Đặng Văn T, Trương Thị Thúy Q và Đặng Văn K thống nhất quan điểm truy tố của Viện kiểm sát nhân dân huyện Tân Biên, tỉnh Tây Ninh và không có ý kiến tranh luận.
Lời nói sau cùng của các bị cáo: Các bị cáo Đặng Văn T, Trương Thị Thúy Q và Đặng Văn K đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện T, tỉnh Tây Ninh, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Tân Biên, tỉnh Tây Ninh, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, người tham gia tố tụng không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
[2] Về hành vi của bị cáo đã thực hiện:
Vào ngày 31/7/2024, tại phòng số 06 nhà nghỉ “N", thuộc ấp T, xã T, huyện T, tỉnh Tây Ninh, Đặng Văn T đã có hành vi cung cấp ma túy; Trương Thị Thúy Q đã có hành vi cung cấp địa điểm; Đặng Văn K đã có hành vi cung cấp dụng cụ để cùng nhau tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy. Ngoài ra T và Q còn có hành vi tàng trữ 0,2374 gam ma túy loại Methamphetamine để sử dụng thì bị phát hiện. Do đó hành vi của bị cáo Đặng Văn T, Trương Thị Thúy Q và Đặng Văn K đủ yếu tố cấu thành tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy” được quy định tại khoản 2 Điều 255 Bộ luật Hình sự. Ngoài ra hành vi của các bị cáo Đặng Văn T và Trương Thị Thúy Q đủ yếu tố cấu thành tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” được quy định tại Điều 249 Bộ luật Hình sự.
[3] Vụ án có tính chất rất nghiêm trọng, hành vi phạm tội của các bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm trực tiếp các quy định của Nhà nước về chế độ quản lý các chất ma túy nên cần phải có mức án tương xứng với hành vi bị cáo đã thực hiện, cần cách ly các bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian để giáo dục, cải tạo bị cáo thành người có ích cho xã hội và đồng thời mới có tác dụng giáo dục răn đe phòng ngừa chung.
Trong vụ án này các bị cáo đều có vai trò đồng phạm giản đơn khi thực hiện hàng vi “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy”, trong đó bị cáo T, cung cấp ma túy, bị cáo Q cung cấp địa điểm tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy, bị cáo K cung cấp công cụ để các bị cáo sử dụng ma túy. Bị cáo T thực hiện hành vi phạm tội với các tình tiết định khung hình phạt thuộc các điểm b, h khoản 2 Điều 255 Bộ luật Hình sự nên phải chịu mức hình phạt cao hơn các bị cáo khác.
Đối với bị cáo Q thực hiện hành vi phạm tội với tình tiết định khung hình phạt thuộc điểm b khoản 2 Điều 255 Bộ luật Hình sự và có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự thuộc điểm h khoản 1 Điều 52 Bộ luật hình sự nên phải chịu mức hình phạt cao hơn bị cáo K nhưng thấp hơn bị cáo T.
Bị cáo K thực hiện hành vi phạm tội với tình tiết định khung hình phạt thuộc điểm b khoản 2 Điều 255 Bộ luật Hình sự nên phải chịu mức hình phạt tương xứng với hành vi bị cáo thực hiện nhưng thấp hơn các bị cáo khác.
Ngoài ra, đối với hành vi Tàng trữ trái phép chất ma túy của bị cáo T và bị cáo Q thì thấy rằng bị cáo T tàng trữ trái phép chất ma túy với khối lượng thấp hơn bị cáo Q nên bị cáo T phải chịu mức hành phạt thấp hơn bị cáo Q. Bị cáo Q cũng phải chịu mức hình phạt tương xứng với hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy của bị cáo.
Tuy nhiên khi quyết định hình phạt cũng cần xem xét đến các yếu tố về nhân thân, các tình tiết giảm nhẹ, tăng nặng trách nhiệm hình sự cho các bị cáo.
- Về nhân thân:
- Bị cáo Đặng Văn T có nhân thân xấu, đã bị kết án về các tội “Mua bán trái phép chất ma túy” và tội “Giao cấu với trẻ em”, đã chấp hành xong bản án nhưng chưa được xóa án tích;
- Bị cáo Trương Thị Thúy Q có nhân thân xấu, đã bị kết án về tội “Trộm cắp tài sản”, đã chấp hành xong bản án nhưng chưa được xóa án tích.
- Bị cáo Đặng Văn K có nhân thân xấu, đã bị kết án về tội “Cướp tài sản” và tội “Trộm cắp tài sản” vào năm 2011, đã chấp hành xong bản án và đã được xóa án tích.
- Tình tiết tăng nặng: Bị cáo Trương Thị Thúy Q bị áp dụng tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự theo quy định tại điểm h khoản 1 Điều 52 Bộ luật hình sự. Riêng bị cáo Đặng Văn T và Đặng Văn K không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.
- Tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Trong quá trình điều tra và tại phiên tòa các bị cáo Đặng Văn T, Trương Thị Thúy Q và Đặng Văn K thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải. Đây là các tình tiết các giảm nhẹ được quy định tại điểm s khoản 1, Điều 51 Bộ luật Hình sự để Hội đồng xét xử xem xét khi quyết định hình phạt cho các bị cáo. Riêng bị cáo Q được áp dụng thêm tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự được quy định tại khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự do người thân của bị cáo là người có công với cách mạng, được Đảng và Nhà nước ghi nhận.
[3.1] Về hình phạt bổ sung: do các bị cáo không có tài sản và thu nhập ổn định nên không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với các bị cáo.
[4] Về biện pháp tư pháp:
- + Về xử lý vật chứng:
- - Đối với vật chứng thu giữ gồm: 01 ống thủy tinh dạng cong (nỏ hút ma túy) được đựng bên trong một bì thư niêm phong ghi số 1517/M2, có chữ ký của giám định viên Nguyễn Văn N3 và trợ lý giám định Tạ Minh P, được đóng dấu tròn màu đỏ của Phòng K1 Công an tỉnh T; 0.1422 gam chất ma túy; loại Methamphetamine được đựng bên trong một bì thư niêm phong ghi số 1517/M3, có chữ ký của giám định viên Nguyễn Văn N3 và trợ lý giám định Tạ Minh P, được đóng dấu tròn màu đỏ của Phòng K1 Công an tỉnh T; 01 kéo kim loại; 03 hộp quẹt ga; 01 ống hút nhựa được gắn với nắp chai nhựa màu xanh. Đây là chất cấm sử dụng và là công cục các bị cáo sử dụng để thực hiện hành vi phạm tội nên căn cứ điểm a, khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự cần tịch thu, tiêu hủy.
- - Đối với các vật chứng thu giữ gồm: 01 điện thoại di động hiệu S, màu xám, số imell: 354814091044004/01, gắn sim số 0969316459, điện thoại đã qua sử dụng của Trương Thị Thúy Q; 01 điện thoại di động hiệu Oppo, màu đen, số imell: 864738043161454, gắn sim số 0389227652, điện thoại đã qua sử dụng của Đặng Văn T và 01 điện thoại di động hiệu Oppo, màu đen, bị nứt màn hình, số imell: 8621340400677738, không có thẻ sim, điện thoại đã qua sử dụng của Đặng Văn K. Đây là phương tiện các bị cáo dùng để liên lạc với nhau khi thực hiện hành vi phạm tội, vẫn còn giá trị sử dụng nên căn cứ điểm a, khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự cần tịch thu sung vào Ngân sách Nhà nước.
Vật chứng đang được tạm giữ tại Cơ quan Chi cục thi hành án huyện T, tỉnh Tây Ninh theo biên bản giao nhận ngày 13/02/2024.
[5] Đối với người tên T2 bán ma túy cho Đặng Văn T và người bán ma túy cho Trương Thị Thúy Q, do không xác định được nhân thân, lai lịch cụ thể nên chưa làm việc được, khi nào làm việc được và có đủ cơ sở sẽ xử lý sau.
[6] Về án phí: các bị cáo Đặng Văn T, Trương Thị Thúy Q và Đặng Văn K phải chịu án phí theo quy định pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
- Căn cứ các điểm b, h khoản 2 Điều 255 và điểm o khoản 2 Điều 249 Bộ luật Hình sự; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38 Bộ luật Hình sự:
Xử phạt bị cáo Đặng Văn T 9 (chín) năm tù về tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy”
Căn cứ điểm o khoản 2 Điều 249 Bộ luật Hình sự; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38 Bộ luật Hình sự:
Xử phạt bị cáo Đặng Văn T 5 (năm) năm tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
Căn cứ Điều 55 Bộ luật hình sự, tổng hợp hình phạt của bị cáo Đặng Văn T đối với tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy” và tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” là 14 năm tù. Thời hạn chấp hành án phạt tù tính từ ngày 01/8/2024.
