|
TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN 7 THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
|
Bản án số: 30/2025/HS-ST Ngày: 11/03/2025 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN 7 - THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Trần Thị Thu Trang
Các Hội thẩm nhân dân:
- Bà Huỳnh Nguyệt Ánh;
- Bà Đoàn Thị Thỉnh. .
- Thư ký phiên tòa: Bà Trần Thị Thanh - Thư ký Toà án nhân dân Quận 7, Thành phố Hồ Chí Minh.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Quận 7, Thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên tòa: Ông Trần Thị Hồng Gấm - Kiểm sát viên.
Ngày 11 tháng 3 năm 2025, tại phòng Xử án Tòa án nhân dân Quận 7, Thành phố Hồ Chí Minh xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 14/2025/TLST-HS ngày 16 tháng 1 năm 2025 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 24/2025/QĐXXST-HS ngày 13/02/2025, đối với các bị cáo:
1. Họ và tên: Nguyễn Hoàng Anh D (tên gọi khác: không); sinh năm 2001 tại Thành phố Hồ Chí Minh; giới tính: Nam; nơi đăng ký hộ khẩu thường trú: 243/74/2/3 H, Phường D, Quận D, Thành phố Hồ Chí Minh; nơi cư trú: 1 T, Phường A, Quận D, Thành phố Hồ Chí Minh; quốc tịch: Việt Nam; dân tộc: Kinh; tôn giáo: Phật; trình độ học vấn: 09/12; nghề nghiệp: không; là con ông Nguyễn Trọng N sinh năm 1981 và bà Nguyễn Trần Thị Thy G, sinh năm 1976; Tiền án, tiền sự: Không
Bị cáo bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 18/10/2024, bị cáo có mặt tại phiên toà.
2. Họ và tên: Nguyễn Trọng Đức V (tên gọi khác: H); sinh năm 2002 tại Quảng Nam; giới tính: Nam; nơi đăng ký hộ khẩu thường trú: N, xã Đ, thị xã Đ, tỉnh Quảng Nam; nơi cư trú: Không có nơi cư trú rõ ràng; quốc tịch: Việt Nam; dân tộc: Kinh; tôn giáo: Không; trình độ học vấn: không biết chữ; nghề nghiệp: không; họ tên cha: không rõ, mẹ là bà Nguyễn Thị Lâm S năm 1969; Tiền án, tiền sự: Không
Bị cáo bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 28/10/2024, bị cáo có mặt tại phiên toà.
Người bị hại: Bà Đoàn Thị Hải V1, sinh năm 2000; thường trú: TDP L, thị trấn L, huyện P, tỉnh Thừa Thiên Huế; tạm trú: Số A đường G, phường T, Quận G, Thành phố Hồ Chí Minh (có mặt).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Nguyễn Hoàng Anh D và Nguyễn Trọng Đức V là bạn bè quen biết nhau ngoài xã hội. Khoảng 10 giờ ngày 02/7/2024, D và V đi bộ trên địa bàn Quận G, rủ nhau tìm tài sản để sơ hở, trộm cắp bán lấy tiền tiêu xài. Khi đến trước nhà số A L, phường B, Quận G, V phát hiện xe máy Honda Airblade màu xám đen, biển số 75K1 – 254.91 của chị Đoàn Thị Hải V1 dựng trên lề đường, không có người trông coi, chìa khóa cắm trong ổ khóa xe. D đi lại mở khóa, dắt xe xuống đường, chở V tẩu thoát đến khu vực T, Bình Dương bán xe. Trên đường đi, D và V vào quán cà phê võng gần khu công nghiệp V nghỉ ngơi. Thấy D ngủ quên, V lấy xe chạy về công viên G gặp N1 (chưa rõ nhân thân lai lịch). N1 chở V đến Bình Dương bán xe. N1 bán xe được 2.000.000 đồng, đưa V 2.000.000 đồng. Khoảng 02 tháng sau, D đang đi bộ trên đường H, quận T gặp lại V. D hỏi V về chiếc xe cả hai trộm cắp được ngày 02/7/2024. V nói bán được 2.000.000 đồng đã tiêu xài hết, khi nào có tiền, V sẽ chia lại cho D 1.000.000 đồng, D đồng ý.
Bị mất xe, chị V1 đến Công an phường B, Quận G trình báo vụ việc. Qua truy xét, Cơ quan Công an mời D và V làm rõ xử lý.
Kết luận định giá tài sản số 333/KL-HĐĐGTS ngày 15/10/2024 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự Ủy ban nhân dân Quận G1, kết luận: 01 (một) xe gắn máy hiệu Honda Airblade biển số: 75K1 - 254.91, sản xuất năm 2016 có giá trị 18.300.000 đồng.
Vật chứng vụ án:
+ 01 (một) xe gắn máy Honda Airblade biển số: 75K1 - 254.91 không thu giữ được.
Về dân sự:
Chị Đoàn Thị Hải V1 yêu cầu nhận lại xe, nếu không tìm được xe thì bồi thường cho chị số tiền 25.000.000 đồng.
Bản Cáo trạng số 23/CT-VKS-Q7 ngày 16/01/2025 Viện kiểm sát nhân dân Quận 7 đã truy tố các bị cáo Nguyễn Hoàng Anh D và Nguyễn Trọng Đức V đã phạm tội Trộm cắp tài sản. Tội phạm và hình phạt được quy định tại khoản 1 Điều 173 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017).
Trong phần tranh luận đại diện Viện kiểm sát nhân dân Quận 7 vẫn giữ nguyên quan điểm truy tố, đề nghị Hội đồng xét xử: Áp dụng khoản 1 Điều 173, điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự năm 2015 được sửa đổi bổ sung năm 2017, xử phạt bị cáo Nguyễn Hoàng Anh D từ 01 năm đến 01 năm 06 tháng tù, bị cáo Nguyễn Trọng Đức V từ 01 năm 06 tháng đến 02 năm tù về tội “Trộm cắp tài sản” và đề nghị các bị cáo bồi thường cho bị hại.
Các bị cáo khai nhận hành vi phạm tội phù hợp với nội dung bản Cáo trạng đã được tóm tắt như trên, không tự bào chữa, không tranh luận, và xin được giảm nhẹ hình phạt.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa. Hội đồng xét xử nhận thấy như sau:
[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an Q, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân Quận 7, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo, các đương sự không có người nào có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
[2] Về nội dung vụ án:
Quá trình điều tra cũng như tại phiên toà, các bị cáo đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình đúng như nội dung bản Cáo trạng truy tố, khẳng định những lời khai trong quá trình điều tra là hoàn toàn tự nguyện, đúng sự thật, không bị bức cung và nội dung bản Cáo trạng truy tố là đúng, không oan sai cho các bị cáo. Xét thấy lời khai của các bị cáo phù hợp với lời khai của bị hại, cùng các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại phiên tòa, có căn cứ xác định:
Vào lúc 10 giờ 00 phút ngày 02/7/2024, D và V đã có hành vi lén lút chiếm đoạt chiếc xe Airblade màu xám đen, biển số 75K1-254.91 để trước nhà A L, phường B, Quận G rồi tẩu thoát, tội phạm đã hoàn thành. Căn cứ Kết luận định giá tài sản số 333/KL-HĐĐGTS ngày 15/10/2024 của Hội đồng định giá tài sản Tố tụng hình sự Ủy ban nhân dân Quận G1, Thành phố Hồ Chí Minh thì chiếc xe có giá trị là 18.300.000 đồng.
Do đó, Cáo trạng số 23/CT-VKS-Q7 ngày 16/01/2025 của Viện kiểm sát nhân dân Quận 7, Thành phố H đã truy tố các bị cáo là hoàn toàn có căn cứ, đúng pháp luật, đủ cơ sở để kết luận: bị cáo Nguyễn Hoàng Anh D và Nguyễn Trọng Đức V đã phạm vào tội “Trộm cắp tài sản”. Tội phạm và hình phạt quy định tại Khoản 1 Điều 173 Bộ luật Hình sự 2015 được sửa đổi, bổ sung năm 2017.
[3] Hành vi phạm tội của bị cáo là cố ý, táo bạo và liều lĩnh, xuất phát từ động cơ tham lam tư lợi để có tiền tiêu xài. Các bị cáo đã lợi dụng sự sơ hở của bị hại trong việc trông coi, quản lý tài sản của mình, đã có hành vi lén lút chiếm đoạt tài sản của bị hại. Các bị cáo đều là người thành niên có đầy đủ năng lực trách nhiệm hình sự để nhận thức rõ hành vi chiếm đoạt tài sản của người khác là trái pháp luật nhưng vẫn cố ý thực hiện. Hành vi này của bị cáo là nguy hiểm vì đã xâm phạm trực tiếp đến tài sản hợp pháp của công dân; ảnh hưởng xấu đến tình hình trật tự, trị an xã hội. Do đó, phải xử lý nghiêm minh nhằm răn đe, giáo dục và phòng ngừa chung.
Trong vụ án, bị cáo D là người thực hiện hành vi lấy xe và chở V tẩu thoát nhưng lại chưa hưởng lợi từ việc bán xe. Quá trình thực hiện hành vi vi phạm các bị cáo không có sự phân công và câu kết chặt chẽ với nhau nên là đồng phạm giản đơn quy định tại Khoản 1 Điều 173 Bộ luật hình sự.
