Hệ thống pháp luật

TOÀ ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN THẠCH THẤT

THÀNH PHỐ HÀ NỘI

CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 30/2025/HS-ST

Ngày 27-3-2025

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THẠCH THẤT, THÀNH PHỐ HÀ NỘI

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Tạ Thị Thịnh

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Nguyễn Văn Chiến

Bà Nguyễn Thị Mai

- Thư ký phiên toà: Ông Phan Lạc Mạnh Quyền – Thư ký Toà án nhân dân huyện Thạch Thất, thành phố Hà Nội.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Thạch Thất tham gia phiên toà: Bà Bùi Thị Thủy Tiên - Kiểm sát viên.

Ngày 27 tháng 3 năm 2025, tại trụ sở Toà án nhân dân huyện Thạch Thất xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 12/2025/TLST-HS ngày 24 tháng 01 năm 2025 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 14/2025/QĐXXST-HS ngày 12 tháng 02 năm 2025; Quyết định hoãn phiên tòa số 07/2025/HSST-QĐ ngày 27-02-2025 và Thông báo mở lại phiên tòa số 201/TB-TA ngày 18-3-2025 đối với các bị cáo:

  1. Bùi Văn T, sinh năm 1959 tại huyện T, thành phố Hà Nội. Nơi ĐKTT: Thôn K, xã T, huyện T, thành phố Hà Nội; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ học vấn: 6/10 dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; Con ông Bùi Văn N (đã chết) và con bà Nguyễn Thị D; vợ: Nguyễn Thị H, con: Có 03 con, lớn nhất sinh năm 1986, nhỏ nhất sinh năm 1989; D1 chỉ bản số 243 lập ngày 28-5-2024 tại Công an huyện T; tiền án, tiền sự: Không. Bị áp dụng biện pháp cấm đi khỏi nơi cư trú. Bị cáo có mặt tại phiên tòa.
  2. Bùi Thị N1, sinh năm 1963 tại huyện T, thành phố Hà Nội. Nơi ĐKTT: Thôn K, xã T, huyện T, thành phố Hà Nội; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ học vấn: 7/10; dân tộc: Kinh; giới tính: Nữ; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; Con ông Bùi Văn N (đã chết) và con bà Nguyễn Thị D; chồng: Phạm Xuân T1 (đã chết), con: Có 03 con, lớn nhất sinh năm 1984, nhỏ nhất sinh năm 1990; D1 chỉ bản số 442 lập ngày 7-11-2024 tại Công an huyện T; tiền án, tiền sự: Không. Bị áp dụng biện pháp cấm đi khỏi nơi cư trú. Bị cáo có mặt tại phiên tòa.

- Người bị hại: Bà Bùi Thị V, sinh năm 1961; Địa chỉ: Thôn K, xã T, huyện T, thành phố Hà Nội (có mặt). Đại diện theo ủy quyền của bị hại: Bà Lã Thị Trà L – Trung tâm T5; Địa chỉ: Số C ngõ A phố C, phường N, quận T, Hà Nội. Văn phòng giao dịch: P.607 tòa nhà N, đường L, quận T, thành phố Hà Nội (có mặt).

- Người làm chứng:

  • - Ông Phạm Quang C, sinh năm 1954; Nơi ĐKTT: P5-C3 tập thể KHXN-NV, Cống Vị, B, Hà Nội; Nơi ở: Tổ D, Y Sở, H, Hà Nội (vắng mặt).
  • - Ông Vũ Thành H1, sinh năm 1985; Địa chỉ: Thủy N, Hưng Yên (vắng mặt).
  • - Ông Lê Văn N2, sinh năm 1973; Địa chỉ: Thôn V, xã B, huyện T, thành phố Hà Nội (vắng mặt);
  • - Ông Nguyễn Văn T2, sinh năm 1984; Địa chỉ: Khu A, thôn Đ, xã T, huyện B, thành phố Hà Nội (vắng mặt);
  • - Ông Nguyễn Ngọc Q – Phó Chủ tịch UBND xã T, huyện T, thành phố Hà Nội; Địa chỉ: Thôn K, xã T, huyện T thành phố Hà Nội (có mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Hộ gia đình bị cáo Bùi Văn T, bị cáo Bùi Thị N1, ông Bùi Văn T3, bà Bùi Thị V và ông Phạm Quang C có nhà đất và chung đường đi ở thôn K, xã T, T, Hà Nội. Khoảng cuối năm 2020, bà V thuê anh Nguyễn Văn K xây dựng bức tường bao dài 22,5m; cao 1,9m bằng gạch Ba Vanh tại thửa đất số 95, tờ bản đồ số 7 của gia đình bà V giáp với đường đi chung. Cho rằng bà V xây bức tường lấn chiếm đường đi nên bị cáo N1, T, ông T3, ông C làm đơn gửi đến UBND xã T đề nghị giải quyết. Ngày 3/02/2021, UBND xã T mời đơn vị đo đạc đến thực địa đo đạc, cắm mốc giới nhưng không lập biên bản ghi nhận kết quả làm việc. Một thời gian sau, Bùi Văn T trao đổi, bàn bạc với Bùi Thị N1 về việc thuê máy múc để phá dỡ bức tường của bà V thì Bùi Thị N1 đồng ý. Ngày 3-11-2021, Bùi Văn T thuê anh Lê Văn N2 phá dỡ tường bao và thông báo cho Bùi Thị N1 biết.

Khoảng 14 giờ ngày 4-11-2021, khi anh N2 cùng anh Nguyễn Văn T2 vận chuyển máy múc của anh N2 đến thì Bùi Văn T chỉ cho anh N2 và anh T2 biết bức tường bao của bà V, anh T2 điều khiển máy múc gạt đổ bức tường xuống đường. Bà V phát hiện sự việc đã trình báo Công an xã T.

Tại Biên bản định giá tài sản số 68/BB-HĐĐG ngày 30-8-2023 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự huyện T thì: Giá trị của 01 bức tường có kích thước dài 22,5m; cao 1,9m; dày 13cm. Xây bằng gạch ba vanh, không trát. Xây mới vào thời điểm khoảng cuối năm 2020 có giá trị tại thời điểm ngày 4-11-2021 là 7.375.000 đồng.

Cơ quan điều tra đã tiến hành làm việc với ông Nguyễn Ngọc Q – Phó chủ tịch UBND xã T xác định ngày 3-02-2021, UBND xã đã mời đơn vị đo đạc cùng các bên liên quan đến đo đạc, cắm mốc giới nhưng không lập biên bản làm việc để giải quyết dứt điểm sự việc. Ông Q không thừa nhận việc ông chỉ đạo hay trao đổi gì với bị cáo T, N1 phá bức tường của bà V.

Đối với anh Lê Văn N2, anh Nguyễn Văn T2 được bị cáo T thuê phá dỡ bức tường nhưng anh N2, anh T2 không biết bức tường là của bà V, khi phá dỡ bức tường cũng không có ai ngăn cản nên không có căn cứ để xử lý anh N2, anh T về hành vi Hủy hoại tài sản.

Cáo trạng số 11/CT-VKS-TT ngày 22 tháng 01 năm 2025 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Thạch Thất truy tố bị cáo Bùi Văn T, Bùi Thị N1 về tội “Hủy hoại tài sản” theo Khoản 1 Điều 178 Bộ luật hình sự.

Tại phiên tòa, bị cáo Bùi Văn T khai nhận và cho rằng xuất phát từ việc bà V xây dựng tường bao lấn chiếm ngõ đi chung, gây cản trở giao thông cho các hộ trong ngõ (trong đó có gia đình bị cáo T, bị cáo N1), do thiếu hiểu biết pháp luật nên trong ngày 3 và 4-11-2021 bị cáo T có hành vi thuê máy múc phá dỡ bức tường bao do bà V xây trị giá 7.375.000 đồng. Bị cáo Bùi Thị N1 khai nhận khi được bị cáo T trao đổi về việc thuê máy múc phá dỡ tường bao của bà V thì bị cáo đồng ý và có đóng góp 1.000.000 đồng tiền thuê máy múc, thuê dọn dẹp tường đổ. Các bị cáo nhận thức được hành vi của mình là vi phạm pháp luật, ăn năn hối cải và xin giảm nhẹ hình phạt.

Bị hại đề nghị xử lý nghiêm các đối tượng tham gia phá tường bao của bị hại theo quy định của pháp luật.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Thạch Thất tham gia phiên tòa khẳng định có đầy đủ căn cứ truy tố Bùi Văn T, Bùi Thị N1 về tội “Hủy hoại tài sản”; sau khi phân tích tính chất, mức độ của hành vi phạm tội, các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đã đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng: Khoản 1 Điều 178; Điểm b, i, s Khoản 1 Điều 51; Điều 36 Bộ luật hình sự, xử phạt bị cáo Bùi Văn T, Bùi Thị N1 mỗi bị cáo từ 6 tháng đến 9 tháng cải tạo không giam giữ và không đề nghị áp dụng hình phạt bổ sung đối với các bị cáo.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên toà, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về tính hợp pháp của các hành vi, quyết định tố tụng: Việc chấp hành pháp luật tố tụng của Điều tra viên, Kiểm sát viên và người tiến hành tố tụng khác trong vụ án được thực hiện đúng quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự nên các hành vi tố tụng, quyết định tố tụng và các tài liệu chứng cứ được thu thập trong hồ sơ vụ án là hợp pháp.

[2] Về tội danh: Xét lời khai nhận hành vi phạm tội của các bị cáo tại phiên tòa phù hợp với nhau và phù hợp với các tài liệu, chứng cứ được thu thập trong hồ sơ vụ án. Đủ căn cứ kết luận: Xuất phát từ mâu thuẫn về lối đi chung, ngày 3 và 4-11-2021 Bùi Văn T có hành vi thuê anh Lê Văn N2 dùng máy múc phá dỡ bức tường bao của bà V, trị giá 7.375.000 đồng, đã phạm vào tội Hủy hoại tài sản theo khoản 1 Điều 178 BLHS. Bị cáo Bùi Thị N1 khi được bị cáo T trao đổi về việc thuê máy múc phá dỡ tường bao của bà V thì cũng đồng ý và đã góp 1.000.000 đồng để trả tiền thuê máy múc và thuê dọn dẹp tường đổ nên đồng phạm với bị cáo T. Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân huyện Thạch Thất truy tố Bùi Văn T, Bùi Thị N1 về tội “Hủy hoại tài sản” theo khoản 1 Điều 178 Bộ luật hình sự là đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.

[3] Về tính chất, mức độ tội phạm và năng lực chịu trách nhiệm hình sự: Hành vi phạm tội của các bị cáo đã xâm phạm đến những quy định về quyền sở hữu tài sản của người khác. Các bị cáo có đủ năng lực chịu trách nhiệm hình sự và nhận thức rõ hành vi hủy hoại tài sản của người khác là vi phạm pháp luật nhưng vẫn cố ý phạm tội gây ảnh hưởng đến trật tự an toàn xã hội.

[4] Về nhân thân và các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ: Bị cáo T, N1 không phạm vào các tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự theo Điều 52 Bộ luật hình sự. Các bị cáo đều có nhân thân tốt, phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng, các bị cáo đã bồi thường thiệt hại, trong quá trình điều tra và tại phiên tòa các bị cáo đã thành khẩn khai báo và tỏ ra ăn năn hối cải là các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự theo quy định tại Điểm b, i, s Khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự.

Trên cơ sở xem xem xét, đánh giá tính chất, mức độ của hành vi phạm tội, nhân thân và các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, nguyên nhân dẫn đến hành vi phạm tội, HĐXX xét thấy các bị cáo đều có nhân thân tốt, có nơi cư trú rõ ràng, có nhiều tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự nên không cần thiết phải áp dụng hình phạt tù cách ly các bị cáo mà cho các bị cáo tự cải tạo tại địa phương dưới sự giám sát, giáo dục của UBND xã cũng đủ tác dụng giáo dục, răn đe và phòng ngừa tội phạm.

[5] Kiến nghị: Hành vi phạm tội của các bị cáo xuất phát từ việc các bị cáo cho rằng bị hại xây tường lấn chiếm lối đi chung, Ủy ban nhân dân xã T trong quá trình giải quyết khiếu nại của các hộ dân về việc bà V xây tường bao lấn chiếm lối đi chung đã không lập biên bản đo đạc, cắm mốc giới, không giải quyết dứt điểm vụ việc là một phần nguyên nhân dẫn đến hành vi phạm tội của các bị cáo. Hội đồng xét xử kiến nghị Ủy ban nhân dân huyện T xem xét trách nhiệm của Ủy ban nhân dân xã T trong giải quyết vụ việc và xử lý theo quy định.

Quá trình điều tra không xác định được ông Phạm Quang C, ông Vũ Thành H1 có tham gia bàn bạc, trao đổi và đóng góp tiền với bị cáo T về việc phá dỡ bức tường. Ông C, ông H1 không thừa nhận có trao đổi, bàn bạc hay đóng góp tiền phá dỡ tường của bà V. Tuy nhiên, căn cứ lời khai của bị cáo T thì trước khi thuê máy múc phá dỡ bức tường, bị cáo có trao đổi, bàn bạc với ông C, ông H1 về việc phá dỡ bức tường của bà V và ông C đóng góp tiền để trả tiền thuê máy múc, dọn dẹp tường đổ. Do vậy, cần kiến nghị cơ quan điều tra tiếp tục làm rõ hành vi của ông C, ông H1 trong vụ án để xem xét, xử lý theo quy định.

[6] Về hình phạt bổ sung: Các bị cáo không có việc làm ổn định nên Hội đồng xét xử không áp dụng hình phạt bổ sung đối với các bị cáo.

[7] Về bồi thường thiệt hại: Ghi nhận bị cáo T, N1 đã bồi thường thiệt hại xong cho bà V bức tường bị hủy hoại với số tiền 11.000.000 đồng. Bà V không yêu cầu bồi thường khoản tiền nào khác trong vụ án này.

[8] Về án phí: Các bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

- Căn cứ Khoản 1 Điều 178; Điểm b, i, s Khoản 1 Điều 51, Điều 38, điều 65 Bộ luật hình sự: Tuyên bố bị cáo Bùi Văn T, Bùi Thị N1 phạm tội “Hủy hoại tài sản".

Xử phạt bị cáo Bùi Văn T 08 (tám) tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách 16 (mười sáu) tháng kể từ ngày tuyên án sơ thẩm.

Xử phạt bị cáo Bùi Thị N1 06 (sáu) tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách 12 (mười hai) tháng kể từ ngày tuyên án sơ thẩm.

Giao bị cáo Bùi Văn T, Bùi Thị N1 cho Ủy ban nhân dân xã T, huyện T, thành phố Hà Nội giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách. Gia đình bị cáo có trách nhiệm phối hợp với UBND xã T trong việc giám sát, giáo dục các bị cáo.

Trường hợp người được hưởng án treo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo khoản 1 Điều 69 Luật thi hành án hình sự.

Trong thời gian thử thách, người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ 02 lần trở lên thì Tòa án có thể quyết định buộc người được hưởng án treo phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo.

- Án phí: Áp dụng Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điểm a Khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 của Uỷ ban Thường vụ Quốc hội quy định về án phí và lệ phí Tòa án, buộc bị cáo Bùi Văn T, Bùi Thị N1 mỗi bị cáo phải nộp 200.000 đồng tiền án phí hình sự sơ thẩm.

Án xử công khai sơ thẩm, bị cáo, bị hại có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.

Nơi nhận:

  • - TAND Thành phố Hà Nội;
  • - VKSND huyện Thạch Thất (02 bản để gửi
  • VKS VKSND Thành phố Hà Nội 01 bản);
  • - Trại tạm giam số 01, CATP Hà Nội;
  • - Công an huyện Thạch Thất;
  • - CC THADS huyện Thạch Thất;
  • - UBND xã Tân Xã, huyện Thạch Thất, TP. Hà Nội;
  • - Thi hành án hình sự;
  • - Bị cáo; bị hại.
  • - Lưu hồ sơ; VP. Tòa án.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TOẠ PHIÊN TOÀ

Tạ Thị Thịnh

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 30/2025/HS-ST ngày 27/03/2025 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THẠCH THẤT, THÀNH PHỐ HÀ NỘI về hình sự - hủy hoại tài sản

  • Số bản án: 30/2025/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Hình sự - Hủy hoại tài sản
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 27/03/2025
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THẠCH THẤT, THÀNH PHỐ HÀ NỘI
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Bùi Văn T và đp
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger