trending_up Tìm kiếm thịnh hành hôm nay
  • history Lợi ích khi đăng ký tài khoản VNeID cấp 2
  • search Bản án mẫu tranh chấp đất đai
  • search Thủ tục cấp đổi hộ chiếu online
  • search Điều kiện hưởng lương hưu mới nhất 2026
Chế độ Trả lời thông minh A.I

Hệ thống AI sẽ trả lời nhanh dựa trên hàng triệu văn bản luật, giải đáp trực tiếp khúc mắc của bạn.

TOÀ ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN TAM DƯƠNG

TỈNH VĨNH PHÚC

CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập – Tự do – Hạnh Phúc

Bản án số:30/2025/HS-ST

Ngày 27 - 3- 2025

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TAM DƯƠNG

TỈNH VĨNH PHÚC

-Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán – Chủ toạ phiên toà: Bà Lê Thị Bích Ngọc

Các hội thẩm nhân dân:Bà Kiều Thị Thắng và bà Nguyễn Thị Nghị.

-Thư ký phiên toà: Bà Đỗ Thị Hạnh – Thư ký Toà án nhân dân huyện Tam Dương, tỉnh Vĩnh Phúc.

-Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Tam Dương, tỉnh Vĩnh Phúc tham gia phiên toà: Ông Phan Anh – Kiểm sát viên.

Ngày 27 tháng 3 năm 2025, tại trụ sở Ủy ban nhân dân xã T, huyện T, xét xử sơ thẩm vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 18/2025/TLST-HS ngày 03 tháng 3 năm 2025 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 24/2025/QĐXXST-HS ngày 13 tháng 3 năm 2025 đối với bị cáo:

Lại Văn N, sinh ngày 29/11/1990; Nơi sinh và cư trú: Thôn L, xã Y, huyện V, tỉnh Vĩnh Phúc; trình độ văn hoá:7/12; nghề nghiệp: Lao động tự do; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; con ông: Lại Văn N1 (đã chết); con bà: Trần Thị M, sinh năm 1964; vợ, con: Chưa có vợ con; tiền án, tiền sự: Không. Bị cáo bị bắt tạm giữ từ ngày 25/12/2024 chuyển tạm giam ngày 31/12/2024 đến nay(có mặt).

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án:

-Chị Lại Thị P, sinh năm 1996 (vắng mặt).

Địa chỉ cư trú: Thôn L, xã Y, huyện V, tỉnh Vĩnh Phúc.

Người làm chứng: Anh Phạm Văn K, sinh năm 1976 (vắng mặt)

Địa chỉ cư trú: Thôn G, xã D, huyện T, tỉnh Vĩnh Phúc

Người chứng kiến: Ông Phạm Văn L, sinh năm 1960 (vắng mặt)

Địa chỉ cư trú: Thôn G, xã D, huyện T, tỉnh Vĩnh Phúc

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau: Lại Văn N là người nghiện ma túy từ năm 2017 cho đến ngày bị bắt giữ. Khoảng 12 giờ 00 phút ngày 25/12/2024, Lại Văn N điều khiển xe mô tô nhãn hiệu Honda, loại xe LEAD, biển kiểm soát: 88L1-652.10 từ nhà đến thành phố V gặp và mua 01 gói nhỏ ma túy (heroine) của một người nam giới không biết tên tuổi, địa chỉ với số tiền 200.000 đồng để sử dụng cho bản thân. Sau khi mua được ma túy, Lại Văn N để gói nhỏ ma túy vào trong vỏ bao thuốc lá Thăng Long màu vàng rồi đúc vào túi áo khoác bên trái đang mặc và điều khiển xe mô tô về nhà. Khoảng 12 giờ 55 phút cùng ngày, Lại Văn N điều khiển xe mô tô đến khu vực thuộc địa phận thôn G, xã D, huyện T thì bị lực lượng Công an xã D kiểm tra phát hiện bắt quả tang. Cơ quan điều tra đã thu giữ tại túi áo khoác bên trái Lại Văn Nam đang mặc 01 vỏ bao thuốc lá màu vàng, nhãn hiệu Thăng Long, bên trong có 01 gói bọc giấy bạc màu trắng, chứa các chất cục bột màu trắng, được niêm phong ký hiệu A1. Lại Văn N khai nhận là túi ma túy (Heroine) của N mua về để sử dụng cho bản thân; ngoài ra còn thu giữ của Lại Văn N 01 xe mô tô biển kiểm soát: 88L1-652.10, nhãn hiệu Honda, loại xe Lead, màu đen đã qua sử dụng.

Ngày 25/7/2024, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện T đã ra Quyết định trưng cầu giám định số 1654 trưng cầu Phòng K1 - Công an tỉnh V giám định ma túy đối với mẫu ký hiệu A1.

