Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

QUẬN NINH KIỀU

THÀNH PHỐ CẦN THƠ

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

Bản án số: 30/2025/HNGĐ-ST

Ngày: 18/3/2025

V/v: “Ly hôn”

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN NINH KIỀU, THÀNH PHỐ CẦN THƠ

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Thúy Mai

Các Hội thẩm nhân dân:

  1. Ông Võ Hoàng Vũ
  2. Ông Trần Thanh Bình

- Thư ký phiên tòa: Bà Võ An Trinh – Thư ký Tòa án nhân dân quận Ninh Kiều, thành phố Cần Thơ.

Trong ngày 18 tháng 3 năm 2025, tại trụ sở Tòa án Nhân dân quận Ninh Kiều, thành phố Cần Thơ xét xử sơ thẩm vụ án thụ lý số 13/2025/TLST-HN ngày 12 tháng 02 năm 2025 về việc “Ly hôn”. Theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số 182/2025/QĐXX-ST ngày 11 tháng 3 năm 2025 giữa các đương sự:

Nguyên đơn: Ông Trần Quang T, sinh năm 1992

Địa chỉ: Tổ A, ấp T, xã T, huyện B, tỉnh Vĩnh Long

Bị đơn: Bà Phan Thúy K, sinh năm 1995

Địa chỉ: Tổ A, ấp T, xã T, huyện B, tỉnh Vĩnh Long

(Các đương sự vắng mặt tại phiên tòa)

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Tại đơn khởi kiện đề ngày 07/01/2025 và bản tự khai nguyên đơn – ông Trần Quang T trình bày:

Ông và bà Phan Thúy K tự nguyện đi đến hôn nhân, có đăng ký kết hôn và được Ủy ban nhân dân xã T, huyện B, tỉnh Vĩnh Long cấp giấy chứng nhận kết hôn vào năm 2013. Ông bà chung sống hạnh phúc được khoảng 05 năm, sau đó phát sinh nhiều mâu thuẫn dẫn đến thường xuyên gây gổ với nhau. Nhận thấy mục đích hôn nhân không đạt được, tình cảm vợ chồng không thể hàn gắn nên ông yêu cầu được ly hôn với bà K. Trong thời gian chung sống ông và bà K có 01 con chung tên Trần Trâm A (nữ) sinh ngày 01/11/2012 hiện do ông đang chăm sóc, nuôi dưỡng. Sau khi ly hôn, ông T yêu cầu được trực tiếp nuôi dưỡng, giáo dục con chung, không yêu cầu bà K cấp dưỡng nuôi con. Ông và bà K không có tài sản chung và không có nợ chung.

Bị đơn – bà Phan Thúy K trình bày về thời điểm tiến đến hôn nhân, con chung, tài sản chung và nợ chung có nội dung như ông T trình bày. Bà xác định quá trình chung sống giữa ông bà có mâu thuẫn, không thể hàn gắn nên cũng thống nhất ly hôn. Do ông T và bà K cùng có đề nghị vắng mặt trong quá Tòa án giải quyết vụ kiện nên vụ kiện thuộc trường hợp không tiến hành hòa giải được. Vì vậy, vụ kiện được đưa ra xét xử.

Tại phiên tòa: ông T và bà K vắng mặt.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án, Hội đồng xét xử nhận định:

[1] Ông Trần Quang T và bà Phan Thúy K kết hôn trên cơ sở tự nguyện, có đăng ký kết hôn và được Ủy ban nhân dân xã T, huyện B, tỉnh Vĩnh Long cấp giấy chứng nhận kết hôn số 43/2013 ngày 10/4/2013 nên là hôn nhân hợp pháp. Ông Trần Quang T khởi kiện yêu cầu được ly hôn với bà Phan Thúy K nên xác định quan hệ pháp luật là “Tranh chấp ly hôn”, tranh chấp này thuộc thẩm quyền giải quyết của Toà án nhân dân quận Ninh Kiều theo quy định tại khoản 1 Điều 28, khoản 1 Điều 35, Khoản 1 Điều 39 Bộ luật tố tụng dân sự.

Ông Trần Quang T và bà Phan Thúy K có yêu cầu giải quyết vắng mặt nên Hội đồng xét xử căn cứ vào Điều 227 Bộ luật tố tụng dân sự tiến hành xét xử vắng mặt ông T và bà K.

[2] Xét yêu cầu khởi kiện của ông Trần Quang T:

Theo ông Trần Quang T trình bày thì trong quá trình chung sống giữa ông và bà Phan Thúy K phát sinh mâu thuẫn do bất đồng quan điểm sống dẫn đến cuộc sống không được hạnh phúc. Do đó, ông bà đã sống ly thân được hơn 9 năm. Nhận thấy, hôn nhân không hạnh phúc, tình cảm vợ chồng không thể hàn gắn nên ông T yêu cầu được ly hôn với bà K. Bà Phan Thúy K cũng thống nhất với yêu cầu ly hôn của ông T. Hội đồng xét xử xét thấy, mục đích của hôn nhân là xây dựng gia đình ấm no, tiến bộ, hạnh phúc; các thành viên gia đình có nghĩa vụ tôn trọng, quan tâm, chăm sóc, giúp đỡ nhau; cùng nhau chia sẻ, thực hiện các công việc trong gia đình; vợ chồng có nghĩa vụ chung sống với nhau. Tuy nhiên, ông T và bà K đã sống ly thân, bà K cũng đồng ý ly hôn theo yêu cầu của ông T. Từ đó, cho thấy hôn nhân giữa ông T và bà K mâu thuẫn đã thực sự trầm trọng, mục đích hôn nhân không đạt được nên yêu cầu ly hôn của ông T là có cơ sở chấp nhận.

Về con chung: Ông T và bà K trình bày có 01 con chung tên Trần Trâm A (nữ) sinh ngày 01/11/2012. Ông T yêu cầu được trực tiếp nuôi dưỡng, giáo dục con chung, không yêu cầu bà K cấp dưỡng nuôi con. Hội đồng xét xử xét thấy, theo ông T trình bày thì ông T là người trực tiếp nuôi dưỡng, giáo dục con chung từ khi ông T và bà K sống ly thân cho đến nay. Cháu T1 cũng trình bày trong bản tự khai là cháu sống với cha từ nhỏ và có nguyện vọng được tiếp tục sống với cha. Do đó, để ổn định cuộc sống của cháu T1 thì giao cháu T1 cho ông T tiếp tục nuôi dưỡng, giáo dục là phù hợp. Ông T không yêu cầu bà K cấp dưỡng nuôi con là sự tự nguyện của ông T. Việc thay đổi người trực tiếp nuôi con và vấn đề cấp dưỡng nuôi con được pháp luật quy định cho cha, mẹ trực tiếp nuôi con và cha mẹ không trực tiếp nuôi con để bảo vệ lợi ích mọi mặt của con chung cho đến khi con chung đủ 18 tuổi. Đồng thời, pháp luật cũng quy định việc thăm nom, chăm sóc và giáo dục con chung là quyền và nghĩa vụ của người không trực tiếp nuôi con, không ai có quyền ngăn cản.

Về tài sản chung và nợ chung: Ông T và bà K trình bày không có tài sản chung, nợ chung nên Hội đồng xét xử không xem xét. Nếu sau này phát sinh tranh chấp và có đơn kiện sẽ được xem xét giải quyết thành vụ kiện khác.

[3] Về án phí: Ông T phải chịu án phí hôn nhân sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào:

  • - Khoản 1 Điều 28, Khoản 1 Điều 35, Khoản 1 Điều 39, Điều 146, Điều 147, Điều 227 và Điều 273 Bộ luật Tố tụng Dân Sự;
  • - Các Điều 51, 56, 57, 58, 81, 82, 83 và 84 Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014;
  • - Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về án phí, lệ phí Tòa án.

Tuyên xử:

  1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn – ông Trần Quang T.
    • - Về quan hệ hôn nhân: Ông Trần Quang T được ly hôn với bà Phan Thúy K.
    • - Về con chung: Giao con chung tên Trần Trâm A (nữ) sinh ngày 01/11/2012 cho ông Trần Quang T trực tiếp nuôi dưỡng, giáo dục; ông Trần Quang T không yêu cầu bà Phan Thúy K cấp dưỡng nuôi con.
    • Việc thăm nom, chăm sóc và giáo dục con chung là quyền và nghĩa vụ của người không trực tiếp nuôi con, không ai có quyền ngăn cản.
    • - Về tài sản chung và nợ chung: Không xem xét. Nếu sau này phát sinh tranh chấp và có đơn kiện sẽ được xem xét giải quyết thành vụ kiện khác.
  2. Về án phí: Ông Trần Quang T phải chịu 300.000đồng (Ba trăm nghìn đồng) án phí hôn nhân sơ thẩm, cấn trừ vào 300.000đồng (Ba trăm nghìn đồng) tiền tạm ứng án phí ông T đã nộp theo biên lai thu số 0005625 ngày 22/01/2025 của Chi cục Thi hành án dân sự quận Ninh Kiều, thành phố Cần Thơ thì ông T đã nộp đủ tiền án phí.
  3. Ông Trần Quang T và bà Phan Thúy K được quyền kháng cáo trong thời hạn 15 (Mười lăm) ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết theo quy định.

Nơi nhận:

  • - Các đương sự;
  • - VKSNDQNK;
  • - CCTHADSQNK;
  • - UBND xã T,
  • H. B, T. Vĩnh Long;
  • - Lưu hồ sơ.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Nguyễn Thị Thúy Mai

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 30/2025/HNGĐ-ST ngày 18/03/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN NINH KIỀU, THÀNH PHỐ CẦN THƠ về ly hôn

  • Số bản án: 30/2025/HNGĐ-ST
  • Quan hệ pháp luật: Ly hôn
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 18/03/2025
  • Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN NINH KIỀU, THÀNH PHỐ CẦN THƠ
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Ông Trần Quang T khởi kiện bà Phan Thúy K yêu cầu ly hôn và được trực tiếp nuôi con
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger