Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

THÀNH PHỐ PHÚ MỸ

TỈNH BÀ RỊA – VŨNG TÀU

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 30/2025/DS-ST

Ngày: 03-03-2025

V/v tranh chấp hợp đồng tín dụng

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ PHÚ MỸ, TỈNH BÀ RỊA – VŨNG TÀU

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán- Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Thùy

Các Hội thẩm nhân dân:

  1. Bà Nguyễn Thị Bạch Gương
  2. Bà Trần Thị Hậu

- Thư ký phiên tòa: Bà Lê Thị Ngọc - là Thư ký Tòa án của Tòa án nhân dân thành phố Phú Mỹ.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Phú Mỹ tham gia phiên tòa: Ông Lê Nguyễn Trường Giang - Kiểm sát viên.

Vào ngày 03 tháng 3 năm 2024 tại Tòa án nhân dân thành phố Phú Mỹ, tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số: 600/2024/TLST-DS ngày 19 tháng 11 năm 2024 về việc “Tranh chấp hợp đồng tín dụng” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 10/2025/QĐXXST-DS ngày 16 tháng 01 năm 2025 và Quyết định hoãn phiên tòa số 25/2025/QĐST-DS ngày 11 tháng 02 năm 2025 giữa các đương sự:

Nguyên đơn: Ngân hàng TMCP K

Địa chỉ: 40-42-44 Phạm Hồng Thái, phường Vĩnh Thanh Vân, thành phố Rạch Giá, tỉnh Kiên Giang

Người đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn: Bà Nguyễn Thị T, sinh năm 1984

Địa chỉ liên hệ: 184 Hà Huy Giáp, phường Quyết Thắng, thành phố Biên Hòa, tỉnh Đồng Nai

Bị đơn: Ông Phạm Văn Kh, sinh năm: 1983

Địa chỉ: Khu phố 4, phường Hắc Dịch, thị xã Phú Mỹ (nay là Thành phố Phú Mỹ), tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu

(Bà T có mặt tại phiên tòa, ông Khánh vắng mặt không có lý do)

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo đơn khởi kiện đề ngày 19/8/2024 và trong quá trình giải quyết vụ án người đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn Ngân hàng TMCP K là bà Nguyễn Thị T trình bày:

Nguyên ông Phạm Văn Kh có vay của Ngân hàng TMCP K – PGD Vũng Tàu (gọi tắt là Ngân hàng K) theo Giấy đăng kí phát hành kiêm hợp đồng sử dụng thẻ tín dụng quốc tế Kienlongbank số 20017146000100 ký ngày 24/5/2017 với nội dung cụ thể như sau:

  • Loại thẻ: Visa
  • Hạn mức: 30.000.000 đồng (Bằng chữ: ba mươi triệu đồng)
  • Mục đích vay: tiêu dùng
  • Thời hạn vay: 36 tháng
  • Lãi suất cho vay: 28%/năm
  • Lãi suất chậm trả: 3.5%/ số tiền chậm trả
  • Phí vượt hạn mức: 0.075%/ngày
  • Kỳ hạn trả lãi vay: hàng tháng. Các ngày trả lãi vay là ngày 10 hàng tháng.

Tiền lãi vay được tính bằng (=) Dư nợ vay thực tế nhân (x) lãi suất vay (%/năm) nhân (x) lãi suất vay (%/năm) Số ngày vay thực tế chia (:)365. Trong đó, nếu số ngày vay thực tế chưa đủ 01 ngày thì được tính đủ 01 ngày.

Kỳ hạn trả nợ gốc: Thanh toán tối thiếu so với dư nợ trong kỳ là 5%. Tỷ lệ này do Kienlongbank quy định và có thể thay đổi trong từng thời kỳ.

Số tiền thanh toán tối thiểu mỗi kỳ = 5%*(Dư nợ cuối kỳ- số tiền vượt mức trong kỳ- số tiền trả góp trong kỳ)+ Số tiền vượt hạn mức trong kỳ + số tiền trả góp trong kỳ

Dư nợ cuối kỳ = Dư nợ đầu kỳ – các khoản đã thanh toán trong kỳ + Các khoản chi tiêu trong kỳ + Phí + Lãi.

  1. Tài sản đảm bảo cho khoản vay:
    • - Khoản vay hạn mức thẻ tín dụng không có tài sản bảo đảm
  2. Thực hiện hợp đồng và vi phạm nghĩa vụ trả nợ:

Trong quá trình thực hiện hợp đồng vay, Ông Phạm Văn Kh chỉ thanh toán được 1 phần nghĩa vụ trả nợ, không thực hiện nghĩa vụ trả nợ đúng như hợp đồng đã ký kết.

Tạm tính đến ngày 26/12/2024, Ông Phạm Văn Kh còn phải thanh toán cho Ngân hàng số tiền cụ thể:

Thẻ VISA:

Khoản mục Giấy đăng kí phát hành kiêm hợp đồng sử dụng thẻ tín dụng quốc tế Kienlongbank số 20017146000100 ký ngày 24/5/2017
Vốn gốc còn lại 29.223.741
Lãi suất trong hạn 34.955.703
Tổng cộng (Phí chậm trả, phí vượt, phí thường niên) 56.629.653
Tổng Cộng: 120.809.097

Tổng cộng: 120.809.097 đồng (một trăm hai mươi triệu tám trăm lẻ chín nghìn không trăm chín mươi bảy đồng)

Căn cứ điểm a khoản 5 Điều 466 Bộ Luật dân sự 2015: “ Trường hợp vay có lãi mà khi đến hạn bên vay không trả hoặc trả không đầy đủ thì bên vay phải trả lãi như sau: a) Lãi trên nợ gốc theo lãi suất thỏa thuận trong hợp đồng tương ứng với thời hạn vay mà đến hạn chưa trả”.

Căn cứ Khoản 2 Điều 17 Thông tư 19/2016/TT-NHNN ngày 30/06/2016: “Khi sử dụng thẻ tín dụng, thẻ ghi nợ được thấu chi, chủ thẻ phải sử dụng tiền đúng Mục đích và thanh toán đầy đủ, đúng hạn cho TCPHT các Khoản tiền vay và lãi phát sinh từ việc sử dụng thẻ theo hợp đồng đã ký với TCPHT.”

Các Loại Phí:

Căn cứ khoản 1 và khoản 2 Điều 91 của Luật các Tổ chức tín dụng năm 2010 sửa đổi bổ sung năm 2017 quy định về lãi suất, phí trong hoạt động kinh doanh của tổ chức tín dụng như sau: “ 1. Tổ chức tín dụng được quyền ấn định và phải niêm yết công khai mức lãi suất huy động vốn, mức phí cung ứng dịch vụ trong hoạt động kinh doanh của tổ chức tín dụng. 2. Tổ chức tín dụng và khách hàng có quyền thỏa thuận về lãi suất, phí cấp tín dụng trong hoạt động ngân hàng của tổ chức tín dụng theo quy định của pháp luật.”

Căn cứ Khoản 1 Điều 5 Thông tư 19/2016/TT-NHNN ngày 30/06/2016 quy định về hoạt động thẻ Ngân hàng như sau: “Chỉ TCPHT được thu phí của chủ thẻ. TCPHT thu phí theo Biểu phí dịch vụ thẻ của tổ chức mình và không được thu thêm bất kỳ loại phí nào ngoài Biểu phí đã công bố. Biểu phí dịch vụ thẻ phải nêu rõ các loại phí, mức phí áp dụng cho từng loại thẻ và dịch vụ thẻ. Biểu phí dịch vụ thẻ của TCPHT phải phù hợp với quy định của pháp luật, được niêm yết công khai và phải cung cấp cho chủ thẻ trước khi sử dụng và khi có sự thay đổi. Các hình thức thông báo và cung cấp thông tin về phí cho chủ thẻ phải được quy định cụ thể trong hợp đồng phát hành và sử dụng thẻ. Thời gian từ khi thông báo đến khi áp dụng các thay đổi về phí tối thiểu là 07 ngày và phải được quy định cụ thể trong hợp đồng phát hành và sử dụng thẻ.

Các quy định về thỏa thuận lãi phí, thời hạn thanh toán của thẻ tín dụng được quy định trong phụ lục 01 Bản chấp thuận về điều khoản và điều kiện sử dụng thẻ tín dụng quốc tế KienLongBank ban hành kèm theo Quyết định 1445/QĐ-NHKL ngày 10/09/2021.

Căn cứ Quyết định 4619/QĐ-NHKL ngày 01/12/2023 V/v Ban hành Hạn mức, biểu phí dịch vụ Thẻ và Ngân hàng điện tử Ngân hàng TMCP K. Các Quyết định về lãi suất và biểu phí được KienLongBank niêm yết thông báo trên website và cho khách hàng khi cấp thẻ theo đúng quy định.

Ngân hàng K khởi kiện Ông Phạm Văn Kh đến Tòa án nhân dân Thị Xã Phú Mỹ (nay là thành phố Phú Mỹ) yêu cầu xem xét, giải quyết:

Yêu cầu Ông Phạm Văn Kh phải thanh toán nợ cho Ngân hàng K tổng số tiền gốc, lãi tạm tính đến ngày 26/12/2024 là: 120.809.097 đồng (một trăm hai mươi triệu tám trăm lẻ chín nghìn không trăm chín mươi bảy đồng) và tiền lãi, tiền phạt phát sinh từ ngày 27/12/2024 cho đến khi thanh toán hết nợ cho Ngân hàng K.

Tại phiên tòa, bà T đại diện Ngân hàng xác nhận tạm tính đến ngày 03/03/2025 thì ông Phạm Văn Kh còn nợ Ngân hàng K số tiền 125.361.571 (Bằng chữ: Một trăm hai mươi lăm triệu ba trăm sáu mươi mốt nghìn năm trăm bảy mốt đồng) trong đó nợ gốc là 29.223.741 đồng, lãi suất trong hạn là 37.018.177 đồng, phí chậm trả, phí vượt hạn mức, phí thường niên là 59.119.653 đồng và tiền lãi, tiền phạt phát sinh từ ngày 04/03/2025 cho đến khi thanh toán hết nợ cho Ngân hàng K.

Bị đơn ông Phạm Văn Kh vắng mặt trong suốt quá trình giải quyết vụ án.

Tại phiên tòa, Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Phú Mỹ phát biểu ý kiến như sau:

Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa và người tham gia tố tụng đã chấp hành đúng các quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự trong quá trình giải quyết vụ án kể từ khi thụ lý cho đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án và phát biểu ý kiến về việc giải quyết vụ án cụ thể như sau:

Căn cứ Điều 117, Điều 463, Điều 466 của Bộ luật Dân sự năm 2015;

Căn cứ Điều 91, Điều 95 và Điều 98 của Luật các tổ chức tín dụng năm 2010 được sửa đổi bổ sung năm 2017;

Căn cứ Thông tư số 19/2016/TT-NHNN ngày 30/6/2016 của Ngân hàng Nhà nước quy định về hoạt động thẻ ngân hàng

Căn cứ Nghị quyết số 01/2019/NQ-HĐTP ngày 11/01/2019 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao hướng dẫn áp dụng một số quy định của pháp luật về lãi, lãi suất, phạt vi phạm;

Đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn buộc bị đơn phải thanh toán cho nguyên đơn số tiền số tiền nợ gốc và lãi của giấy đăng ký phát hành kiêm hợp đồng sử dụng thẻ tín dụng quốc tế Kienlongbank số 20017146000100 ngày 24/5/2017 là 125.361.571 (Bằng chữ: Một trăm hai mươi lăm triệu ba trăm sáu mươi mốt nghìn năm trăm bảy mốt đồng) trong đó nợ gốc là 29.223.741 đồng, lãi suất trong hạn là 37.018.177 đồng, phí chậm trả, phí vượt hạn mức, phí thường niên là 59.119.653 đồng và tiền lãi, tiền phạt phát sinh từ ngày 04/03/2025 cho đến khi thanh toán hết nợ cho Ngân hàng K

Về án phí: Bị đơn chịu theo quy định của pháp luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án, qua quá trình thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

[1] Về quan hệ pháp luật: Ngân hàng TMCP K khởi kiện ông Phạm Văn Kh yêu cầu ông Khánh phải trả cho Ngân hàng K số tiền nợ gốc và lãi của giấy đăng ký phát hành kiêm hợp đồng sử dụng thẻ tín dụng quốc tế Kienlongbank giữa Ngân hàng K với ông Khánh. Đây là tranh chấp hợp đồng tín dụng

[2] Về thẩm quyền giải quyết: Ông Phạm Văn Kh có hộ khẩu thường trú tại khu phố 4, phường Hắc Dịch, thị xã Phú Mỹ (nay là Thành phố Phú Mỹ), tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu nên theo quy định tại khoản 3 Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015 thì vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân thành phố Phú Mỹ, tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu.

[3] Về sự vắng mặt của bị đơn: Tòa án đã tống đạt hợp lệ Quyết định đưa vụ án ra xét xử và Quyết định hoãn phiên tòa cho bị đơn là ông Phạm Văn Kh nhưng ông Khánh vẫn không đến Tòa tham gia xét xử nên Hội đồng xét xử xét xử vắng mặt ông Khánh là phù hợp với quy định tại điểm b khoản 2 Điều 227, khoản 3 Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015.

[4] Ông Khánh đã nhận được thông báo thụ lý vụ án, thông báo về phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận công khai chứng cứ và hòa giải nêu rõ yêu cầu của Ngân hàng nhưng ông Khánh vẫn không đến Tòa trình bày ý kiến, tham dự các buổi hòa giải, xét xử theo quy định mà vắng mặt không lý do. Do đó, Hội đồng xét xử căn cứ vào khoản 4 Điều 91 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015 để giải quyết vụ án theo những chứng cứ đã thu thập được trong hồ sơ vụ án.

[5] Về pháp luật áp dụng: Do giao dịch dân sự giữa nguyên đơn và bị đơn được thực hiện vào thời điểm Bộ luật Dân sự năm 2015 có hiệu lực, nên Hội đồng xét xử áp dụng Bộ luật Dân sự năm 2015 để giải quyết vụ án.

[6] Về các yêu cầu của đương sự:

[6.1] Căn cứ Giấy đăng ký phát hành kiêm hợp đồng sử dụng thẻ tín dụng quốc tế Kienlongbank số 20017146000100 ngày 24/5/2017 giữa Ngân hàng TMCP K và ông Phạm Văn Kh, các tài liệu chứng cứ có trong hồ sơ vụ án và lời khai của đương sự thì có cơ sở xác định giữa Ngân hàng K và ông Khánh có ký với nhau một hợp đồng nêu trên, việc ký kết là hoàn toàn tự nguyện, có thật và có hiệu lực thi hành đối với các bên.

[6.2] Xét yêu cầu của nguyên đơn buộc bị đơn trả cho nguyên đơn số tiền nợ gốc của Giấy đăng ký phát hành kiêm hợp đồng sử dụng thẻ tín dụng quốc tế Kienlongbank số 20017146000100 ngày 24/5/2017 nợ gốc là 29.223.741 đồng (hai mươi chín triệu hai trăm hai mươi ba nghìn bảy trăm bốn mươi mốt đồng)

Căn cứ vào Giấy đăng ký phát hành kiêm hợp đồng sử dụng thẻ tín dụng quốc tế Kienlongbank số 20017146000100 ngày 24/5/2017 thì ông Phạm Văn Kh được cấp thẻ tín dụng với hạn mức 30.000.000 đồng (ba mươi triệu đồng)

Theo bảng kê tính lãi, phí thẻ tín dụng thì thể hiện ông Phạm Văn Kh sử dụng vốn gốc phát sinh là 118.890.000, đã thanh toán được 89.666.259 đồng, số gốc còn lại chưa thanh toán 29.223.741 đồng

Khoản 2 Điều 91 Bộ luật dân sự quy định: “đương sự phản đối yêu cầu của người khác đối với mình phải thể hiện bằng văn bản và phải thu thập, cung cấp, giao nộp cho Tòa án tài liệu, chứng cứ để chứng minh cho sự phản đối đó”

Bị đơn ông Phạm Văn Kh vắng mặt trong suốt quá trình giải quyết vụ án không đến Tòa để trình bày ý kiến, không cung cấp tài liệu chứng cứ của bị đơn về vấn đề này. Do đó, Hội đồng xét xử căn cứ vào Giấy đăng ký phát hành kiêm hợp đồng sử dụng thẻ tín dụng quốc tế Kienlongbank số 20017146000100 ngày 24/5/2017, lời khai của nguyên đơn xác định bị đơn còn nợ nguyên đơn số tiền nợ gốc là 29.223.741 đồng (hai mươi chín triệu hai trăm hai mươi ba nghìn bảy trăm bốn mươi mốt đồng). Nguyên đơn yêu cầu bị đơn trả số tiền này Hội đồng xét xử xét thấy có cơ sở chấp nhận.

[6.3] Xét yêu cầu của nguyên đơn buộc bị đơn trả số tiền lãi suất trong hạn là 37.018.177 đồng, phí chậm trả, phí vượt hạn mức, phí thường niên là 59.119.653 đồng.

Điều 5 Thông tư số 19/2016/TT-NHNN ngày 30/6/20216 quy định về hoạt động thẻ Ngân hàng quy định: “Chỉ Tổ chức phát hành thẻ được thu phí của chủ thẻ. Tổ chức phát hành thẻ thu phí theo Biểu phí dịch vụ thẻ của tổ chức mình và không được thu thêm bất kỳ loại phí nào ngoài Biểu phí đã công bố. Biểu phí dịch vụ thẻ phải nêu rõ các loại phí, mức phí áp dụng cho từng loại thẻ và dịch vụ thẻ. Biểu phí dịch vụ thẻ của Tổ chức phát hành thẻ phải phù hợp với quy định của pháp luật, được niêm yết công khai và phải cung cấp cho chủ thẻ trước khi sử dụng và khi có sự thay đổi. Các hình thức thông báo và cung cấp thông tin về phí cho chủ thẻ phải được quy định cụ thể trong hợp đồng phát hành và sử dụng thẻ. Thời gian từ khi thông báo đến khi áp dụng các thay đổi về phí tối thiểu là 07 ngày và phải được quy định cụ thể trong hợp đồng phát hành và sử dụng thẻ”

Căn cứ vào phụ lục 1 bản chấp thuận về điều khoản và điều kiện sử dụng thẻ tín dụng KienLongBank, phụ lục 4 lãi suất cho vay đối với sản phẩm thẻ và sản phẩm đặc thù ban hành kèm theo quyết định số 3674A/QĐ-NHKL ngày 10/12/2022, phụ lục 4 lãi suất cho vay đối với sản phẩm thẻ tín dụng và sản phẩm đặc thù ban hành kèm theo quyết định số 3160A/QĐ-NHKL ngày 25/10/2022 và Quyết định 4169/QĐ-NHKL ngày 01/12/2023 về hạn mức biểu phí dịch vụ thẻ và ngân hàng điện tử thì Hội đồng xét xử xét thấy có cơ sở chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn buộc bị đơn trả cho nguyên đơn số tiền lãi suất trong hạn là 37.018.177 đồng, phí chậm trả, phí vượt hạn mức, phí thường niên là 59.119.653 đồng

Từ những nhận định và phân tích nêu trên Hội đồng xét xử chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn đối với bị đơn:

Buộc ông Phạm Văn Kh có trách nhiệm trả cho Ngân hàng TMCP K số tiền nợ gốc và lãi, phí của giấy đăng ký phát hành kiêm hợp đồng sử dụng thẻ tín dụng quốc tế Kienlongbank số 20017146000100 ngày 24/5/2017 là 125.361.571 (Bằng chữ: Một trăm hai mươi lăm triệu ba trăm sáu mươi mốt nghìn năm trăm bảy mốt đồng) trong đó nợ gốc là 29.223.741 đồng, lãi suất trong hạn là 37.018.177 đồng, phí chậm trả, phí vượt hạn mức, phí thường niên là 59.119.653 đồng

[6.4] Điểm a khoản 1 và khoản 2 Điều 13 của Nghị quyết 01/2019/NQ-HĐTP ngày 11/11/2019 quy định: “Đối với trường hợp chậm thực hiện nghĩa vụ trong hợp đồng mà các bên có thỏa thuận về việc trả lãi thì quyết định kể từ ngày tiếp theo của ngày xét xử sơ thẩm cho đến khi thi hành án xong, bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất các bên thỏa thuận nhưng phải phù hợp với quy định của pháp luật” “Mức lãi suất hai bên thỏa thuận” hướng dẫn tại khoản 1 điều này là mức lãi suất nợ quá hạn các bên thỏa thuận trong hợp đồng hoặc tại Tòa án”. Do đó, ông Khánh phải tiếp tục thanh toán phần nợ lãi quá hạn theo thỏa thuận tại giấy đăng ký phát hành kiêm hợp đồng sử dụng thẻ tín dụng quốc tế Kienlongbank số 20017146000100 ngày 24/5/2017 và phụ lục 1 bản chấp thuận về điều khoản và điều kiện sử dụng thẻ tín dụng Kienlongbank giữa Ngân hàng K với ông Khánh kể từ ngày 04/3/2025 cho đến khi thanh toán xong toàn bộ khoản nợ.

[7] Về án phí dân sự sơ thẩm: Do toàn bộ yêu cầu của nguyên đơn được Hội đồng xét xử chấp nhận nên bị đơn là ông Phạm Văn Kh phải chịu toàn bộ án phí dân sự theo quy định tại Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự và Khoản 2 Điều 26 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào khoản 3 Điều 26, điểm a Khoản 1 Điều 35 và điểm a Khoản 1 Điều 39; Điều 147; điểm b Khoản 2 Điều 227; khoản 3 Điều 228; Điều 273 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015;

Căn cứ Điều 117, Điều 463, Điều 466 của Bộ luật Dân sự năm 2015;

Căn cứ Điều 91, Điều 95 và Điều 98 của Luật các tổ chức tín dụng năm 2010 được sửa đổi bổ sung năm 2017;

Căn cứ Thông tư số 19/2016/TT-NHNN ngày 30/6/2016 của Ngân hàng Nhà nước quy định về hoạt động thẻ ngân hàng

Căn cứ Nghị quyết số 01/2019/NQ-HĐTP ngày 11/01/2019 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao hướng dẫn áp dụng một số quy định của pháp luật về lãi, lãi suất, phạt vi phạm;

Căn cứ Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Tuyên xử:

  1. Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn Ngân hàng TMCP K về việc tranh chấp hợp đồng tín dụng với bị đơn ông Phạm Văn Kh
    1. Buộc ông Phạm Văn Kh phải có nghĩa vụ thanh toán cho Ngân hàng TMCP K số tiền nợ gốc và lãi của giấy đăng ký phát hành kiêm hợp đồng sử dụng thẻ tín dụng quốc tế Kienlongbank số 20017146000100 ngày 24/5/2017 là 125.361.571 (Bằng chữ: Một trăm hai mươi lăm triệu ba trăm sáu mươi mốt nghìn năm trăm bảy mốt đồng) trong đó nợ gốc là 29.223.741 đồng, lãi suất trong hạn là 37.018.177 đồng, phí chậm trả, phí vượt hạn mức, phí thường niên là 59.119.653 đồng
    2. Kể từ ngày 04/03/2025 ông Phạm Văn Kh còn phải tiếp tục trả tiền lãi quá hạn của số tiền nợ gốc chưa thanh toán theo mức lãi suất mà các bên thỏa thuận tại giấy đăng ký phát hành kiêm hợp đồng sử dụng thẻ tín dụng quốc tế Kienlongbank số 20017146000100 ngày 24/5/2017 và phụ lục 1 bản chấp thuận về điều khoản và điều kiện sử dụng thẻ tín dụng Kienlongbank cho đến khi thanh toán xong các khoản nợ gốc nêu trên. Trường hợp trong hợp đồng các bên có thỏa thuận về điều chỉnh lãi suất cho vay theo từng thời kỳ của Ngân hàng TMCP K thì lãi suất mà ông Khánh phải tiếp tục thanh toán cho Ngân hàng TMCP K theo quyết định của Tòa án cũng sẽ được điều chỉnh cho phù hợp với sự điều chỉnh lãi suất của Ngân hàng TMCP K.
  2. Về án phí:
    1. Ông Phạm Văn Kh phải chịu 6.268.079 đồng (sáu triệu hai trăm sáu mươi tám nghìn không trăm bảy mươi chín đồng) án phí dân sự sơ thẩm.
    2. Hoàn lại cho Ngân hàng TMCP K số tiền tạm ứng án phí 2.792.000 đồng (hai triệu bảy trăm chín mươi hai nghìn đồng) mà Ngân hàng K đã nộp theo biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0004098 ngày 15/11/2024 của Chi cục Thi hành án dân sự thị xã Phú Mỹ (nay là Thành phố Phú Mỹ), tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu
  3. Về quyền kháng cáo: Các đương sự có mặt có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án; đương sự vắng mặt tại phiên tòa hoặc không có mặt khi tuyên án mà có lý do chính đáng thì thời hạn kháng cáo tính từ ngày nhận được bản án hoặc được tống đạt hợp lệ.

Nơi nhận:

  • - Các đương sự;
  • - TAND tỉnh BRVT;
  • - VKSND tỉnh BRVT;
  • - VKSND thành phố Phú Mỹ;
  • - Chi cục THADS thành phố Phú Mỹ;
  • - Lưu VP, hồ sơ.

T.M HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Nguyễn Thị Thùy

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 30/2025/DS-ST ngày 03/03/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ PHÚ MỸ, TỈNH BÀ RỊA – VŨNG TÀU về tranh chấp hợp đồng tín dụng

  • Số bản án: 30/2025/DS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Tranh chấp hợp đồng tín dụng
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 03/03/2025
  • Loại vụ/việc: Dân sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ PHÚ MỸ, TỈNH BÀ RỊA – VŨNG TÀU
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Ngân hàng TMCP K - Phạm Văn Kh
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger