|
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CAO LỘC TỈNH LẠNG SƠN |
CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
Bản án số: 30/2025/HS-ST
Ngày 12-03-2025
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CAO LỘC, TỈNH LẠNG SƠN
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Văn Bẩy.
Các Hội thẩm nhân dân:
Ông Trần Đình Đông.
Ông Tô Quang Trung.
Thư ký phiên tòa: Bà Mạc Thị Sầm - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Cao Lộc, tỉnh Lạng Sơn.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Cao Lộc, tỉnh Lạng Sơn tham gia phiên tòa: Ông Đào Ngọc Sơn - Kiểm sát viên.
Ngày 12 tháng 3 năm 2025 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Cao Lộc, tỉnh Lạng Sơn xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 18/2025/TLST-HS ngày 12 tháng 02 năm 2025, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 24/2025/QĐXXST-HS ngày 27 tháng 02 năm 2025 đối với bị cáo:
Phan Văn Đ, sinh ngày 21/11/1992 tại huyện C, tỉnh Lạng Sơn; nơi đăng ký hộ khẩu thường trú và chỗ ở hiện nay: Thôn C, xã B, huyện C, tỉnh Lạng Sơn; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ học vấn: 11/12; dân tộc: Nùng; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Phan Văn C và bà Vũ Thị M, có vợ là Lộc Thị H và con 01 con sinh năm 2016; tiền án, tiền sự: không; nhân thân: chưa bị xử lý hình sự, chưa bị xử lý vi phạm hành chính, chưa bị xử lý kỷ luật. Bị cáo bị tạm giữ, tại Nhà tạm giữ Công an huyện C, tỉnh Lạng Sơn từ ngày 15/12/2024, tạm giam từ ngày 21/12/2024 cho đến nay. Có mặt.
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án: chị Lộc Thị H, sinh năm 1987, địa chỉ: Thôn C, xã B, huyện C, tỉnh Lạng Sơn, có mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Phan Văn Đ là người nghiện H1 từ năm 2017 cho đến nay. Khoảng 13 giờ ngày 15/12/2024, Phan Văn Đ điều khiển xe mô tô BKS 12D1-357.49 của vợ, đi từ nhà đến tổ I, khu D, thị trấn Đ, huyện C, tỉnh Lang Sơn để tìm mua ma túy với mục đích để sử dụng thì Đ gặp một người phụ nữ khoảng 50 tuổi không rõ tên, tuổi địa chỉ cụ thể, hỏi mua 200.000 (hai trăm nghìn) đồng tiền ma tuý. Phan Văn Đ đưa tiền thì người phụ nữ trên đưa cho bị cáo 02 (hai) gói ma tuý bên ngoài bọc giấy màu trắng có dòng kẻ. Sau khi mua được ma túy, bị cáo cất ma túy vào phần ốp điện thoại di động và cất vào túi quần đang mặc rồi điều khiển xe mô tô BKS 12D1-357.49 đi về nhà, trên đường đi về thì bị lực lượng Công an kiểm tra phát hiện bắt quả tang. Tiến hành lập biên bản bắt người phạm tội quả tang đối với Phan Văn Đ, thu giữ toàn bộ tang vật gồm: 02 (hai) gói giấy nhỏ màu trắng có dòng kẻ, bên trong mỗi gói giấy đều có chứa chất bột màu trắng; 01 (một) chiếc xe môtô nhãn hiệu Honda JUPITER FI màu đen, cũ đã qua sử dụng, biển kiểm soát 12D1-357.49; 01 (một) chiếc điện thoại di động nhân hiệu OPPO A92 màu xanh dương, cũ, đã qua sử dụng; 01 (một) căn cước công dân mang tên Phan Văn Đ.
Tại Bản Kết luận giám định số 1227/KL-KTHS ngày 18/12/2024 của Phòng K Công an tỉnh L kết luận: Chất bột màu trắng thu giữ của Phan Văn Đ là chất ma túy Heroin, có khối lượng 0,121 gam.
Tại Bản cáo trạng số 27/CT-VKS- CL ngày 12/02/2024 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Cao Lộc, tỉnh Lạng Sơn truy tố bị cáo Phan Văn Đ về tội “Tàng trữ trái phép chất ma tuý”, quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 của Bộ luật Hình sự.
Tại phiên tòa bị cáo thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội của bản thân như Cáo trạng đã truy tố. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án là chị Lộc Thị H thừa nhận, bị cáo lấy xe máy của chị đi để mua ma tuý về sử dụng nhưng chị không biết, chị đã được trả lại xe máy và không đề nghị Hội đồng xem xét giải quyết.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Cao Lộc, tỉnh Lạng Sơn giữ nguyên quyết định truy tố đối với bị cáo và đề nghị Hội đồng xét xử: Tuyên bố bị cáo Phan Văn Đ phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”. Căn cứ điểm c khoản 1 Điều 249; Điều 38; Điều 50; điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự, xử phạt bị cáo từ 15 tháng đến 20 tháng tù giam; không đề nghị áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.
Về xử lý vật chứng: Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 47 của Bộ luật Hình sự; điểm a, c khoản 2, điểm a khoản 3 Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự. Đề nghị Hội đồng xét xử tuyên tịch thu tiêu huỷ số ma tuý và những vật chứng không có giá trị sử dụng; đối với vật chứng là tài sản không dùng vào việc phạm tội, giấy tờ tuỳ thân không liên quan cần trả lại cho bị cáo. Đối với chiếc xe môtô nhãn hiệu Honda JUPITER FI màu đen, cũ đã qua sử dụng, biển kiểm soát 12D1-357.49 của chị Lộc Thị H được Cơ quan cảnh sát điều tra công an huyện C, tỉnh Lạng Sơn đã trả lại chiếc xe cho chủ sở hữu hợp pháp và không đề nghị Toà án xem xét nên Hội đồng xét xử không xem xét. Ngoài ra, bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Phần tranh luận, bị cáo không có ý kiến tranh luận với đại diện Viện kiểm sát.
Lời nói sau cùng, bị cáo xin Hội đồng xét xử cho hưởng mức án nhẹ nhất để bị cáo sớm trở về với gia đình và xã hội.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Điều tra viên, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo đã khai báo phù hợp với các chứng cứ khác và không có khiếu nại về hành vi, quyết định của người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Điều tra viên, Kiểm sát viên là hợp pháp.
[2] Xét lời khai nhận hành vi phạm tội cửa bị cáo tại phiên toà, Hội đồng xét xử thấy rằng: Lời khai của bị cáo tại phiên toà phù hợp với lời khai tại Cơ quan cảnh sát điều tra; phù hợp với các tài liệu chứng cứ khác đã được thu thập hợp pháp có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa, đủ cơ sở xác định: ngày 15/12/2024, Phan Văn Đ có hành vi Tàng trữ trái phép 0,121gam ma tuý Heroin với mục đích để sử dụng, đủ yếu tố cấu thành tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”, tội phạm và hình phạt được quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 của Bộ luật Hình sự như Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân huyện Cao Lộc, tỉnh Lạng Sơn truy tố bị cáo là đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.
[4] Xét đề nghị của đại diện Viện kiểm sát, ý kiến của bị cáo và để có mức án phù hợp, Hội đồng xét xử thấy rằng: Bị cáo đủ tuổi và đủ năng lực chịu trách nhiệm hình sự, thực hiện hành vi nghiêm trọng với lỗi cố ý, gây nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm chế độ quản lý các chất ma túy của Nhà nước, hành vi này phải bị tuyên là có tội và chịu hình phạt. Để có mức hình phạt phù hợp với hành vi, Hội đồng đánh giá các tình tiết về nhân thân, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, thấy rằng:
[5] Về nhân thân, bị cáo là người nghiện ma tuý, nhưng chưa bị xử lý vi phạm hành chính, chưa bị xử lý kỷ luật; về tình tiết tăng nặng, ngoài tình tiết tăng nặng định khung, bị cáo không có tình tiết tăng nặng khác; về tình tiết giảm nhẹ, bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải được áp dụng tình tiết giảm nhẹ theo quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự.
[6] Từ những phân tích nêu trên, Hội đồng xét xử xét thấy, cần cách ly bị cáo ra khỏi xã hội một thời gian nhất định, buộc bị cáo phải chấp hành hình phạt tù mới đảm bảo tính nghiêm minh, răn đe đối với bị cáo, cũng như phòng ngừa tội phạm chung cho xã hội. Ngoài ra, cũng bảo đảm cho bị cáo có điều kiện cai nghiện, sớm cắt cơn cai thuốc và trở về với cộng đồng, xã hội như đề nghị của đại diện Viện kiểm sát là có căn cứ chấp nhận.
[7] Về hình phạt bổ sung: bị cáo không có nghề nghiệp ổn định, không có tài sản, là người nghiện ma túy nên Hội đồng xét xử miễn áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.
[8] Về vật chứng: cần áp dụng Điều 47 của Bộ luật Hình sự; Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự, để tịch thu tiêu hủy số ma túy còn lại sau giám định và vật chứng không có giá trị sử dụng; tài sản không liên quan đến việc phạm tội cần trả lại cho bị cáo nhưng cần tạm giữ để bảo đảm thi hành án. Đối với tài sản khác, cơ quan điểu tra đã trả cho bà Lộc Thị H và không đề nghị xem xét thì Hội đồng xét xử không xem xét.
[9] Đối với người phụ nữ bán ma tuý cho Phan Văn Đ nhưng không biết họ, tên, địa chỉ, nên không có căn cứ để xác minh làm rõ.
[10] Bị cáo là người bị kết án thì phải chịu án phí theo quy định tại khoản 2 Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự và điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội và có quyền kháng cáo bản án theo quy định tại Điều 331, Điều 333 của Bộ luật Tố tụng hình sự.
[11] Ý kiến của đại diện Viện kiểm sát tại phiên tòa là có căn cứ, phù hợp với quy định pháp luật nên được Hội đồng xét xử chấp nhận.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ điểm c khoản 1 Điều 249; Điều 38; Điều 50; điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự; áp dụng điểm a, c khoản 1 Điều 47 của Bộ luật Hình sự; điểm a, c khoản 2, điểm a khoản 3 Điều 106 khoản 2 Điều 135; khoản 2 Điều 136, các Điều 331, 332 và Điều 333 của Bộ luật Tố tụng hình sự;
Áp dụng điểm a khoản 1 Điều 23 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án, tuyên xử:
- Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Phan Văn Đ phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
- Về hình phạt: Xử phạt bị cáo 18 (mười tám) tháng tù giam. Thời gian chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bị bắt tạm giữ ngày 15/12/2024. Không áp dụng hình phạt bổ sung là hình phạt tiền đối với bị cáo.
-
Về xử lý vật chứng:
- Tịch thu, tiêu hủy một phong bì ghi chữ “vật chứng thu giữ của Phan Văn Đ ngày 15/12/2024" (cũ) có chữ ký theo quy định, bên trong có: 01 (một) gói giấy đựng tổng cộng 0,115 gam Heroin (phần hao hụt do dùng làm mẫu giám định hết) và các vỏ bao gói (cũ).
- Trả lại cho bị cáo 01 (một) chiếc điện thoại di động nhãn hiệu OPPO A92 màu xanh dương, cũ đã qua sử dụng, kèm theo 01 sim ở bên trong máy có số thuê bao 0388460342 của nhà mạng Viettel và 01 (một) ốp điện thoại nhưng tạm giữ để bảo đảm thi hành án.
(Các vật chứng trên được ghi chi tiết tại Biên bản giao nhận vật chứng ngày 06 tháng 02 năm 2025 giữa Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện C và Chi cục Thi hành án dân sự huyện Cao Lộc, tỉnh Lạng Sơn).
- Về án phí: Buộc bị cáo phải chịu 200.000 (hai trăm nghìn) đồng tiền án phí hình sự sơ thẩm để nộp vào ngân sách Nhà nước.
- Về quyền kháng cáo: Bị cáo, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án có mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Văn Bẩy |
Bản án số 30/2025/HS-ST ngày 12/03/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CAO LỘC, TỈNH LẠNG SƠN về tàng trữ trái phép chất ma túy
- Số bản án: 30/2025/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Tàng trữ trái phép chất ma túy
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 12/03/2025
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CAO LỘC, TỈNH LẠNG SƠN
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Phan Văn Đ - Tàng trữ trái phép chất ma túy