- Căn cứ điểm b khoản 2 Điều 255 Bộ luật Hình sự; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51, điểm h khoản 1 Điều 52; Điều 38 Bộ luật Hình sự:
Xử phạt bị cáo Trương Thị Thúy Q 8 năm tù về tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy”
Căn cứ điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51, điểm h khoản 1 Điều 52; Điều 38 Bộ luật Hình sự:
Xử phạt bị cáo Trương Thị Thúy Q 01 (một) năm 06 (sáu) tháng tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
Căn cứ Điều 55 Bộ luật hình sự, tổng hợp hình phạt của bị cáo Trương Thị Thúy Q đối với tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy” và tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” là 9 (chín) năm 06 (sáu) tháng tù. Thời hạn chấp hành án phạt tù tính từ ngày 01/8/2024
- Căn cứ điểm b khoản 2 Điều 255, điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38 Bộ luật Hình sự:
Xử phạt bị cáo Đặng Văn K 7 năm tù về tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy”. Thời hạn chấp hành án phạt tù tính từ ngày 01/8/2024
- Về hình phạt bổ sung: Miễn hình phạt bổ sung cho các bị cáo Đặng Văn T, Trương Thị Thúy Q và Đặng Văn K.
- Về xử lý vật chứng: Căn cứ Điều 47 Bộ luật hình sự và Điều 106 Bộ luật Tố tụng Hình sự:
- - Tịch thu, tiêu hủy các vật chứng gồm:
- 01 ống thủy tinh dạng cong (nỏ hút ma túy) được đựng bên trong một bì thư niêm phong ghi số 1517/M2, có chữ ký của giám định viên Nguyễn Văn N3 và trợ lý giám định Tạ Minh P, được đóng dấu tròn màu đỏ của Phòng K1 Công an tỉnh T. Kèm theo kết luận giám định số 1517/KL-KTHS ngày 08/8/2024 của Phòng K1 Công an tỉnh T (bản sao y), tình trạng niêm phong còn nguyên vẹn.
- 0.1422 gam chất ma túy; loại Methamphetamine được đựng bên trong một bì thư niêm phong ghi số 1517/M3, có chữ ký của giám định viên Nguyễn Văn N3 và trợ lý giám định Tạ Minh P, được đóng dấu tròn màu đỏ của Phòng K1 Công an tỉnh T. Kèm theo kết luận giám định số 1517/KL-KTHS ngày 08/8/2024 của Phòng K1 Công an tỉnh T (bản sao y), tình trạng niêm phong còn nguyên vẹn.
- 01 kéo kim loại;
- 03 hộp quẹt ga;
- 01 ống hút nhựa được gắn với nắp chai nhựa màu xanh;
- - Tịch thu sung Ngân sách Nhà nước các vật chứng gồm:
- 01 điện thoại di động hiệu Samsung, màu xám, số imell: 354814091044004/01, gắn sim số 0969316459, điện thoại đã qua sử dụng của Trương Thị Thúy Q;
- 01 điện thoại di động hiệu Oppo, màu đen, số imell: 864738043161454, gắn sim số 0389227652, điện thoại đã qua sử dụng của Đặng Văn T;
- 01 điện thoại di động hiệu Oppo, màu đen, bị nứt màn hình, số imell: 8621340400677738, không có thẻ sim, điện thoại đã qua sử dụng của Đặng Văn K;
Vật chứng đang được tạm giữ tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Tân Biên, tỉnh Tây Ninh theo biên bản giao nhận vật chứng ngày 13/02/2025.
- Về án phí: Căn cứ Điều 136 Bộ luật Tố tụng Hình sự, Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội khóa XIV quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án:
Các bị cáo Đặng Văn T, Trương Thị Thúy Q và Đặng Văn K, mỗi bị cáo phải chịu 200.000 (hai trăm nghìn) đồng án phí hình sự sơ thẩm.
- Các bị cáo Đặng Văn T, Trương Thị Thúy Q và Đặng Văn K được quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.
- Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định các Điều 6, 7 và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.
Nơi nhận:
| TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TOẠ PHIÊN TOÀ Dương Phú Sang |
Bản án số 30/2025/HSST ngày 01/04/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TÂN BIÊN, TỈNH TÂY NINH về hình sự về tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy và tàng trữ trái phép chất ma túy
- Số bản án: 30/2025/HSST
- Quan hệ pháp luật: Hình sự về Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy và Tàng trữ trái phép chất ma túy
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 01/04/2025
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TÂN BIÊN, TỈNH TÂY NINH
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Đặng Văn T CDP
