|
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HOA LƯ TỈNH NINH BÌNH |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
|
Bản án số: 30/2025/HS-ST Ngày: 27/02/2025 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HOA LƯ - TỈNH NINH BÌNH
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Giang Thị Thúy Thu.
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Tạ Quang Long;
Ông Phạm Kim Thành.
- Thư ký phiên tòa: Bà Phạm Thanh Mai - Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Hoa Lư, tỉnh Ninh Bình.
- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân thành phố Hoa Lư tham gia phiên tòa: Ông Hoàng Tuấn Hải - Kiểm sát viên.
Ngày 27 tháng 02 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Hoa Lư, tỉnh Ninh Bình xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 12/2025/TLST – HS, ngày 16 tháng 01 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử sơ thẩm số 33/2025/QĐXXST-HS ngày 14 tháng 02 năm 2025 đối với bị cáo:
Họ và tên: Phạm Văn C (tên gọi khác: không), sinh năm 1993; tại thành phố T, thành phố Hải Phòng; Nơi thường trú: Thôn F, xã H, huyện T (nay là tổ dân phố F, phường H, thành phố T), thành phố Hải Phòng. Nghề nghiệp: Lao động tự do. Trình độ văn hóa: 12/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông: Phạm Văn K và bà Nguyễn Thị N; Vợ, con: chưa có; Tiền án, tiền sự: không;
Nhân thân : Bản án số 45/2014/HSPT ngày 15/4/2014, Tòa án nhân dân tỉnh Hưng Yên xử phạt 06 tháng tù cho hưởng án treo, thời gian thử thách 12 tháng, về tội “Gây rối trật tự công cộng”; (đã được xóa).
Bị tạm giữ từ ngày 17/9/2024 đến ngày 25/9/2024 được thay thế bằng biện pháp cấm đi khỏi nơi cư trú cho đến nay (có mặt).
* Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án:
- Anh Nguyễn Xuân T, sinh năm 1978. Địa chỉ: số nhà E, ngõ A, đường N, phố V, phường T, thành phố H, tỉnh Ninh Bình. ( vắng mặt);
- Anh Nguyễn Nam P, sinh năm 1984. Địa chỉ: thôn Đ, xã Y, huyện Ý, tỉnh Nam Định; ( vắng mặt).
- Anh Nguyễn Ngọc T1, sinh năm 1976. Địa chỉ: số nhà I, phố A, đường Đ, phường Đ, thành phố H, tỉnh Ninh Bình ( vắng mặt).
2.3. Người chứng kiến: Anh Nguyễn Văn N1, sinh năm 1987; (vắng mặt).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Phạm Văn C không được cơ quan Nhà nước có thẩm quyền cấp giấy phép kinh doanh dịch vụ cấp, cho vay tín dụng hoặc hỗ trợ tài chính nhưng trong thời gian từ tháng 01 năm 2024 đến tháng 09 năm 2024, Phạm Văn C đã cho 03 người vay tiền với mức lãi suất 146%/năm, gấp hơn 05 lần mức lãi suất cao nhất quy định tại khoản 01 Điều 468 Bộ luật dân sự (20%/ năm) để thu lợi bất chính, cụ thể như sau:
- Giao dịch dân sự cho vay giữa Phạm Văn C với anh Nguyễn Xuân T:
- - Ngày 21/4/2024, Phạm Văn C cho anh Nguyễn Xuân T vay số tiền 10.000.000 đồng dưới hình thức bốc, đảo ống trong vòng 50 ngày, với mức lãi suất thỏa thuận là 2.000.000 đồng. Chủ thu tiền lãi 2.000.000 đồng, tiền phí đi lại 200.000 đồng và 03 ngày ống là 600.000 đồng, sau đó chuyển cho anh T số tiền 7.200.000 đồng. Thỏa thuận mỗi ngày anh T trả cho C số tiền gốc là 200.000 đồng. Đến ngày 15/5/2024 anh T đã trả cho C số tiền gốc là 4.800.000 đồng, còn nợ lại Chủ 5.200.000 đồng. Như vậy số tiền lãi Chủ đã thu của anh T là 2.000.000 đồng: trong đó khoản tiền lãi tương ứng với mức lãi suất 20% mà Chủ được phép thu là 273.973 đồng, khoản tiền C đã thu lợi bất chính là 1.726.027 đồng.
- - Ngày 15/5/2024, Chủ cho anh T vay số tiền 15.000.000 đồng dưới hình thức bốc, đảo ống trong vòng 50 ngày, với mức lãi suất thỏa thuận là 3.000.000 đồng. Chủ thu tiền lãi 3.000.000 đồng, tiền phí 200.000 đồng, 02 ngày ống là 600.000 đồng và trừ số tiền 5.200.000 đồng nợ ở gói vay ngày 21/4/2024, sau đó chuyển cho anh T số tiền 6.000.000 đồng. Thỏa thuận mỗi ngày anh T phải chuyển cho Chủ 300.000 đồng cho đến khi hết số tiền vay gốc. Đến ngày 30/5/2024 anh T đã trả cho C số tiền gốc 5.100.000 đồng, còn nợ lại Chủ 9.900.000 đồng. Như vậy số tiền lãi Chủ đã thu của anh T là 3.000.000 đồng: trong đó khoản tiền lãi tương ứng với mức lãi suất 20% mà Chủ được phép thu là 410.959 đồng, khoản tiền C đã thu lợi bất chính là 2.589.041 đồng.
