Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

THÀNH PHỐ MỸ THO

TỈNH TIỀN GIANG

Bản án số: 30/2025/HS-ST

Ngày:17-03-2025

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ MỸ THO, TỈNH TIỀN GIANG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Cao Thị Trúc Linh.

Các Hội thẩm nhân nhân dân:

  1. Ông Nguyễn Tất Ái
  2. Bà Lê Thị Bé Bảy

Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Văn Trạng - Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Mỹ Tho, tỉnh Tiền Giang.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Mỹ Tho, tỉnh Tiền Giang tham gia phiên tòa: Ông Trần Nguyễn Minh N- Kiểm sát viên.

Ngày 12 và 17 tháng 3 năm 2025 tại trụ sở trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Mỹ Tho, tỉnh Tiền Giang xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 26/2025/TLST-HS ngày 14 tháng 02 năm 2025 đối với bị cáo:

Trần Minh T, sinh ngày 15/9/1985, tại Tiền Giang. HKTT: số I đường L, phường E, thành phố M, tỉnh Tiền Giang. Nơi cư trú: số I đường L, phường E, thành phố M, tỉnh Tiền Giang; Nghề nghiệp: Nhân viên sửa máy tính; Trình độ văn hóa: 12/12; Dân tộc: Kinh; Quốc tịch: Việt Nam; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Con ông Trần Phước T1 và bà Nguyễn Thị Ngọc T2; Bị cáo có 01 người em ruột; Bị cáo có vợ tên Võ Thị N1 và có 01 con ruột sinh năm 2009;

Tiền án, Tiền sự: Không có.

Bị cáo bị áp dụng biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú.

Bị cáo có mặt tại phiên tòa.

* Người bị hại:

  • - Bà Phạm Huỳnh Bảo N2, sinh năm 1989; vắng mặt
  • Đ chỉ: số 794 khu phố D, phường I, thành phố M, tỉnh Tiền Giang
  • - Bà Nguyễn Thị T3 sinh năm 1995; có mặt
  • Địa chỉ: ấp P, xã P, huyện T, tỉnh Tiền Giang.

* Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

  • - Bà Nguyễn Thị Ngọc T2 sinh năm 1968. Có mặt
  • Đ chỉ: Số I đường L, phường E, thành phố M, tỉnh Tiền Giang.

* Người làm chứng:

  • - Bà Nguyễn Thị Thanh T4 sinh năm 1991; vắng mặt
  • Địa chỉ: số B khu phố D, phường I, thành phố M, tỉnh Tiền Giang.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau: khoản 21 giờ ngày 09/10/2024, bị cáo Trần Minh T đến cơ sở massage T7 tại ấp M, xã M để massage. Đến khoản 23 giờ cùng ngày, bị cáo T ra về thì phát hiện 02 chiếc điện thoại hiệu Iphone của chị Phạm Huỳnh Bảo N2 và chị Nguyễn Thị T3 để trên quầy lễ tân không ai trông coi nên nảy sinh ý định trộm. Bị cáo T dắt xe mô tô hiệu 63B9 -456.55 ra khởi khu vực để xe rồi quay lại lén lút lấy trộm 02 chiếc điện thoại trên bỏ vào túi quần rồi điều khiển xe về nhà ngủ. Sau khi phát hiện mất điện thoại, chị N2 và chị T3 đã trích xuất camera an ninh thì phát hiện T đã lấy trộm nên trình báo công an. Đến khoản 16 giờ 30 phút ngày 10/10/2024 khi bị cáo trên đường đi làm về thì bị lực lượng công an kiểm tra và mời làm việc. Tại cơ quan điều tra, bị cáo khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội mà bị cáo đã thực hiện.

Vật chứng thu giữu gồm:

  • 01 điện thoại Iphone 11 Promax 256GB màu vàng;
  • 01 điện thoại Iphone 15 Promax 256GB màu bạc;
  • 01 xe mô tô hiệu honda loại Wave S màu vàng đen biển số 63B9- 456.55.

Hiện tại cơ quan điều tra đã giao trả toàn bộ vật chứng cho chủ sở hữu.

Về trách nhiệm dân sự: Bị hại Phạm Huỳnh Bảo N2 và Nguyễn Thị T3 đã nhận lại toàn bộ tài sản bị trộm và không yêu cầu bị cáo bồi thường về phần trách nhiệm dân sự.

Đối với xe máy honda loại Wave S màu vàng đen biển số 63B9- 456.55là của ông Nguyễn Văn T5 sinh năm 1965, địa chỉ tại 6 ấp M, xã M, thành phố M mua từ tháng 10 năm 2014. Đến giữa năm 2020 ông T5 đã bán xe trên cho bà Nguyễn Thị Nhọc T6, nhưng chưa làm thủ tục sang tên, hiện bà T6 đang quản lý sử dụng xe trên.

Tại Bản kết luận định giá tài sản số 65 ngày 10/11/2024 của Hội đồng định giá tài sản thành phố M kết luận: 01 điện thoại Iphone 11 Promax 256GB màu vàng có giá trị là 12.450.000 đồng; 01 điện thoại Iphone 15 Promax 256GB màu bạc, trị giá 25.893.000 đồng. Tổng giá trị tài sản mà bị cáo chiếm đoạt là 38.343.000 đồng

Tại Cáo trạng số 31/CT-VKSMT ngày 13/02/2025 Viện kiểm sát nhân dân thành phố Mỹ Tho đã truy tố bị cáo Trần Minh T về tội “Trộm cắp tài sản” theo quy định tại khoản 1 Điều 173 Bộ luật Hình sự.

Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát giữ nguyên quyết định truy tố đối với bị cáo, phân tích các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, đề nghị Tòa án xử phạt bị cáo Trần Minh T từ 01 (một)năm 06 (sáu) tháng đến 02 (Hai) năm tù nhưng cho hưởng án treo.

Bị cáo Trần Minh T nhất trí với ý kiến luận tội của đại diện Viện kiểm sát truy tố bị cáo về tội “Trộm cắp tài sản”, về hình phạt và xử lý vật chứng.

Bị cáo nhận thức được hành vi trộm cắp tài sản là vi phạm pháp luật, nhưng vì không tỉnh táo do say sỉn nên mới thực hiện hành vi. Xin Hội đồng xét xử xử mức hình phạt thấp, sớm được về tích cực lao động lo cho gia đình.

NHẬN ĐỊNH CỦA HỘI ĐỒNG XÉT XỬ:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào tài liệu trong hồ sơ vụ án được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an thành phố M, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Mỹ Tho, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo, bị hại, không có người nào có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

[2] Tại phiên tòa, bị cáo khai nhận về hành vi mà bị cáo đã thực hiện đúng với nội dung bản cáo trạng của Viện kiểm sát. Lời khai nhận của bị cáo phù hợp với lời khai người bị hại, vật chứng thu giữ, cùng các chứng cứ, tài liệu có trong hồ sơ vụ án. Do đó Hội đồng xét xử có đủ cơ sở kết luận: Vào khoảng 23 giờ ngày 09/10/2024, bị cáo đã có hành vi lén lút trộm cắp tài sản của chị Phạm Huỳnh Bảo N2 và chị Nguyễn Thị T3 có tổng giá trị 38.343.000 đồng với mục đích sử dụng và tiêu xài cá nhân. Do đó, hành vi của bị cáo đã phạm vào tội “Trộm cắp tài sản” theo quy định tại khoản 1 Điều 173 Bộ luật hình sự.

[3] Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm bất hợp pháp đến quyền sở hữu tài sản của người bị hại được pháp luật bảo vệ, gây mất an ninh trật tự, an toàn xã hội tại địa phương. Khi thực hiện tội phạm bị cáo có đủ năng lực chịu trách nhiệm hình sự, nhận thức được hành vi chiếm đoạt tài sản của người khác là vi phạm pháp luật, nhưng vẫn cố ý thực hiện nhằm thỏa mãn lợi ích cá nhân. Do đó, cần xử phạt bị cáo mức hình phạt nghiêm, tương xứng với tính chất mức độ do hành vi của bị cáo gây ra nhằm giáo dục bị cáo và phòng ngừa tội phạm.

[4] Bị cáo không có tiền án, tiền sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo có thái độ thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải về hành vi mà bị cáo đã thực hiện. Bị cáo phạm tội lần đầu, gây thiệt hại không lớn do tài sản đã được giao trả lại cho chủ sở hữu. Ngoài ra, bị cáo là hiện lao động chính của gia đình có hoàn cản khó khăn được Chính quyền đại phương xác nhận, và có ông ngoại là người có công với cách mạng. Quá trình điều tra, bị cáo đã tích cực khắc phục hậu quả, tự nguyện bồi thường thiệt hại cho bị hại, dù bị hại không nhận thêm chi phí bồi thường nhưng cũng thể hiện được bị cáo đã tự nguyện sửa chữa, bồi thường thiệt hại mà bị cáo gây ra nên cần xem xét cho bị cáo hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm b, h, i, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự. Xét thấy, bị cáo có nhiều tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, có nhân thân tốt, và có nơi cư trú rõ ràng nên không cần thiết phải cách ly bị cáo ra khởi xã hội, việc giao bị cáo cho chính quyền địa phương nơi bị cáo cư trú giám sát, giáo dục cũng đủ để cải tạo bị cáo thành người có ích cho xã hội, thể hiện chính sách khoan hồng của nhà nước đối với người phạm tội.

[5] Về trách nhiệm dân sự: Người bị hại đã nhận lại đủ tài sản bị mất trộm, không có yêu cầu bồi thường gì khác và có đơn xin bãi nãi cho bị cáo, nên Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét.

[6] Về xử lý vật chứng: Cơ quan điều tra đã giao trả 01 điện thoại Iphone 11 Promax 256GB màu vàng cho chị N2 và 01 điện thoại Iphone 15 Promax 256GB màu bạc cho chị T3.

Đối với xe mô tôhiệu honda loại Wave S màu vàng đen biển số 63B9- 456.55, bị cáo sử dụng khi thực hiện hành vi phạm tội là tài sản của bà Nguyễn Thị Ngọc T2 (chủ sở hữu bán chưa sang tên). Quá trình điều tra, bà T2 khai cho bị cáo mượn sử dụng để làm phương tiện đi lại, bà không biết bị cáo sử dụng đi trộm cắp tài sản nên cơ quan điều tra đã giao trả cho bà T2 là có cơ sở phù hợp với quy định của pháp luật.

[7] Đối với lời đề nghị của đại diện Viện kiểm sát xét thấy phù hợp nên Tòa chấp nhận.

Về án phí: Bị cáo phải chịu theo quy định pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

1. Tuyên bố bị cáo Trần Minh T phạm tội “Trộm cắp tài sản”.

Áp dụng khoản 1 Điều 173; Điều 50; điểm b, h,i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 65 của Bộ Luật Hình sự;

Xử phạt bị cáo Trần Minh T 01(một) năm tù, nhưng cho hưởng án treo. Thời gian thử thách là 02 năm tính từ ngày tuyên án sơ thẩm.

Trong thời gian thử thách giao bị cáo Trần Minh T cho Ủy ban nhân dân phường E, thành phố M, tỉnh Tiền Giang giám sát, giáo dục. Gia đình bị cáo có trách nhiệm phối hợp với chính quyền địa phương trong việc giám sát, giáo dục bị cáo.

Trường hợp Trần Minh T thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định tại khoản 1 Điều 92 của Luật thi hành án hình sự.

Trong thời gian thử thách, nếu người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ theo quy định của Luật thi hành án hình sự 02 lần trở lên thì Tòa án có thể quyết định buộc người được hưởng án treo phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã được hưởng án treo.

2. Về trách nhiệm dân sự: bị hại đã được nhận lại tài sản và không có yêu cầu bồi thường gì thêm nên Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét

3. Về án phí: Căn cứ khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 của Ủy ban Thường vụ Quốc Hội ngày 30/12/2016.

Bị cáo Trần Minh T phải chịu 200.000 (Hai trăm ngàn) đồng án phí hình sự sơ thẩm.

Thời hạn kháng cáo đối với bản án sơ thẩm là 15 ngày, kể từ ngày tuyên án. Đối với bị hại vắng mặt tại phiên tòa thì thời hạn kháng cáo tính từ ngày nhận được bản án hoặc ngày bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật./.

Nơi nhận:TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ

THẨM PHÁN-CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

  • - TAND tỉnh Tiền Giang;
  • - VKSND TP Mỹ Tho;
  • - CCTHADS TP Mỹ Tho;
  • - Bị cáo, NNTGTT;
  • - Lưu hồ sơ, án văn.

Cao Thị Trúc Linh

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 30/2025/HS-ST ngày 17/03/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ MỸ THO, TỈNH TIỀN GIANG về hình sự sơ thẩm về tội trộm cắp tài sản

  • Số bản án: 30/2025/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Hình sự sơ thẩm về tội Trộm cắp tài sản
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 17/03/2025
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ MỸ THO, TỈNH TIỀN GIANG
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: khoảng 21 giờ ngày 09/10/2024, bị cáo Trần Minh Trí đến cơ sở massage Tâm Thanh tại ấp Mỹ Thạnh, xã Mỹ Phong để massage. Đến khoản 23 giờ cùng ngày, bị cáo Trí ra về thì phát hiện 02 chiếc điện thoại hiệu Iphone của chị Phạm Huỳnh Bảo Ngọc và chị Nguyễn Thị Thuận để trên quầy lễ tân không ai trông coi nên nảy sinh ý định trộm. Bị cáo Trí dắt xe mô tô hiệu 63B9 -456.55 ra khởi khu vực để xe rồi quay lại lén lút lấy trộm 02 chiếc điện thoại trên bỏ vào túi quần rồi điều khiển xe về nhà ngủ. Sau khi phát hiện mất điện thoại, chị Ngọc và chị Thuận đã trích xuất camera an ninh thì phát hiện Trí đã lấy trộm nên trình báo công an. Đến khoản 16 giờ 30 phút ngày 10/10/2024 khi bị cáo trên đường đi làm về thì bị lực lượng công an kiểm tra và mời làm việc. Tại cơ quan điều tra, bị cáo khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội mà bị cáo đã thực hiện.
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger