|
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ CAO LÃNH TỈNH ĐỒNG THÁP |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
Bản án số: 30/2025/DS-ST
Ngày 24-3-2025
V/v “Tranh chấp về hợp đồng vay tài sản”
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ CAO LÃNH, TỈNH ĐỒNG THÁP
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Phạm Thanh Hiền.
Các Hội thẩm nhân dân:
- Ông Trần Văn Hải.
- Ông Nguyễn Hồng Thơ.
- Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Văn Vũ Hải - Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Cao Lãnh, tỉnh Đồng Tháp.
Ngày 24 tháng 3 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Cao Lãnh, tỉnh Đồng Tháp xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 843/2024/TLST-DS, ngày 29 tháng 11 năm 2024, về việc “Tranh chấp về hợp đồng vay tài sản” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 80/2025/QĐXXST-DS, ngày 06 tháng 3 năm 2025 và Quyết định hoãn phiên tòa số 70/2025/QĐST-DS, ngày 13 tháng 3 năm 2025, giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Lê Khắc H, sinh năm 1992.
Địa chỉ: Ấp A, xã M, thành phố C, tỉnh Đồng Tháp.
Người đại diện theo ủy quyền của anh H: Chị Nguyễn Thị Tuyết T, sinh năm 1982. Địa chỉ: Số F, tổ A, ấp H, xã H, thành phố C, tỉnh Đồng Tháp (Hợp đồng ủy quyền ngày 18/6/2024).
- Bị đơn:
- Trương Đình D, sinh năm 1977;
- Trần Thị Thanh T1, sinh năm 1982.
Cùng địa chỉ: Số F, đường C, Phường A, thành phố C, tỉnh Đồng Tháp.
(Chị T, ông D, bà T1 đều vắng mặt)
NỘI DUNG VỤ ÁN:
- Theo đơn khởi kiện, quá trình tố tụng và đơn xin xét xử vắng mặt nguyên đơn là Lê Khắc H, có chị Nguyễn Thị Tuyết T là người đại diện theo ủy quyền trình bày:
Anh Lê Khắc H và vợ chồng ông D, bà T1 quen biết do bạn bè giới thiệu. Ngày 17/11/2023 anh H có cho vợ chồng ông D, bà T1 vay số tiền 230.000.000 đồng, có làm biên nhận. Mục đích khi vay vợ chồng ông D, bà T1 để mua đất. Thời hạn vay tính từ ngày 17/11/2023 đền ngày trả là ngày 06/12/2023 (biên nhận thể hiện cam kết trong vòng 20 ngày trả lại). Khi vay hai bên có thỏa thuận miệng lãi suất 3%/tháng, lãi tính từ sau 20 ngày kể từ ngày cho vay, vì biên nhận hứa 20 ngày, nếu không trả thì sẽ phát sinh tính lãi, không có lập văn bản, chỉ nói miệng với nhau. Đến hạn trả nợ anh H gọi điện thoại, liên hệ nhiều lần yêu cầu trả nợ nhưng vợ chồng ông D, bà T1 trốn tránh, hứa hẹn nhưng không trả nợ. Từ ngày cho vay đến nay anh H không có nhận tiền vốn, tiền lãi gì của ông D, bà T1. Lê Khắc H cũng không yêu cầu tính lãi đối với số tiền 230.000.000 đồng trong thời hạn cho vay từ ngày 17/11/2023 đến ngày 06/12/2023. Chỉ yêu cầu tính tiền lãi từ ngày 07/12/2023 đến ngày 14/10/2024.
Nay anh Lê Khắc H yêu cầu ông Trương Đình D và bà Trần Thị Thanh T1 liên đới trả số tiền nợ gốc là 230.000.000 đồng và tiền lãi với lãi suất là 1,66%/tháng tính từ ngày 15/10/2024 đến ngày xét xử sơ thẩm 24/3/20252025 là 15 tháng 16 ngày với số tiền là 59.302.000 đồng. Tổng cộng gốc và lãi là 289.302.000 đồng và yêu cầu tiếp tục tính lãi cho đến khi trả xong nợ. Ngoài ra không yêu cầu gì thêm.
- Bị đơn là ông Trương Đình D và bà Trần Thị Thanh T1 đã được Tòa án triệu tập hợp lệ lần thứ hai nhưng vắng mặt không rõ lý do và đã được Tòa án tống đạt Thông báo thụ lý vụ án, Thông báo phiên họp công khai chứng cứ và hòa giải, quyết định đưa vụ án ra xét xử nhưng bà Trần Thị Thanh T1 không có văn bản ý kiến gửi cho Tòa án đối với yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn. Ông Trương Đình D có văn bản ý kiến trình bày: Vợ chồng tôi là Trương Đình D, Trần Thị Thanh T1 có ký tên, ghi họ tên trong biên nhận vay tiền ngày 17/11/2023, có vay số tiền 230.000.000 đồng của chị M, còn người tên Lê Khắc H thì tôi không biết là ai, không có mượn tiền của H. Tôi xin Toà án nhân dân thành phố Cao Lãnh cho tôi thời gian để tìm chứng cứ chứng minh việc tôi vay tiền của chị M và có thời gian tôi thu xếp trả nợ cho chị M.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:
[1] Về tố tụng:
Nguyên đơn là Lê Khắc H khởi kiện yêu cầu bị đơn là ông Trương Đình D và bà Trần Thị Thanh T1 trả số tiền vay nên xác định đây là tranh chấp về hợp đồng vay tài sản theo quy định tại Điều 463 của Bộ luật Dân sự và khoản 3 Điều 26 của Bộ luật tố tụng dân sự.
Bị đơn là ông Trương Đình D và bà Trần Thị Thanh T1 có nơi cư trú tại Số F, đường C, Phường A, thành phố C, tỉnh Đồng Tháp theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật tố tụng dân sự thì vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân thành phố Cao Lãnh, tỉnh Đồng Tháp.
Tòa án triệu tập hợp lệ lần thứ hai nhưng nguyên đơn có đơn xin xét xử vắng mặt; bị đơn là ông Trương Đình D và bà Trần Thị Thanh T1 vắng mặt không rõ lý do, căn cứ điểm b khoản 2 Điều 227, khoản 3 Điều 228 và Điều 238 của Bộ luật tố tụng dân sự, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng tất cả những người tham gia tố tụng.
[2] Về nội dung:
Anh Lê Khắc H yêu cầu ông Trương Đình D và bà Trần Thị Thanh T1 liên đới trả số tiền nợ gốc là 230.000.000 đồng và tiền lãi với lãi suất là 1,66%/tháng tính từ ngày 15/10/2024 đến ngày xét xử sơ thẩm 24/3/20252025 là 15 tháng 16 ngày với số tiền là 59.302.000 đồng. Tổng cộng gốc và lãi là 289.302.000 đồng và yêu cầu tiếp tục tính lãi cho đến khi trả xong nợ. Ngoài ra không yêu cầu gì thêm.
[2.1] Về tiền vay gốc:
Anh Lê Khắc H yêu cầu ông Trương Đình D và bà Trần Thị Thanh T1 liên đới trả số tiền nợ gốc là 230.000.000 đồng.
Xét thấy, nguyên đơn cung cấp chứng cứ chứng minh là biên nhận vay tiền ngày 17/11/2023, thể hiện nội dung “Tôi tên Trương Đình D, vợ Trần Thị Thanh T1 có mượn của ông Lê Khắc H số tiền vay là 230.000.000 (Hai trăm ba mươi triệu đồng), lý do vay: Mua đất, thời hạn trả 20 ngày” và biên nhận vay tiền có chữ ký, ghi họ tên Trương Đình D, Trần Thị Thanh T1.
Bị đơn là Trương Đình D có văn bản ý kiến, thừa nhận vợ chồng tôi là Trương Đình D, Trần Thị Thanh T1 có ký tên, ghi họ tên trong biên nhận vay tiền ngày 17/11/2023, có vay số tiền 230.000.000 đồng.
Trong quá trình Tòa án thụ lý vụ án và thu thập chứng cứ, Tòa án đã tống đạt các văn bản tố tụng, thể hiện rõ nội dung vụ việc và yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, cũng như tài liệu, chứng cứ mà nguyên đơn nộp kèm theo đơn khởi kiện cho phía bị đơn. Tuy nhiên phía bị đơn không có văn bản ý kiến gì nào khác gửi cho Tòa án, yêu cầu phản tố hay yêu cầu gì khác liên quan đến yêu cầu khởi kiện của phía nguyên đơn. Mặt khác, tại khoản 2 Điều 92 Bộ luật Tố tụng dân sự quy định: “Một bên đương sự thừa nhận hoặc không phản đối những tình tiết, sự kiện, tài liệu, văn bản, kết luận của cơ quan chuyên môn mà bên đương sự kia đưa ra thì bên đương sự đó không phải chứng minh”.
Theo Điều 91 của Bộ luật tố tụng dân sự, quy định:
“Điều 91. Nghĩa vụ chứng minh
1. .................................................................................................................................................................................................................................................................................................................................................................................................................................................................................................................................................................................................................................................................................................................................................................................................................................................................................................................................................................................................................................................................................................................................................................................................................................................................................................................................................................................................................................................................................................................................................................................................................................................................................................................................................................................................................................................................................................................................................................................................................................................................................................................................................................................................................................................................................................................................................................................................................................................................................
2. Đương sự phản đối yêu cầu của người khác đối với mình phải thể hiện bằng văn bản và phải thu thập, cung cấp, giao nộp cho Tòa án tài liệu, chứng cứ để chứng minh cho sự phản đối đó.
3. .................................................................................................................................................................................................................................................................................................................................................................................................................................................................................................................................................................................................................................................................................................................................................................................................................................................................................................................................................................................................................................................................................................................................................................................................................................................................................................................................................................................................................................................................................................................................................................................................................................................................................................................................................................................................................................................................................................................................................................................................................................................................................................................................................................................................................................................................................................................................................................................................................................................................................
4. Đương sự có nghĩa vụ đưa ra chứng cứ để chứng minh mà không đưa ra được chứng cứ hoặc không đưa ra đủ chứng cứ thì Tòa án giải quyết vụ việc dân sự theo những chứng cứ đã thu thập được có trong hồ sơ vụ việc.”.
Đối với trình bày của Trương Đình D cho rằng vợ chồng tôi là Trương Đình D, Trần Thị Thanh T1 có ký tên, ghi họ tên trong biên nhận vay tiền ngày 17/11/2023, có vay số tiền 230.000.000 đồng của chị M, còn người tên Lê Khắc H thì không biết là ai, không có mượn tiền của H nhưng nguyên đơn Lê Khắc H không thừa nhận, bị đơn không có chứng cứ chứng minh cho lời trình bày của mình. Mặc khác Tòa án đã Thông báo cho các đương sự cung cấp thông tin cụ thể họ tên, năm sinh, nơi cư trú của người tên M và tài liệu chứng cứ kèm theo cho Tòa án nhưng không ai cung cấp. Do đó trình bày của Trương Đình D không có căn cứ nên không chấp nhận.
Từ những nhận định trên, Hội đồng xét xử xét thấy lời trình bày của phía nguyên đơn là có căn cứ để chấp nhận. Bởi vì, căn cứ vào Điều 463 Bộ luật dân sự quy định: “Hợp đồng vay tài sản là sự thoả thuận giữa các bên, theo đó bên cho vay giao tài sản sản cho bên vay, khi đến hạn trả, bên vay phải hoàn trả cho bên cho vay tài sản cùng loại theo đúng số lượng, chất lượng và chỉ phải trả lãi nếu có thoả thuận hoặc pháp luật có quy định”; và tại khoản 1 Điều 466 Bộ luật dân sự quy định “Bên vay tài sản là tiền thì phải trả đủ tiền khi đến hạn......”.
Căn cứ Điều 91, 92 của Bộ luật tố tụng dân sự; Điều 463, Điều 466 của Bộ luật dân sự, anh Lê Khắc H yêu cầu ông Trương Đình D và bà Trần Thị Thanh T1 liên đới trả số tiền nợ gốc là 230.000.000 đồng là có căn cứ nên chấp nhận.
[2.2] Về tiền lãi: Anh Lê Khắc H yêu cầu ông Trương Đình D và bà Trần Thị Thanh T1 liên đới trả tiền lãi với lãi suất là 1,66%/tháng tính từ ngày 15/10/2024 đến ngày xét xử sơ thẩm 24/3/20252025 là 15 tháng 16 ngày với số tiền là 59.302.000 đồng và yêu cầu tiếp tục tính lãi cho đến khi trả nợ xong.
Xét thấy, theo biên nhận vay tiền ngày 17/11/2023, thể hiện nội dung “Tôi tên Trương Đình D, vợ Trần Thị Thanh T1 có mượn của ông Lê Khắc H số tiền vay là 230.000.000 (Hai trăm ba mươi triệu đồng), lý do vay: Mua đất, thời hạn trả 20 ngày”, không thể hiện thỏa thuận lãi suất.
Theo quy định tại Điều 357, 466 và khoản 2 Điều 468 của Bộ luật dân sự quy định:
“Điều 357. Trách nhiệm do chậm thực hiện nghĩa vụ trả tiền
1. Trường hợp bên có nghĩa vụ chậm trả tiền thì bên đó phải trả lãi đối với số tiền chậm trả tương ứng với thời gian chậm trả.
2. Lãi suất phát sinh do chậm trả tiền được xác định theo thỏa thuận của các bên nhưng không được vượt quá mức lãi suất được quy định tại khoản 1 Điều 468 của Bộ luật này; nếu không có thỏa thuận thì thực hiện theo quy định tại khoản 2 Điều 468 của Bộ luật này.”.
“Điều 466. Nghĩa vụ trả nợ của bên vay
................................................................................................................................................................................................................................................................................................................................................................................................................................................................................................................................................................................................................................................................................................................................................................................................................................................................................................................................................................................................................................................................................................................................................................................................................................................................................................................................................................................................................................................................................................................................................................................................................................................................................................................................................................................................................................................................................................................................................................................................................................................................................................................................................................................................................................................................................................................................................................................................................................................................................
4. Trường hợp vay không có lãi mà khi đến hạn bên vay không trả nợ hoặc trả không đầy đủ thì bên cho vay có quyền yêu cầu trả tiền lãi với mức lãi suất theo quy định tại khoản 2 Điều 468 của Bộ luật này trên số tiền chậm trả tương ứng với thời gian chậm trả, trừ trường hợp có thỏa thuận khác hoặc luật có quy định khác.....”
“Điều 468. Lãi suất
1. Lãi suất vay do các bên thỏa thuận.
Trường hợp các bên có thỏa thuận về lãi suất thì lãi suất theo thỏa thuận không được vượt quá 20%/năm của khoản tiền vay, trừ trường hợp luật khác có liên quan quy định khác …………………………”.
2. Trường hợp các bên có thỏa thuận về việc trả lãi, nhưng không xác định rõ lãi suất và có tranh chấp về lãi suất thì lãi suất được xác định bằng 50% mức lãi suất giới hạn quy định tại khoản 1 Điều này tại thời điểm trả nợ.”.
Hợp đồng vay giữa anh H và ông D, bà T1 theo biên nhận ngày 17/11/2023 của số tiền vay 230.000.000 đồng, thời hạn trả 20 ngày, các bên không thỏa thuận lãi suất nên lãi suất là 0,83%/tháng, tính từ ngày ông D, bà T1 vi phạm nghĩa vụ là ngày 07/12/2023 đến ngày xét xử sơ thẩm ngày 24/3/2025 là 15 tháng 17 ngày, với số tiền lãi là 230.000.000 đồng x 0,83%/tháng x 15 tháng 17 ngày (tính tròn số) là 29.723.000 đồng.
Từ những phân tích và căn cứ nêu trên, anh Lê Khắc H yêu cầu ông Trương Đình D và bà Trần Thị Thanh T1 liên đới trả tiền lãi với lãi suất là 1,66%/tháng tính từ ngày 15/10/2024 đến ngày xét xử sơ thẩm 24/3/20252025 là 15 tháng 16 ngày với số tiền là 59.302.000 đồng là có căn cứ một phần nên chấp nhận một phần.
[3] Về án phí: Đương sự phải chịu án phí dân sự sơ thẩm theo quy định tại Điều 147 của Bộ luật Tố tụng dân sự và Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
[4] Về quyền kháng cáo: Đương sự được quyền kháng cáo bản án theo quy định tại Điều 271, Điều 273 của Bộ luật tố tụng dân sự.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
- Căn cứ vào Điều 26, 35, 39, 91, 92, 147, 227, 228, 238, 271, 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 357, 463, Điều 466, Điều 468 của Bộ luật dân sự; Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
- Tuyên xử:
Chấp nhận một phần yêu cầu của anh Lê Khắc H về việc yêu cầu ông Trương Đình D và bà Trần Thị Thanh T1 liên đới trả số tiền nợ gốc là 230.000.000 đồng và tiền lãi là 59.302.000 đồng. Tổng cộng gốc và lãi là 289.302.000 đồng.
Buộc ông Trương Đình D và bà Trần Thị Thanh T1 có nghĩa vụ phải liên đới trả cho anh Lê Khắc H số tiền vay 230.000.000 đồng và tiền lãi 29.723.000 đồng. Tổng cộng 259.723.000 đồng.
Kể từ ngày bản án có hiệu lực pháp luật (đối với các trường hợp cơ quan thi hành án có quyền chủ động ra quyết định thi hành án) hoặc kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án (đối với các khoản tiền phải trả cho người được thi hành án) cho đến khi thi hành án xong, bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại Điều 357, Điều 468 của Bộ luật Dân sự.
Không chấp nhận yêu cầu của anh Lê Khắc H về việc yêu cầu ông Trương Đình D và bà Trần Thị Thanh T1 liên đới trả số tiền lãi là 29.579.000 đồng.
- Về án phí dân sự sơ thẩm:
Buộc ông Trương Đình D và bà Trần Thị Thanh T1 phải liên đới nộp 12.986.000 đồng án phí dân sự sơ thẩm.
Buộc anh Lê Khắc H phải nộp 1.479.000 đồng án phí dân sự sơ thẩm, được trừ vào tiền tạm ứng án phí đã nộp là 6.727.000 đồng theo biên lại thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0013106, ngày 28/11/2024 của Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Cao Lãnh, tỉnh Đồng Tháp. Như vậy, anh Lê Khắc H còn được nhận lại số tiền 5.248.000 đồng.
- Đương sự vắng mặt có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận được bản án hoặc kể từ ngày bản án được niêm yết theo quy định pháp luật.
- Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TOÀ Phạm Thanh Hiền |
Bản án số 30/2025/DS-ST ngày 24/03/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ CAO LÃNH, TỈNH ĐỒNG THÁP về tranh chấp về hợp đồng vay tài sản
- Số bản án: 30/2025/DS-ST
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp về hợp đồng vay tài sản
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 24/03/2025
- Loại vụ/việc: Dân sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ CAO LÃNH, TỈNH ĐỒNG THÁP
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Tranh chấp hợp đồng vay tài sản