[4] Về các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:
Các bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự. Xét thấy tại cơ quan điều tra cũng như tại phiên tòa các bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; các bị cáo phạm tội lần đầu thuộc trường hợp ít nghiêm trọng, các bị cáo có nhân thân tốt. Do vậy, khi quyết định hình phạt Hội đồng xét xử có xem xét áp dụng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm i, s Khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự năm 2015 được sửa đổi, bổ sung năm 2017 để giảm nhẹ một phần hình phạt cho các bị cáo.
Đối với bị cáo D tại phiên tòa đã khắc phục một phần thiệt hại cho người bị hại, nên Hội đồng xét xử xem xét áp dụng thêm Khoản 2 Điều 51 để lượng hình cho bị cáo.
[5] Về trách nhiệm dân sự: Tại phiên tòa bà Đoàn Thị Hải V1 yêu cầu các bị cáo phải bồi thường cho bà số tiền 18.300.000 đồng, mỗi bị cáo bồi thường 9.150.000 đồng. Các bị cáo đồng ý bồi thường cho bà V1 và tại phiên tòa bị cáo D đã bồi thường trước cho bà V1 số tiền 1.500.000 đồng, nên Hội đồng xét xử ghi nhận.
[6] Các bị cáo phải nộp án phí hình sự sơ thẩm và án phí dân sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
[7] Bị cáo, đương sự có quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Tuyên bố: Bị cáo Nguyễn Hoàng Anh D và bị cáo Nguyễn Trọng Đức V cùng phạm tội “Trộm cắp tài sản”.
- Áp dụng Khoản 1 Điều 173; điểm i, s Khoản 1, Khoản 2 Điều 51, Điều 38 Bộ luật Hình sự năm 2015 được sửa đổi bổ sung năm 2017:
Xử phạt bị cáo Nguyễn Hoàng Anh D 09 (chín) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày 18/10/2024.
- Áp dụng Khoản 1 Điều 173; điểm i, s Khoản 1 Điều 51, Điều 38 Bộ luật Hình sự năm 2015 được sửa đổi bổ sung năm 2017.
Xử phạt bị cáo Nguyễn Trọng Đức V 01 (một) năm 06 (sáu) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày 28/10/2024.
- Áp dụng Điều 47 Bộ luật hình sự năm 2015; Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015 tuyên:
Buộc bị cáo Nguyễn Hoàng Anh D phải bồi thường cho bà Đoàn Thị Hải V1 số tiền 7.650.000 đồng. Bị cáo Nguyễn Trọng Đức V phải bồi thường cho bà Đoàn Thị Hải V1 số tiền 9.150.000 đồng ngay sau khi bản án có hiệu lực pháp luật.
Kể từ ngày Cơ quan Thi hành án dân sự chủ động ra quyết định thi hành án về khoản tiền các bị cáo phải bồi thường nếu các bị cáo chưa thi hành khoản tiền trên thì hàng tháng còn phải trả lãi đối với số tiền chậm thi hành theo lãi suất theo quy định tại Khoản 2 Điều 468 Bộ luật Dân sự tương ứng với thời gian chậm thi hành tại thời điểm thi hành.
4. Về án phí: Áp dụng các Điều 135, 136 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015; Luật phí, lệ phí và Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án:
Bị cáo Nguyễn Hoàng Anh D phải nộp tiền án phí hình sự sơ thẩm là 200.000 đồng (hai trăm ngàn) và án phí dân sự sơ thẩm là 382.500 đồng (ba trăm tám mươi hai nghìn năm trăm đồng);
Bị cáo Nguyễn Trọng Đức V phải nộp tiền án phí hình sự sơ thẩm là 200.000 đồng (hai trăm ngàn) và án phí dân sự sơ thẩm là 457.500 đồng (bốn trăm năm mươi bảy ngàn năm trăm).
4. Về quyền kháng cáo: Trong thời hạn 15 (mười lăm) ngày kể từ ngày Tòa tuyên án, bị cáo có mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo bản án sơ thẩm đến Tòa án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh. Các đương sự vắng mặt tại phiên tòa thì được quyền kháng cáo bản án sơ thẩm trong thời hạn 15 (mười lăm) ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc được tống đạt bản án.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa Trần Thị Thu Trang |
Bản án số 30/2025/HS-ST ngày 11/03/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN 7 - THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH về hình sự (trộm cắp tài sản)
- Số bản án: 30/2025/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Hình sự (Trộm cắp tài sản)
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 11/03/2025
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN 7 - THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: 09 tháng tù giam