- - Ngày 30/5/2024, Chủ cho anh T vay số tiền 20.000.000 đồng dưới hình thức bốc, đảo ống trong vòng 50 ngày, với mức lãi suất thỏa thuận là 4.000.000 đồng. Chủ thu tiền lãi 4.000.000 đồng, 01 ngày ống là 400.000 đồng và trừ số tiền 9.900.000 đồng nợ ở gói vay ngày 15/5/2024, sau đó chuyển cho anh T số tiền 5.700.000 đồng. Thỏa thuận mỗi ngày anh T phải chuyển cho Chủ 400.000 đồng cho đến khi hết số tiền vay gốc. Đến ngày 31/5/2024 anh T đã trả hết cho C số tiền gốc, lãi của khoản vay này cho Chủ. Như vậy số tiền lãi Chủ đã thu của anh T là 4.000.000 đồng: trong đó khoản tiền lãi tương ứng với mức lãi suất 20% mà Chủ được phép thu là 547.945 đồng, khoản tiền C đã thu lợi bất chính là 3.452.055 đồng.
- - Ngày 07/6/2024, Chủ cho anh T vay số tiền 20.000.000 đồng dưới hình thức bốc, đảo ống trong 50 ngày, với mức lãi suất thỏa thuận là 4.000.000 đồng. Chủ thu tiền lãi 4.000.000 đồng và 05 ngày ống là 2.000.000 đồng, sau đó chuyển cho anh T số tiền 14.000.000 đồng. Thỏa thuận mỗi ngày anh T phải chuyển cho Chủ 400.000 đồng cho đến khi hết số tiền vay gốc. Anh T đã thanh toán hết số tiền gốc, lãi cho C. Như vậy số tiền lãi Chủ đã thu của anh T là 4.000.000 đồng: trong đó khoản tiền lãi tương ứng với mức lãi suất 20% mà Chủ được phép thu là 547.945 đồng, Khoản tiền C đã thu lợi bất chính là 3.452.055 đồng.
- - Ngày 21/7/2024, Chủ cho anh T vay số tiền 10.000.000 đồng dưới hình thức bốc, đảo ống trong vòng 50 ngày, với mức lãi suất thỏa thuận là 2.000.000 đồng. Chủ thu tiền lãi 2.000.000 đồng và 05 ngày ống là 1.000.000 đồng, sau đó chuyển cho anh T số tiền 7.000.000 đồng. Thỏa thuận mỗi ngày anh T phải chuyển cho Chủ 200.000 đồng cho đến khi hết số tiền vay gốc. Anh T đã thanh toán hết số tiền gốc, lãi cho C. Như vậy số tiền lãi Chủ đã thu của anh T là 2.000.000 đồng: trong đó khoản tiền lãi tương ứng với mức lãi suất 20% mà Chủ được phép thu là 273.973 đồng, Khoản tiền C đã thu lợi bất chính là 1.726.027 đồng.
- - Ngày 21/8/2024, Chủ cho anh T vay số tiền 10.000.000 đồng dưới hình thức bốc, đảo ống trong vòng 50 ngày, với mức lãi suất thỏa thuận là 2.000.000 đồng. Chủ thu tiền lãi 2.000.000 đồng và 05 ngày ống là 1.000.000 đồng, sau đó chuyển cho anh T số tiền 7.000.000 đồng. Thỏa thuận mỗi ngày anh T chuyển cho Chủ 200.000 đồng cho đến khi hết số tiền vay gốc. Anh T đã thanh toán hết số tiền gốc, lãi cho C. Như vậy, số tiền lãi Chủ đã thu của anh T đối với khoản vay này là 2.000.000 đồng: trong đó khoản tiền lãi tương ứng với mức lãi suất 20% mà Chủ được phép thu là 273.973 đồng, Khoản tiền C đã thu lợi bất chính là 1.726.027 đồng.
- - Ngày 28/8/2024, Chủ cho anh T vay số tiền 10.000.000 đồng dưới hình thức đảo ống trong vòng 50 ngày, với mức lãi suất thỏa thuận là 2.000.000 đồng. Chủ thu tiền lãi 2.000.000 đồng và 05 ngày ống là 1.000.000 đồng, sau đó chuyển cho anh T số tiền 7.000.000 đồng. Thỏa thuận mỗi ngày anh T phải chuyển cho Chủ 200.000 đồng cho đến khi hết số tiền vay gốc. Anh T chưa thanh toán số tiền gốc cho Chủ. Như vậy, số tiền lãi Chủ đã thu của anh T đối với khoản vay này là 2.000.000 đồng: trong đó khoản tiền lãi tương ứng với mức lãi suất 20% mà Chủ được phép thu là 273.973 đồng, Khoản tiền C đã thu lợi bất chính là 1.726.027 đồng.
- - Ngày 29/8/2024, Chủ cho anh T vay số tiền 10.000.000 đồng dưới hình thức bốc, đảo ống trong vòng 50 ngày, với mức lãi suất thỏa thuận là 2.000.000 đồng. Chủ thu tiền lãi 2.000.000 đồng và 05 ngày ống là 1.000.000 đồng, sau đó chuyển cho anh T số tiền 7.000.000 đồng. Thỏa thuận mỗi ngày anh T phải chuyển cho Chủ 200.000 đồng cho đến khi hết số tiền vay gốc. Đến ngày 08/9/2024 Anh T trả cho C số tiền gốc 18.000.000 đồng cho cả khoản vay ngày 28/8/2024 . Như vậy, số tiền lãi Chủ đã thu của anh T đối với khoản vay này là 2.000.000 đồng: trong đó khoản tiền lãi tương ứng với mức lãi suất 20% mà Chủ được phép thu là 273.973 đồng, Khoản tiền C đã thu lợi bất chính là 1.726.027 đồng.
- - Ngày 10/9/2024, Chủ cho anh T vay số tiền 10.000.000 đồng dưới hình thức bốc, đảo ống trong vòng 50 ngày, với tổng mức lãi suất thỏa thuận là 2.000.000 đồng. Chủ thu tiền lãi 2.000.000 đồng và 05 ngày ống là 1.000.000 đồng, sau đó chuyển cho anh T số tiền 7.000.000 đồng. Thỏa thuận mỗi ngày anh T phải chuyển cho Chủ 200.000 đồng cho đến khi hết số tiền vay gốc. Anh T đã thanh toán hết số tiền gốc, lãi cho C. Như vậy, số tiền lãi Chủ đã thu của anh T đối với khoản vay này là 2.000.000 đồng: trong đó khoản tiền lãi tương ứng với mức lãi suất 20% mà Chủ được phép thu là 273.973 đồng, Khoản tiền C đã thu lợi bất chính là 1.726.027 đồng.
- Giao dịch dân sự cho vay giữa Phạm Văn C và anh Nguyễn Ngọc T1:
- - Ngày 23/5/2024, Chủ cho anh T1 vay số tiền 10.000.000 đồng dưới hình thức bốc đảo ống trong 50 ngày, với tổng mức lãi suất thỏa thuận là 2.000.000 đồng. Chủ thu tiền lãi 2.000.000 đồng và 03 ngày ống là 600.000 đồng, sau đó chuyển cho anh T1 số tiền 7.400.000 đồng. Thỏa thuận mỗi ngày anh T1 phải chuyển cho Chủ 200.000 đồng cho đến khi hết số tiền vay gốc. Đến ngày 23/6/2024 anh T1 đã thanh toán số tiền 6.000.000 đồng, còn nợ lại chủ số tiền gốc là 4.000.000 đồng. Như vậy, số tiền lãi Chủ đã thu của anh T1 là 2.000.000 đồng: trong đó khoản tiền lãi tương ứng với mức lãi suất 20% mà Chủ được phép thu là 273.973 đồng, Khoản tiền C đã thu lợi bất chính là 1.726.027 đồng.
- - Ngày 23/6/2024, Chủ cho anh T1 vay số tiền 10.000.000 đồng dưới hình thức bốc đảo ống trong vòng 50 ngày, với tổng mức lãi suất thỏa thuận là 2.000.000 đồng. Chủ thu tiền lãi 2.000.000 đồng, 03 ngày ống là 600.000 đồng và trừ số tiền 4.000.000 đồng nợ ở gói vay ngày 23/5/2024, sau đó chuyển cho anh T1 số tiền 3.400.000 đồng. Thỏa thuận mỗi ngày anh T phải chuyển cho Chủ 200.000 đồng cho đến khi hết số tiền vay gốc. Đến ngày 25/7/2024 anh T1 đã thanh toán số tiền gốc 6.000.000 đồng cho C và nợ lại số tiền gốc là 4.000.000 đồng. Như vậy, số tiền lãi Chủ đã thu của anh T1 là 2.000.000 đồng: trong đó khoản tiền lãi tương ứng với mức lãi suất 20% mà Chủ được phép thu là 273.973 đồng, Khoản tiền C đã thu lợi bất chính là 1.726.027 đồng.
- - Ngày 25/7/2024, Chủ cho anh T1 vay số tiền 10.000.000 đồng dưới hình thức bốc đảo ống trong vòng 50 ngày, với tổng mức lãi suất thỏa thuận là 2.000.000 đồng. Chủ thu tiền lãi 2.000.000 đồng, 02 ngày lãi ống là 400.000 đồng và trừ số tiền 4.000.000 đồng nợ ở gói vay ngày 23/6/2024, sau đó chuyển cho anh T1 số tiền 3.600.000 đồng. Thỏa thuận mỗi ngày anh T chuyển cho Chủ 200.000 đồng cho đến khi hết số tiền vay gốc. Đến ngày 17/8/2024 anh T1 đã thanh toán số tiền 3.600.000 đồng cho C và nợ lại số tiền gốc là 6.400.000 đồng. Như vậy, số tiền lãi Chủ đã thu của anh T1 là 2.000.000 đồng: trong đó khoản tiền lãi tương ứng với mức lãi suất 20% mà Chủ được phép thu là 273.973 đồng, Khoản tiền C đã thu lợi bất chính là 1.726.027 đồng.
- - Ngày 17/8/2024, Chủ cho anh T1 vay số tiền 15.000.000 đồng dưới hình thức bốc đảo ống trong vòng 50 ngày, với tổng mức lãi suất thỏa thuận là 3.000.000 đồng. Chủ thu tiền lãi 3.000.000 đồng, 03 ngày lãi ống là 900.000 đồng và trừ số tiền 6.400.000 đồng nợ ở gói vay ngày 25/7/2024, sau đó chuyển cho anh T1 số tiền 4.700.000 đồng. Thỏa thuận mỗi ngày anh T phải chuyển cho Chủ 200.000 đồng cho đến khi hết số tiền vay gốc. Anh T1 đã thanh toán số tiền 6.300.000 đồng cho Chủ. Như vậy, số tiền lãi Chủ đã thu của anh T1 là 3.000.000 đồng: trong đó khoản tiền lãi tương ứng với mức lãi suất 20% mà Chủ được phép thu là 410.959 đồng, Khoản tiền C đã thu lợi bất chính là 2.589.041 đồng. Anh T1 còn nợ số tiền gốc là 8.700.000 đồng.
- Giao dịch dân sự cho vay giữa Phạm Văn C và anh Nguyễn Nam P :
- - Ngày 02/01/2024, Chủ cho anh P vay số tiền 15.000.000 đồng dưới hình thức bốc đảo ống trong vòng 50 ngày, với tổng mức lãi suất thỏa thuận là 3.000.000 đồng. Chủ thu tiền lãi 3.000.000 đồng, 01 ngày ống là 300.000 đồng và trừ số tiền 6.000.000 đồng nợ ở gói vay trước, sau đó chuyển cho anh P số tiền 5.700.000 đồng. Thỏa thuận mỗi ngày anh P chuyển cho Chủ 300.000 đồng cho đến khi hết số tiền vay gốc. Đến ngày 07/2/2024 anh P đã thanh toán số tiền gốc cho C và xin đảo gói vay mới. Như vậy, số tiền lãi Chủ đã thu của anh P là 3.000.000 đồng: trong đó khoản tiền lãi tương ứng với mức lãi suất 20% mà Chủ được phép thu là 410.959 đồng, Khoản tiền C đã thu lợi bất chính là 2.589.041 đồng.
- - Ngày 07/02/2024, Chủ cho anh P vay số tiền 15.000.000 đồng dưới hình thức bốc đảo ống trong vòng 50 ngày, với tổng mức lãi suất thỏa thuận là 3.000.000 đồng. Chủ thu tiền lãi 3.000.000 đồng, 01 ngày ống là 300.000 đồng và trừ số tiền gốc còn nợ ở gói vay ngày 02/01/2024, sau đó chuyển cho anh P số tiền 4.500.000 đồng. Thỏa thuận mỗi ngày anh P chuyển cho Chủ 300.000 đồng cho đến khi hết số tiền vay gốc. Đến ngày 26/4/2024 anh P đã thanh toán số tiền gốc cho C và xin đảo gói vay mới. Như vậy, số tiền lãi Chủ đã thu của anh P là 3.000.000 đồng: trong đó khoản tiền lãi tương ứng với mức lãi suất 20% mà Chủ được phép thu là 410.959 đồng, Khoản tiền C đã thu lợi bất chính là 2.589.041 đồng.
- - Ngày 30/5/2024, Chủ cho anh P vay số tiền 15.000.000 đồng dưới hình thức bốc đảo ống trong vòng 50 ngày, với tổng mức lãi suất thỏa thuận là 3.000.000 đồng. Chủ thu tiền lãi trước 3.000.000 đồng, 01 ngày ống là 300.000 đồng và trừ số tiền gốc còn nợ ở gói vay ngày 07/02/2024. Chủ và anh P không rõ Chủ chuyển bao nhiêu tiền. Thỏa thuận mỗi ngày anh P chuyển cho Chủ 300.000 đồng cho đến khi hết số tiền vay gốc. Đến ngày 17/7/2024 anh P đã thanh toán số tiền gốc cho C và xin đảo gói vay mới. Như vậy, số tiền lãi Chủ đã thu của anh P là 3.000.000 đồng: trong đó khoản tiền lãi tương ứng với mức lãi suất 20% mà Chủ được phép thu là 410.959 đồng, Khoản tiền C đã thu lợi bất chính là 2.589.041 đồng.
- - Ngày 17/7/2024, Chủ cho anh P vay số tiền 15.000.000 đồng dưới hình thức bốc đảo ống trong vòng 50 ngày, với tổng mức lãi suất thỏa thuận là 3.000.000 đồng. Chủ thu tiền lãi trước 3.000.000 đồng, 01 ngày ống là 300.000 đồng và trừ số tiền gốc còn nợ ở gói vay ngày 30/5/2024. sau đó chuyển cho anh P số tiền 6.000.000 đồng. Thỏa thuận mỗi ngày anh P chuyển cho Chủ 300.000 đồng cho đến khi hết số tiền vay gốc. Đến ngày 09/9/2024 anh P đã thanh toán số tiền gốc cho C và xin đảo gói vay mới. Như vậy, số tiền lãi Chủ đã thu của anh P là 3.000.000 đồng: trong đó khoản tiền lãi tương ứng với mức lãi suất 20% mà Chủ được phép thu là 410.959 đồng, Khoản tiền C đã thu lợi bất chính là 2.589.041 đồng.
- - Ngày 09/9/2024, Chủ cho anh P vay số tiền 15.000.000 đồng dưới hình thức đảo ống trong 50 vòng ngày, với tổng mức lãi suất thỏa thuận là 3.000.000 đồng. Chủ thu tiền lãi trước 3.000.000 đồng, 01 ngày ống là 300.000 đồng, trừ số tiền gốc còn nợ ở gói vay ngày 17/7/2024 và 1.000.000 đồng tiền phạt do anh P trả tiền chậm không đúng hạn. sau đó chuyển cho anh P số tiền 4.400.000 đồng. Thỏa thuận mỗi ngày anh P chuyển cho Chủ 300.000 đồng cho đến khi hết số tiền vay gốc. Đến ngày 14/9/2024 anh P đã thanh toán số tiền gốc cho C là 1.800.000 đồng. Như vậy, số tiền lãi Chủ đã thu của anh P đối với khoản vay này là 3.000.000 đồng: trong đó khoản tiền lãi tương ứng với mức lãi suất 20% mà Chủ được phép thu là 410.959 đồng, Khoản tiền C đã thu lợi bất chính là 2.589.041 đồng. Anh P còn nợ số tiền gốc là 13.200.000 đồng.
Tổng cộng số tiền gốc Phạm Văn C cho 03 người vay (anh T, anh T1, anh P) là 235.000.000 đồng; Tổng số tiền lãi mà người vay đã trả cho C là 47.000.000 đồng: trong đó khoản tiền lãi tương ứng với mức lãi suất 20%/năm theo quy định của Bộ luật dân sự mà người vay phải trả là 6.438.360 đồng, Khoản tiền lãi C đã thu lợi bất chính là 40.561.640 đồng; khoản thu trái pháp luật khác Chủ đã thu lợi bất chính là 1.400.000 đồng (tiền phí thu của anh T là 400.000 đồng, tiền phạt thu của anh P là 1.000.000 đồng). Tổng số tiền Phạm Văn C đã thu lợi bất chính là 41.961.640 đồng.
Ngày 11/9/2024, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố N nhận được đơn trình báo của quần chúng nhân dân sinh sống trên địa bàn thành phố N về việc: Phạm Văn C có hành vi cho nhiều người vay tiền với lãi suất cao. Ngày 17/9/2024, Cơ quan điều tra đã triệu tập Phạm Văn C đến trụ sở để làm việc, Chủ đã khai nhận toàn bộ hành vi cho vay lãi nặng như đã nêu trên, đồng thời giao 01 điện thoại nhãn hiệu Iphone 15Promax, lắp sim 0976.039.655.
Kiểm tra điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 15Promax, lắp sim 0976.039.655 thu giữ của Phạm Văn C tại ứng dụng zalo có tin nhắn trao đổi, chụp số tiền giao dịch cho vay, trả nợ, xác nhận trả nợ gốc, lãi, phí... giữa Phạm Văn C và anh P, anh T, anh T1.
Kiểm tra điện thoại di động nhãn hiệu Vivo V2026 lắp sim số 0345797738 của anh Nguyễn Xuân T tại ứng dụng zalo có tin nhắn trao đổi, chụp số tiền giao dịch cho vay, trả nợ, xác nhận trả nợ gốc, lãi, phí... giữa anh T và Phạm Văn C.
Kiểm tra điện thoại di động nhãn hiệu Iphone Xs của anh Nguyễn Nam P: tại ứng dụng zalo có tin nhắn trao đổi vay tiền, chụp số tiền giao dịch trả nợ, xác nhận trả nợ gốc, lãi, phí... giữa anh P và Phạm Văn C.
Kiểm tra điện thoại di động nhãn hiệu Vivo V2025 của anh Nguyễn Ngọc T1 tại ứng dụng zalo có tin nhắn trao đổi, chụp số tiền giao dịch cho vay, trả nợ, xác nhận trả nợ gốc, lãi... giữa anh T1 và Phạm Văn C.
Sao kê tài khoản ngân hàng M của anh Nguyễn Nam P, anh Nguyễn Xuân T, anh Nguyễn Ngọc T1 có các giao dịch chuyển, nhận tiền giữa anh P, anh T, anh T1 với Phạm Văn C và anh Nguyễn Văn T2.
Cơ quan cảnh sát điều tra Công an thành phố H đã chuyển đến Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Hoa Lư quản lý để giải quyết cùng vụ án 01 chiếc điện thoại nhãn hiệu Iphone 15Promax, lắp sim 0976.039.655 mà Phạm Văn C giao nộp.
Quá trình điều tra Phạm Văn C đã thành khẩn khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình.
Tại bản Cáo trạng số 18/CT-VKSND-TPNB ngày 16/01/2025 của Viện Kiểm sát nhân dân thành phố Hoa Lư truy tố Phạm Văn C về tội “Cho vay lãi nặng trong giao dịch dân sự”, theo khoản 1, khoản 3 Điều 201 của Bộ luật Hình sự (BLHS).
* Tại phiên toà: Kiểm sát viên tham gia phiên tòa giữ nguyên quyết định truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử:
- - Tuyên bố: Bị cáo Phạm Văn C phạm tội “Cho vay lãi nặng trong giao dịch dân sự”.
- - Áp dụng: khoản 1 Điều 201; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 35 của Bộ luật hình sự. Đề nghị xử phạt bị cáo Phạm Văn C từ 50.000.000 đồng - 55.000.000 đồng.
- - Buộc bị cáo Phạm Văn C phải nộp lại số tiền là 219.538.000 đồng là tiền gốc và số tiền thu lợi bất chính.
- - Buộc bị cáo Phạm Văn C phải trả lại số tiền thu lợi bất chính cho anh Nguyễn Ngọc T1 số tiền 7.767.122 đồng; cho anh Nguyễn Nam P số tiền 12.945.205 đồng; cho anh Nguyễn Xuân T số tiền 19.849.313 đồng.
- - Buộc Phạm Văn C phải trả lại khoản tiền phí 400.000 đồng đã thu của anh T trong lần vay ngày 21/4/2024 và ngày 15/5/2024 và 1.000.000 đồng tiền phạt mà bị cáo C đã thu của anh P ngày 09/9/2024.
- - Buộc anh Nguyễn Ngọc T1 phải nộp lại 8.700.000 đồng (tiền gốc còn nợ bị cáo C);
- - Buộc anh Nguyễn Nam P phải nộp lại 13.200.000 đồng (tiền gốc còn nợ bị cáo C).
- - Về xử lý vật chứng: áp dung Điều 47 BLHS, khoản 2 Điều 106 BLTTHS: đối với 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 15Promax, lắp sim 0976.039.655 là vật chứng bị cáo sử dụng để nhắn tin liên lạc, thực hiện hành vi phạm tội cần tịch thu sung công quỹ nhà nước.
- - Về án phí: áp dụng Điều 136 BLTTHS, nghị quyết số 326 của UBTVQH ngày 31/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội : bị cáo phải nộp 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.
* Tại phiên tòa: bị cáo Phạm Văn C đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình như nội dung vụ án nêu trên, không có ý kiến tranh luận gì và đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho các bị cáo.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về hành vi, trách nhiệm hình sự đối với bị cáo:
Lời khai nhận tội của bị cáo tại phiên toà phù hợp với bản tự khai, lời khai của bị cáo tại cơ quan điều tra; phù hợp với các tài liệu chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án như lời khai của người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan đến vụ án, người chứng kiến, biên bản kiểm tra điện thoại của bị cáo và những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án; phù hợp với số tiền bị cáo, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án đã chuyển tiền cho nhau qua tài khoản Ngân hàng (sao kê tài khoản); biên bản làm việc... Như vậy, đã có đủ căn cứ kết luận:
Trong khoảng thời gian từ tháng 01 năm 2024 đến tháng 9 năm 2024 trên địa bàn thành phố N ( nay là thành phố H), tỉnh Ninh Bình và huyện Ý, tỉnh Nam Định, Phạm Văn C có hành vi nhiều lần cho các anh Nguyễn Xuân T, Nguyễn Ngọc T1 và Nguyễn Nam P vay tổng số tiền gốc là 235.000.000 đồng bằng hình thức bốc, đảo ống, trả gốc trong vòng 50 ngày với mức lãi suất 146%/năm, cao gấp hơn 5 lần (7,3 lần) mức lãi suất cao nhất quy định tại khoản 01 Điều 468 Bộ luật dân sự (20%/ năm), thu lợi bất chính số tiền là 41.961.640 đồng (tiền lãi 40.561.640 đồng, tiền phí, phạt 1.400.000 đồng).
Hành vi của Phạm Văn C đã đủ yếu tố cấu thành tội “ Cho vay lãi nặng trong giao dịch dân sự”, tội phạm và hình phạt được quy định tại khoản 1 Điều 201 của BLHS.
Điều 201. Tội cho vay lãi nặng trong giao dịch dân sự:
1. Người nào trong giao dịch dân sự mà cho vay với lãi suất gấp 05 lần trở lên của mức lãi suất cao nhất quy định trong Bộ luật Dân sự, thu lợi bất chính từ 30.000.000 đồng đến dưới 100.000.000 đồng hoặc đã bị xử phạt vi phạm hành chính về hành vi này hoặc đã bị kết án về tội này, chưa được xóa án tích mà còn vi phạm, thì bị phạt tiền từ 50.000.000 đồng đến 200.000.000 đồng hoặc phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm.
3. Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 30.000.000 đồng đến 100.000.000 đồng, cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định từ 01 năm đến 05 năm.
Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Hoa Lư, tỉnh Ninh Bình đã truy tố đối với bị cáo là có căn cứ và đúng pháp luật.
Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, không những xâm phạm trực tiếp đến trật tự quản lý kinh tế của Nhà nước trong lĩnh vực kinh doanh tiền tệ mà còn xâm phạm đến lợi ích của công dân được pháp luật bảo vệ, ảnh hưởng xấu đến trật tự an toàn xã hội, gây tâm lý hoang mang trong quần chúng nhân dân. Bị cáo là người có đủ năng lực chịu trách nhiệm hình sự, biết rõ việc cho người khác vay tiền với lãi suất cao hơn 5 lần mức lãi suất cao nhất quy định trong Bộ luật dân sự là vi phạm pháp luật nhưng vì vụ lợi bị cáo vẫn thực hiện hành vi phạm tội với lỗi cố ý thể hiện sự coi thường pháp luật. Do vậy cần phải xử lý nghiêm minh buộc bị cáo phải chịu trách nhiệm hình sự để răn đe giáo dục bị cáo và phòng ngừa chung trong nhân dân.
- Về nhân thân: Bị cáo 01 lần bị kết án về tội Cố ý gây thương tích đã được xóa án tích nhưng cũng cho thấy bị cáo có nhân thân không tốt.
- Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: bị cáo không có.
- Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Trong quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của mình, sau khi bị phát hiện bị cáo đã tự nguyện đầu thú khai báo về hành vi phạm tội nên bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 BLHS.
[2] Về hình phạt: Căn cứ quy định của Bộ luật hình sự, cân nhắc tính chất và mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội, nhân thân, các tình tiết giảm nhẹ, Hội đồng xét xử thấy bị cáo 1 lần bị kết án nhưng không phải về tội Cho vay lãi nặng trong giao dịch dân sự, có 2 tình tiết giảm nhẹ, không có tình tiết tăng nặng nên theo nguyên tắc cần áp dụng hình phạt tiền là hình phạt chính đối với bị cáo để tăng mức răn đe, giáo dục.
- Về hình phạt bổ sung: Do đã áp dụng hình phạt tiền là hình phạt chính nên không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.
[3] Các vấn đề khác:
[3.1] Ngày 11/6/2023, Phạm Văn C còn cho anh T vay số tiền 15.000.000 đồng dưới hình thức bốc, đảo ống trong vòng 50 ngày, với tổng lãi suất là 3.000.000 đồng tương đương lãi suất 146%/ năm. Chủ thu tiền lãi 3.000.000 đồng và 02 ngày ống là 600.000 đồng, sau đó chuyển cho anh T số tiền 11.400.000 đồng. Ngày 30/7/2023 Anh T đã thanh toán hết số tiền gốc, lãi cho C. Căn cứ Nghị quyết số 01/2021/NQ-HĐTP ngày 20/12/2021 của Tòa án nhân dân Tối cao về việc hướng dẫn áp dụng Điều 201 của Bộ luật hình sự và việc xét xử vụ án hình sự về tội cho vay lãi nặng trong giao dịch dân sự thì tính đến thời điểm Cơ quan điều tra phát hiện hành vi phạm tội ( ngày 17/9/2024) đã hết thời hiệu xử phạt vi phạm hành chính, vì vậy không xem xét xử lý hình sự đối với bị cáo C về hành vi này.
[3.2] Quá trình điều tra xác định bị cáo C sử dụng tài khoản V số [...] mang tên Phạm Văn C và tài khoản V số [...] mang tên Nguyễn Văn T2 để chuyển nhận tiền qua tài khoản ngân hàng với anh Nguyễn Xuân T, anh Nguyễn Ngọc T1 và anh Nguyễn Nam P. Bị cáo C khai nhận anh T2 cho bị cáo mượn số tài khoản này, anh T2 không biết việc bị cáo sử dụng tài khoản ngân hàng của mình để thực hiện hành vi cho vay lãi nặng trong giao dịch dân sự và không được hưởng lợi gì. Anh T, anh P, anh T1 khai nhận chỉ trao đổi và vay tiền trực tiếp với bị cáo C, khi trả tiền lãi thì được bị cáo C yêu cầu chuyển tiền vào số tài khoản và không quen biết anh T2. Cơ quan cảnh sát điều tra Công an thành phố N đã nhiều lần triệu tập anh T2 đến làm việc nhưng anh T2 vắng mặt tại địa phương nên không có căn cứ làm rõ để xử lý.
[3.3] Các biện pháp tư pháp và xử lý vật chứng:
- - Đối với toàn bộ khoản tiền gốc 235.000.000 đồng mà bị cáo Phạm Văn C dùng để cho vay được xác định là phương tiện phạm tội nên tịch thu, sung quỹ nhà nước. Do vậy cần buộc bị cáo Phạm Văn C phải nộp lại khoản tiền gốc mà anh Nguyễn Xuân T, anh Nguyễn Ngọc T1, anh Nguyễn Nam P đã trả lại cho bị cáo là 213.100.000 đồng; Buộc anh Nguyễn Ngọc T1 chưa trả khoản tiền gốc cho bị cáo C phải nộp lại khoản tiền gốc là 8.700.000đồng; Buộc anh Nguyễn Nam P chưa trả khoản tiền gốc cho bị cáo C phải nộp lại khoản tiền gốc là 13.200.000 đồng.
- - Đối với khoản tiền lãi tương ứng với mức lãi suất cao nhất theo quy định của Bộ luật dân sự là 20%/năm mà bị cáo C đã thu của anh Nguyễn Xuân T là 3.150.687 đồng, anh Nguyễn Ngọc T1 là 1.232.878 đồng, anh Nguyễn Nam P là 2.054.795 đồng, tổng là 6.438.360 đồng. Đây là khoản tiền phát sinh từ tội phạm, do đó cần buộc bị cáo phải nộp lại để tịch thu, sung công quỹ nhà nước.
- - Đối với khoản tiền lãi tương ứng với mức lãi suất trên 20%/năm mà bị cáo C đã thu của anh Nguyễn Xuân T là 19.849.313 đồng, của anh Nguyễn Nam P là 12.945.205 đồng, của anh Nguyễn Ngọc T1 là 7.767.122 đồng, đây là khoản tiền bị cáo thu lợi bất chính của anh T, anh T1, anh P, nên cần buộc bị cáo C phải trả lại cho họ.
- - Đối với khoản tiền phí mỗi lần 200.000 đồng mà bị cáo C đã thu của anh T trong lần vay ngày 21/4/2024 và ngày 15/5/2024, tổng là 400.000 đồng; 1.000.000 đồng tiền phạt mà bị cáo C đã thu của anh P ngày 09/9/2024 do anh P trả tiền chậm đây là các khoản thu trái pháp luật khác mà bị cáo C đã thu của anh T và anh P, nên cần buộc bị cáo C phải trả lại cho họ.
- - Tổng cộng tiền gốc và tiền lãi 20%/năm mà bị cáo C phải nộp lại là: 219.538.360 đồng, anh P phải nộp lại là 13.200.000 đồng, anh T1 phải nộp lại là 8.700.000 đồng để tịch thu sung quỹ nhà nước.
- - Tổng cộng bị cáo C phải trả lại cho anh T là 20.249.313 đồng; trả lại cho anh P là 13.945.205 đồng; trả lại cho anh T1 là 7.767.122 đồng.
- [2.4] Đối với điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 15Promax, lắp sim 0976.039.655 thu giữ của bị cáo C: đây là tài sản của bị cáo sử dụng làm công cụ, phương tiện phạm tội nên cần tịch thu sung quỹ nhà nước.
- [3] Về án phí, quyền kháng cáo: Bị cáo bị kết án nên phải chịu án phí hình sự sơ thẩm; Bị cáo, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án được quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.
- [4] Từ nhận định trên Hội đồng xét xử chấp nhận đề nghị của Kiểm sát viên tại phiên tòa.
- [5] Về tố tụng: Hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra, Điều tra viên, Viện kiểm sát, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa bị cáo không có khiếu nại gì về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện là hợp pháp.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào: Khoản 1 Điều 201; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 35 Bộ luật hình sự; Điều 46, Điều 47, Điều 48 Bộ luật hình sự; Điều 106; Điều 136; Điều 331; Điều 333 Bộ luật tố tụng hình sự.
- Điều 468 Bộ luật dân sự.
- Điều 23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu án phí, lệ phí Tòa án.
1 - Tuyên bố: Bị cáo Phạm Văn C phạm tội Cho vay lãi nặng trong giao dịch dân sự.
2 - Xử phạt: Bị cáo Phạm Văn C 55.000.000đ ( năm mươi lăm triệu đồng) để sung ngân sách nhà nước.
3. Biện pháp tư pháp và xử lý vật chứng:
3.1. Buộc bị cáo Phạm Văn C phải nộp lại số tiền là 219.538.360 đ (Hai trăm mười chín triệu, năm trăm ba mươi tám nghìn, ba trăm sáu mươi đồng ) để tịch thu, sung quỹ nhà nước.
- Buộc anh Nguyễn Ngọc T1 chưa trả khoản tiền gốc cho bị cáo Phạm Văn C phải nộp lại khoản tiền gốc là 8.700.000đ (tám triệu bảy trăm nghìn đồng) để tịch thu, sung quỹ nhà nước.
- Buộc anh Nguyễn Nam P chưa trả khoản tiền gốc cho bị cáo Phạm Văn C phải nộp lại khoản tiền gốc là 13.200.000 đ (Mười ba triệu hai trăm nghìn đồng) để tịch thu, sung quỹ nhà nước.
3.2. Buộc bị cáo Phạm Văn C phải trả lại cho những người vay khoản tiền thu lợi bất chính cụ thể:
+ Trả lại cho anh Nguyễn Xuân T số tiền là 20.249.313 đồng; (hai mươi triệu, hai trăm bốn mươi chín nghìn, ba trăm mười ba đồng);
+ Trả lại cho anh Nguyễn Nam P số tiền là 13.945.205 đồng (mười ba triệu, chín trăm bốn mươi lăm nghìn, hai trăm linh năm đồng);
+ Trả lại cho anh Nguyễn Ngọc T1 số tiền là 7.767.122 đồng (bảy triệu, bảy trăm sáu mươi bảy nghìn, một trăm hai mươi hai đồng).
Kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án ( đối với các khoản tiền phải trả cho người được thi hành án) cho đến khi thi hành án xong, bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất được quy định tại Điều 357 và khoản 2 Điều 468 Bộ luật dân sự năm 2015.
3.3. Tịch thu sung quỹ nhà nước 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 15Promax, lắp sim 0976.039.655 thu giữ của bị cáo Phạm Văn C.
(tình trạng vật chứng theo biên bản giao nhận vật chứng ngày 07/02/2025 giữa Cơ quan CSĐT Công an thành phố H và Chi cục thi hành án dân sự thành phố Hoa Lư).
4. Về án phí: bị cáo Phạm Văn C phải chịu 200.000 đồng (hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.
5. Quyền kháng cáo: Bị cáo có mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án sơ thẩm; Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan đến vụ án vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc niêm yết bản án.
Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 của Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, 7a, 9 của Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 của Luật Thi hành án dân sự.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Giang Thị Thúy Thu |
Bản án số 30/2025/HS-ST ngày 27/02/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HOA LƯ - TỈNH NINH BÌNH về hình sự (cho vay lãi nặng trong giao dịch dân sự)
- Số bản án: 30/2025/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Hình sự (Cho vay lãi nặng trong giao dịch dân sự)
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 27/02/2025
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HOA LƯ - TỈNH NINH BÌNH
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Phạm Văn C 55 triệu đồng