Tại Kết luận giám định số 3830 ngày 30/12/2024 của Phòng K1 - Công an tỉnh V kết luận: “Tính thể dạng đá màu trắng có trong mẫu ký hiệu A1 gửi giám định có khối lượng 0,2438g (Không phẩy hai bốn ba tám gam, không kể bao bì) là ma túy, loại Heroine (H);

H lại đối tượng giám định: Hoàn trả trực tiếp đối tượng giám định còn lại sau giám định cho cơ quan trưng cầu gồm: Mẫu A1 = 0,2042 gam còn lại sau giám định cùng bao gói được niêm phong theo đúng quy định của pháp luật.”.

Đối với người nam giới đã bán ma túy cho Lại Văn N, quá trình điều tra, N khai nhận không biết tên tuổi, địa chỉ của người nam giới này. Địa điểm giao dịch là khu vực nào của thành phố V, tỉnh Vĩnh Phúc thì N cũng không biết nên Cơ quan điều tra không có căn cứ xác minh, làm rõ để xử lý.

Về vật đã thu giữ:

  • 01 gói bao giấy mẫu trả niêm phong ma túy hoàn lại sau giám định kèm theo kết luận giám định số 3830 của Phòng K1 - Công an tỉnh V;
  • 01 xe mô tô biển kiểm soát: 88L1-652.10, nhãn hiệu Honda, loại xe Lead, màu đen. Quá trình điều tra, xác minh chiếc xe mô tô trên là của chị Lại Thị P, sinh năm 1996 trú tại thôn L, xã Y, huyện V, tỉnh Vĩnh Phúc là em gái của Lại Văn N. Ngày 25/12/2024, N mượn xe máy của chị P để đi có việc, chị P1 không biết N mượn xe để đi mua ma túy nên Cơ quan điều tra không đề cập xử lý. Ngày 21/01/2025, Cơ quan Cảnh sát điều tra – Công an huyện T đã trả lại chiếc xe mô tô trên cho chị Lại Thị P.

Tại Cáo trạng số 23/CT-VKSTD ngày 28 tháng 02 năm 2025 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Tam Dương truy tố bị cáo Lại Văn N về tội: “ tàng trữ trái phép chất ma túy” theo quy định tại Điểm c Khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự.

Tại phiên toà đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Tam Dương thực hành quyền công tố giữ nguyên quyết định đã truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử tuyên bố bị cáo Lại Văn N phạm tội: Tàng trữ trái phép chất ma túy. Áp dụng Đ c Khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38 Bộ luật hình sự. Đề nghị xử phạt Lại Văn N từ 02 năm đến 02 năm 06 tháng tù. Về hình phạt bổ sung do bị cáo không có thu nhập ổn định nên đề nghị không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo N. Về vật chứng đề nghị tịch thu tiêu hủy mẫu trả sau giám định gồm Al= 0,2042 gam cùng toàn bộ bao gói được niêm phong theo quy định; về án phí đề nghị xử lý theo quy định của pháp luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1].Về hành vi tố tụng, quyết định tố tụng của cơ quan điều tra Công an huyện T, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Tam Dương, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự tố tụng của Bộ luật tố tụng hình sự. Bị cáo, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án không có ý kiến hay khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó các hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đều hợp pháp.

[2]. Lời khai nhận tội của bị cáo Lại Văn N tại phiên tòa phù hợp với lời khai của bị cáo tại Cơ quan điều tra, phù hợp với lời khai của những người làm chứng, biên bản thu giữ vật chứng, kết luận giám định và các tài liệu chứng cứ khác đã được thu giữ trong quá trình điều tra, có đủ cơ sở kết luận: Lại Văn N là người nghiện ma túy từ năm 2017 cho đến ngày bị bắt giữ. Khoảng 12 giờ 55 phút ngày 25/12/2024, tại đoạn đường thuộc thôn G, xã D, huyện T, tỉnh Vĩnh Phúc; tổ Công tác Công an xã D, huyện T phát hiện và bắt quả tang Lại Văn N có hành vi tàng trữ 01 gói ma túy có tổng khối lượng là 0,2438 gam, loại Heroine với mục đích để sử dụng cho bản thân. Cơ quan điều tra đã tiến hành lập biên bản bắt người phạm tội quả tang và thu giữ toàn bộ ma túy và các tang vật của vụ án có liên quan.

[3]. Hành vi, tàng trữ trái phép chất ma túy của Lại Văn N là đã phạm vào tội: “ Tàng trữ trái phép chất ma túy”. Tội phạm và hình phạt được quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự:

Điều 249 BLHS quy định: "1. Người nào tàng trữ trái phép chất ma túy mà không nhằm mục đích mua bán, vận chuyển, sản xuất trái phép chất ma túy thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 01 năm đến 05 năm.

a...

...c, Heroine ... có khối lượng từ 0,1 gam đến dưới 05 gam.”

[4].Xét tính chất vụ án là nghiêm trọng, hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội đã xâm phạm đến quy định của Nhà nước về quản lý các chất ma tuý, gây mất trật tự trị an xã hội tại địa phương. Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo N khai báo về các tình tiết của vụ án phù hợp với biên bản bắt người phạm tội quả tang. Hành vi của bị cáo gây ảnh hưởng xấu đến tình hình trật tự trị an, an toàn xã hội tại địa phương, bị cáo nhận thức được ma tuý là chất gây nghiện Nhà nước cấm tàng trữ trái phép nhưng bị cáo vẫn thực hiện hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy.

[5].Về tình tiết giảm nhẹ, tình tiết tăng nặng: Bị cáo thành khẩn khai báo về hành vi phạm tội của mình. Đây là tình tiết giảm nhẹ được quy định tại Điều 51 Bộ luật hình sự nên cần được xem xét khi quyết định hình phạt. Bị cáo không có tình tiết tăng nặng nào. Với tính chất và mức độ phạm tội như trên cần áp dụng một hình phạt tù tương xứng với hành vi phạm tội của bị cáo nhằm giáo dục bị cáo trở thành người có ích cho xã hội và phòng ngừa chung.

[6].Hình phạt bổ sung: Do bị cáo không có thu nhập ổn định nên không áp dụng hình phạt bổ sung để phạt tiền đối với bị cáo.

[7]. Đối với người nam giới đã bán ma túy cho Lại Văn N, quá trình điều tra, N khai nhận không biết tên tuổi, địa chỉ của người nam giới này. Địa điểm giao dịch là khu vực nào của thành phố V, tỉnh Vĩnh Phúc thì N cũng không biết nên Cơ quan điều tra không có căn cứ xác minh, làm rõ để xử lý.

[8].Về vật chứng của vụ án:

  • Đối với 01 gói bao giấy mẫu trả niêm phong ma túy hoàn lại sau giám định kèm theo kết luận giám định số 3830 của Phòng K1 - Công an tỉnh V cần tịch thu tiêu hủy.
  • Đối với 01 xe mô tô biển kiểm soát: 88L1-652.10, nhãn hiệu Honda, loại xe Lead, màu đen. Quá trình điều tra, xác minh chiếc xe mô tô trên là của chị Lại Thị P là em gái của Lại Văn N. Ngày 25/12/2024, N mượn xe máy của chị P để đi có việc, chị P1 không biết N mượn xe máy để đi mua ma túy nên Cơ quan điều tra không đề cập xử lý. Ngày 21/01/2025, Cơ quan Cảnh sát điều tra – Công an huyện T đã trả lại chiếc xe mô tô trên cho chị Lại Thị P.

[9]. Về án phí: Căn cứ khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự quyết 326 về án phí, lệ phí Tòa án bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên

QUYẾT ĐỊNH

  1. Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Lại Văn N phạm tội “ Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
  2. Về điều luật áp dụng: Căn cứ Điểm c, Khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38; Điều 47 Bộ luật hình sự; Điều 106, Điều 136 của Bộ luật tố tụng hình sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về án phí và lệ phí Tòa án.
  3. Về mức hình phạt: Xử phạt bị cáo Lại Văn N 02 (hai) năm tù, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày tạm giữ 25/12/2024.
  4. Xử lý vật chứng:Tịch thu tiêu hủy mẫu trả sau giám định gồm A1= 0,2042 gam cùng toàn bộ bao gói được niêm phong theo quy định, trên giáp lai có chữ ký của người tham gia đóng gói, niêm phong và hình dấu tròn đỏ của Phòng K1 - Công an tỉnh V.
  5. Án phí hình sự sơ thẩm: Bị cáo Lại Văn N phải chịu 200.000 đồng.
  6. Quyền kháng cáo: Bị cáo có mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án vắng mặt tại phiên tòa thì thời hạn kháng cáo là 15 ngày tính từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết.

Nơi nhận:

  • -Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Vĩnh Phúc;
  • -Viện kiểm sát nhân dân huyện Tam Dương;
  • -Chi cục Thi hành án dân sự huyện Tam Dương;
  • - Phân trại khu vực Tam Dương ,Trại tạm giam Công an tỉnh Vĩnh Phúc;
  • -Cơ quan thi hành án hình sự Công an tỉnh Vĩnh Phúc
  • - Người tham gia tố tụng;
  • -LưuHS,VP,THAHS.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN- CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

(Đã ký)

Lê Thị Bích Ngọc

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 30/2025/HS-ST ngày 27/03/2025 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TAM DƯƠNG, TỈNH VĨNH PHÚC về tàng trữ trái phép chất ma túy

  • Số bản án: 30/2025/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Tàng trữ trái phép chất ma túy
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 27/03/2025
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TAM DƯƠNG, TỈNH VĨNH PHÚC
  • Áp dụng án lệ:
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Lại Văn N PT TTTPCMT
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger