|
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THÁI BÌNH TỈNH THÁI BÌNH |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc |
|
Bản án số: 30/2025/HS - ST Ngày: 26/02/2025 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THÁI BÌNH
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Hoàng Thị Minh Phương
Các Hội thẩm nhân dân: 1. Ông Vũ Tiến Thịnh
2. Bà Nguyễn Thị Thu Trang
- Thư ký phiên tòa: Bà Đỗ Thị Lan Hương – Thư ký Toà án nhân dân thành phố Thái Bình, tỉnh Thái Bình.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thái Bình tham gia phiên tòa: Bà Quách Thị Phương - Kiểm sát viên.
Ngày 26 tháng 02 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Thái Bình, tỉnh Thái Bình xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 20/2025/TLST-HS ngày 23 tháng 01 năm 2025, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 22/2025/QĐXXST-HS, ngày 12 tháng 02 năm 2025 đối với các bị cáo:
- Nguyễn Văn T, sinh năm 1978; nơi cư trú: thôn H, xã N, huyện T, tỉnh Thái Bình; quốc tịch: Việt Nam; dân tộc: Kinh; tôn giáo: không; giới tính: nam; trình độ học vấn: 10/12; nghề nghiệp: lái xe; con ông Nguyễn Văn B, sinh năm 1947 và bà Tạ Thị T1 (đã chết); có vợ là Vũ Thị H, sinh năm 1983 và 02 con, con lớn sinh năm 2008, con nhỏ sinh năm 2011; tiền án, tiền sự: không; bị cáo tại ngoại, có mặt.
- Đoàn Tiến T2, sinh năm 1985; nơi cư trú: thôn D, xã T, thành phố T, tỉnh Thái Bình; quốc tịch: Việt Nam; dân tộc: Kinh; tôn giáo: không; giới tính: nam; trình độ học vấn: 12/12; nghề nghiệp: lao động tự do; con ông Đoàn Đức T3, sinh năm 1959 và bà Trần Thị D, sinh năm 1962; có vợ là Nguyễn Thị M và 04 con, con lớn sinh năm 2009, con nhỏ sinh năm 2023; tiền án, tiền sự: không; bị cáo tại ngoại, có mặt.
- Trần Văn T4, sinh năm 1983; nơi cư trú: thôn T, xã V, huyện K, tỉnh Thái Bình; quốc tịch: Việt Nam; dân tộc: Kinh; tôn giáo: không; giới tính: nam; trình độ học vấn: 12/12; nghề nghiệp: lái xe; con ông Trần Đình P, sinh năm 1957 và bà Phạm Thị G, sinh năm 1958; có vợ là Bùi Thị S và 02 con, con lớn sinh năm 2013, con nhỏ sinh năm 2018; là Đảng viên Đảng cộng sản Việt Nam, bị đình chỉ sinh hoạt Đảng theo Quyết định số 89-QĐ/UBKTTU ngày 25/02/2025 của Ủy ban kiểm tra Thành ủy T6; tiền án, tiền sự: không; bị cáo tại ngoại, có mặt.
* Bị hại: Anh Vũ Mạnh C, sinh năm 1987; nơi cư trú: thôn A, xã Y, huyện Ý, tỉnh Nam Định (đã chết).
* Người đại diện hợp pháp của bị hại:
- Bà Đoàn Thị K, sinh năm 1955 (mẹ đẻ anh C)
- Người đại diện theo ủy quyền của bà K: Anh Vũ Đình H1, sinh năm 1990.
- Chị Nguyễn Thị H2, sinh năm 1991 (vợ anh C)
Cùng cư trú: thôn A, xã Y, huyện Ý, tỉnh Nam Định.
Nơi cư trú: thôn N, xã T, huyện V, tỉnh Thái Bình.
* Người làm chứng:
- Anh Phan Văn H3, sinh năm 1992
- Anh Bùi Xuân Q, sinh năm 1971
Nơi cư trú: thôn H, xã N, huyện T, tỉnh Thái Bình.
Nơi cư trú: thôn Việt Nam H, xã B, huyện K, tỉnh Thái Bình.
(anh H1, chị H2 có mặt; anh H3, anh Q vắng mặt)
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 16 giờ 30 phút ngày 18/10/2024, Trần Văn T4 (có giấy phép lái xe theo quy định, không sử dụng rượu bia hay chất kích thích khác) là nhân viên công ty M1 nhận thông báo từ tổng đài taxi M1 có khách đặt xe tại quán M2, số B đường T, phường T, thành phố T. T4 nhận cuốc xe và điều khiển xe ô tô M1 biển kiểm soát 51G-751.52 đến địa điểm trên đón hai khách là Đoàn Tiến T2 và Bùi Xuân Q. Khi đến đón khách Trần Văn T4 để T2 và anh Q tự mở cửa ngồi vào trong taxi, T2 ngồi ở hàng ghế phía sau bên trái, anh Q ngồi ở hàng ghế sau phía bên phải. Sau đó T4 điều khiển xe taxi theo yêu cầu của T2 và anh Q đến quán B1 trên đường T thuộc địa phận thôn Đ, xã P, thành phố T. Khoảng 16 giờ 45 phút cùng ngày, T4 điều khiển xe taxi đi đến và dừng xe trên đường T (chiều đường L đi cầu M) phía trước cửa quán B1. Khi dừng xe, T4 không bật tín hiệu cảnh báo, không thông báo đến hành khách quy định về an toàn khi lên xuống xe mà bấm mở chốt khóa an toàn cửa xe phía sau mục đích để T2 và anh Q tự mở cửa xuống xe. T4 thông báo tiền cước phí hết 36.000 đồng, T2 trả tiền và mở cửa xe. Do T2 không chú ý quan sát phía trước, phía sau diễn biến các phương tiện tham gia giao thông trên đường nên đã mở cánh cửa phía sau bên trái và đẩy cánh cửa ra phía ngoài thì va chạm với xe mô tô nhãn hiệu Honda Wave, biển kiểm soát 17B-222.20 do anh Vũ Mạnh C điều khiển đi trên đường T hướng đi cầu Mùa, làm anh C bị ngã ra đường. Cùng lúc, xe ô tô buýt Phiệt Học biển kiểm soát 17B-017.85 của công ty TNHH T7 do Nguyễn Văn T (có giấy phép lái xe theo quy định, không sử dụng rượu bia hay chất kích thích khác) điều khiển xe đi phía sau xe mô tô của anh C, do không chú ý quan sát, không giữ khoảng cách đảm bảo an toàn, vượt không đúng quy định đã chèn bánh xe phía trước và bánh xe phía sau bên phải của xe ô tô buýt qua người anh C. Hậu quả anh C đã tử vong do đa chấn thương. Các phương tiện bị hư hỏng nhẹ.
- Kết luận giám định số 1591/KLGĐTT-KTHS ngày 08/11/2024 của Phòng K1 Công an tỉnh T kết luận:
“Khám ngoài: trên tử thi có các vết sây sát da, rách toác da, trợt da, sưng nề, tụ máu tại vùng đầu, mặt và toàn thân. Khám trong: Gãy gãy toàn bộ xương sườn bên phải, gãy 02 xương sườn bên trái, gãy xương ức. Bên trong khoang ngực và ổ bụng có nhiều máu đông và nhiều máu không đông, dập vỡ các tạng trong lồng ngực và ổ bụng. Nạn nhân Vũ Mạnh C chết do đa chấn thương”.
Tại bản Cáo trạng số 30/CT - VKSTPTB ngày 23 tháng 01 năm 2025, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thái Bình, tỉnh Thái Bình truy tố các bị cáo Đoàn Tiến T2, Trần Văn T4 và Nguyễn Văn T về tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ” theo điểm a khoản 1 Điều 260 Bộ luật Hình sự.
Tại phiên tòa: Các bị cáo thành khẩn khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội như Cáo trạng đã xác định.
Người đại diện hợp pháp của bị hại đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt và cho các bị cáo được hưởng án treo. Về trách nhiệm dân sự, các bị cáo đã liên đới bồi thường cho gia đình bị hại số tiền 200.000.000 đồng, những người đại diện hợp pháp của bị hại không yêu cầu bị cáo phải bồi thường thêm khoản nào khác.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thái Bình, tỉnh Thái Bình giữ nguyên quan điểm truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử:
Về tội danh: Tuyên bố các bị cáo Đoàn Tiến T2, Trần Văn T4 và Nguyễn Văn T phạm tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ”.
Về hình phạt: Áp dụng điểm a khoản 1 Điều 260; điểm b, s khoản 1 + khoản 2 Điều 51; Điều 50, Điều 38; Điều 65 Bộ luật Hình sự:
Xử phạt bị cáo Nguyễn Văn T từ 01 năm 03 tháng đến 01 năm 06 tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách từ 02 năm 06 tháng đến 03 năm tính từ ngày tuyên án sơ thẩm.
Xử phạt các bị cáo Đoàn Tiến T2, Trần Văn T4 từ 01 năm đến 01 năm 03 tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách từ 02 năm đến 02 năm 06 tháng tính từ ngày tuyên án sơ thẩm.
Không áp dụng hình phạt bổ sung với các bị cáo.
Về trách nhiệm dân sự: ghi nhận sự tự nguyện thoả thuận của các bị cáo Đoàn Tiến T2, Trần Văn T4, Nguyễn Văn T và những người đại diện hợp pháp của bị hại về việc các bị cáo đã liên đới bồi thường cho gia đình bị hại số tiền 200.000.000 đồng, đại diện gia đình bị hại đã nhận đủ tiền và không có yêu cầu gì khác về trách nhiệm dân sự.
Về xử lý vật chứng: đề nghị tuyên trả bị cáo Trần Văn T4 01 giấy phép lái xe số [...] hạng B2; trả bị cáo Nguyễn Văn T 01 giấy phép lái xe số [...] hạng A1, E mang tên các bị cáo.
Các bị cáo, những người đại diện hợp pháp của bị hại không có ý kiến tranh luận với bản luận tội của đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thái Bình.
Các bị cáo nói lời sau cùng: Bị cáo rất ân hận về hành vi của mình, mong Hội đồng xét xử xem xét xử phạt bị cáo mức hình phạt nhẹ nhất và cho bị cáo được cải tạo tại địa phương.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên toà, Hội đồng xét xử nhận thấy như sau:
[1] Trong quá trình tiến hành tố tụng, các cơ quan, người tiến hành tố tụng đã tuân thủ đúng quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Việc ban hành các quyết định tố tụng đúng quy định của pháp luật. Các bị cáo, người đại diện hợp pháp của bị hại không có khiếu nại gì về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
[2] Về chứng cứ buộc tội đối với bị cáo: tại phiên toà, các bị cáo Đoàn Tiến T2, Trần Văn T4 và Nguyễn Văn T đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội như Cáo trạng đã xác định. Lời khai nhận của các bị cáo tại phiên toà phù hợp với lời khai của các bị cáo trong quá trình điều tra; phù hợp với lời khai của người đại diện hợp pháp của bị hại và những người làm chứng. Ngoài ra còn được chứng minh bằng các tài liệu chứng cứ như: biên bản khám nghiệm hiện trường, sơ đồ hiện trường vụ tai nạn; biên bản khám nghiệm các phương tiện, bản ảnh khám nghiệm các phương tiện liên quan đến tai nạn giao thông; biên bản khám nghiệm tử thi, bản kết luận giám định pháp y tử thi của Phòng K1 Công an tỉnh T... cùng các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại phiên tòa.
Từ những chứng cứ nêu trên, Hội đồng xét xử có đủ căn cứ để kết luận:
Khoảng 16 giờ 48 phút ngày 18/10/2024, tại khu vực trước cửa quán B1, đường T, thuộc thôn Đ, xã P, thành phố T; bị cáo Trần Văn T4 điều khiển xe ô tô taxi M1 nhãn hiệu Toyota Vios E, màu sơn xanh, biển số đăng ký 51G - 751.52 chở bị cáo Đoàn Tiến T2 và anh Bùi Xuân Q đi đến và dừng xe trước cửa quán B1. Khi dừng xe taxi, bị cáo T4 không bật tín hiệu cảnh báo, không thông báo đến hành khách quy định về an toàn khi lên xe, xuống xe, mở chốt cửa xe ô tô, để khách hàng tự mở cửa trái bước xuống xe. Bị cáo Đoàn Tiến T2 là hành khách ngồi phía sau, trước khi mở cửa đã không quan sát phía trước, phía sau diễn biến các phương tiện tham gia giao thông trên đường, nên khi mở cửa đã va chạm với xe mô tô do anh Vũ Mạnh C điều khiển đi trên đường T hướng đi cầu Mùa, làm xe anh C bị đổ và anh C ngã ra đường. Cùng lúc xe ô tô buýt Samco Citi 140 biển kiểm soát 17B-017.85 do bị cáo Nguyễn Văn T điều khiển đi phía sau, do không chú ý quan sát, không giữ khoảng cách đảm bảo an toàn, vượt xe không đúng quy định đã chèn bánh xe phía trước và bánh xe phía sau bên phải của xe ô tô qua người anh C. Hậu quả anh C tử vong do đa chấn thương.
Các bị cáo đều là người có đầy đủ năng lực trách nhiệm hình sự, đã được cấp Giấy phép lái xe hợp lệ và đều nhận thức được người tham gia giao thông phải chấp hành nghiêm các quy định về trật tự an toàn giao thông. Tuy nhiên, bị cáo Đoàn Tiến T2 trước khi mở cửa xe đã không quan sát diễn biến các phương tiện tham gia giao thông trên đường, vi phạm khoản 28 Điều 9, khoản 2 Điều 19 Luật giao thông đường bộ năm 2024. Bị cáo Trần Văn T4 khi dừng xe taxi đã không bật tín hiệu cảnh báo, không thông báo đến hành khách quy định về an toàn khi lên xe, xuống xe, mở chốt cửa xe ô tô, để khách hàng tự mở cửa trái để xuống xe, vi phạm khoản 23 Điều 8, điểm a, b, đ khoản 3 Điều 18 Luật Giao thông đường bộ năm 2008, nay là khoản 28 Điều 9, điểm a khoản 3, khoản 5 Điều 18 Luật Giao thông đường bộ năm 2024. Bị cáo Nguyễn Văn T điều khiển xe ô tô tham gia giao thông song không chú ý quan sát, không giữ khoảng cách đảm bảo an toàn, vượt xe không đúng quy định, vi phạm khoản 23 Điều 8, khoản 1 Điều 12, khoản 2 Điều 14 Luật Giao thông đường bộ năm 2008, nay là khoản 28 Điều 9, khoản 1 Điều 12, khoản 3 Điều 14 Luật Giao thông đường bộ năm 2024. Hành vi của các bị cáo đã dẫn đến hậu quả làm chết 01 người, Cáo trạng của Viện kiểm sát truy tố các bị cáo về tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ” theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 260 Bộ luật Hình sự là có căn cứ, đúng pháp luật.
Luật giao thông đường bộ năm 2008 quy định
Điều 8. Các hành vi bị nghiêm cấm:
1......
23. Hành vi vi phạm quy tắc giao thông đường bộ, hành vi khác gây nguy hiểm cho người và phương tiện tham gia giao thông đường bộ.
Điều 12. Tốc độ và khoảng cách giữa các xe:
1. Người lái xe, người điều khiển xe máy chuyên dùng phải tuân thủ quy định về tốc độ xe chạy trên đường và phải giữ một khoảng cách an toàn đối vơi xe chạy liền trước của mình; ở nơi có biển báo “Cự ly tối thiểu giữa hai xe” phải giữ khoảng cách không nhỏ hơn số ghi trên biển báo.
....
Điều 14. Vượt xe:
1...
2. Xe xin vượt chỉ được vượt khi không có chướng ngại vật phía trước, không có xe chạy ngược chiều trong đoạn đường định vượt, xe chạy trước không có tín hiệu vượt xe khác và đã tránh về bên phải.
Điều 18. Dừng xe, đỗ xe trên đường bộ:
1...
3. Người điều khiển phương tiện khi dừng xe, đỗ xe trên đường bộ phải thực hiện các quy định sau đây:
a) Có tín hiệu báo cho người điều khiển phương tiện khác biết;
b) Cho xe dừng, đỗ ở nơi có lề đường rộng hoặc khu đất ở bên ngoài phần đường xe chạy; trường hợp lề đường hẹp hoặc không có lề đường thì phải cho xe dừng, đỗ sát mép đường phía bên phải theo chiều đi của mình;
....
đ) Không mở cửa xe, để cửa xe mở hoặc bước xuống xe khi chưa đảm bảo điều kiện an toàn.
Luật Giao thông đường bộ năm 2024, quy định:
Điều 9. Các hành vi bị nghiêm cấm.
....
28. Hành vi khác vi phạm quy tắc giao thông đường bộ quy định tại Chương II của Luật này.
Điều 12. Chấp hành quy định về tốc độ và khoảng cách giữa các xe:
1. Người lái xe, người điều khiển xe máy chuyên dùng phải chấp hành quy định về tốc độ, khoảng cách an toàn tối thiểu với xe phía trước cùng làn đường hoặc phần đường.
....
Điều 14. Vượt xe và nhường đường cho cho xe xin vượt:
....
3. Xe xin vượt chỉ được vượt khi không có chướng ngại vật phía trước, không có xe chạy ngược chiều trong đoạn đường định vượt, xe chạy trước không có tín hiệu vượt xe khác, đã có tín hiệu rẽ phải và tránh về bên phải.
Điều 18. Dừng xe, đỗ xe:
....
3. Người điều khiển phương tiện tham gia giao thông đường bộ khi dừng xe, đỗ xe trên đường phải thực hiện các quy định sau đây:
a) Có tín hiệu báo cho người điều khiển phương tiện tham gia giao thông đường bộ khác biết khi ra, vào vị trí dừng xe, đỗ xe;
....
5. Trên đường bộ, người điều khiển phương tiện tham gia giao thông đường bộ chỉ được dừng xe, đỗ xe nơi có lề đường rộng hoặc khu đất ở bên ngoài phần đường xe chạy; trường hợp lề đường hẹp hoặc không có lè đường thì chỉ được dừng xe, đỗ xe sát mép đường phía bên phải theo chiều đi của mình.
Điều 19. Mở cửa xe:
1....
2. Trước khi mở cửa xe, người mở cửa phải quan sát phía trước, phía sau và bên phía mở cửa xe, khi thấy an toàn mới được mở cửa xe, ra khỏi xe; không để cửa xe mở nếu không bảo đảm an toàn.
Điều 260 Bộ luật hình sự: “Tội vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ” quy định:
“1. Người nào tham gia giao thông đường bộ mà vi phạm quy định về an toàn giao thông đường bộ gây thiệt hại cho người khác thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tiền từ 30.000.000 đồng đến 100.000.000 đồng, phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc phạt tù từ 01 năm đến 05 năm:
a) Làm chết người;
....
5. Người phạm tội còn có thể bị cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định từ 01 năm đến 05 năm.
[3] Về tính chất, mức độ nghiêm trọng của hành vi phạm tội: Hành vi phạm tội của các bị cáo Đoàn Tiến T2, Trần Văn T4, Nguyễn Văn T là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm các quy định của Nhà nước về trật tự an toàn giao thông đường bộ, gây thiệt hại tính mạng của người khác, gây tâm lý hoang mang lo lắng cho người dân khi tham gia giao thông.
[4] Về nhân thân, tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự
Về tình tiết tăng nặng: Các bị cáo không phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự nào quy định tại Điều 52 Bộ luật hình sự.
Về tình tiết giảm nhẹ: Quá trình điều tra cũng như tại phiên toà các bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; đã tự nguyện bồi thường khắc phục hậu quả cho gia đình bị hại nên được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại các điểm b, s khoản 1, Điều 51 Bộ luật hình sự. Những người đại diện hợp pháp của bị hại đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho các bị cáo; bị hại cũng có một phần lỗi khi điều khiển xe tham gia giao thông đã không chú ý quan sát, khi gặp tình huống bất ngờ không kịp xử lý dẫn đến tai nạn; bị cáo Đoàn Đức T5 có bố đẻ là thương binh loại A thương tật 71%; bị cáo Trần Văn T4 có bố đẻ được Nhà nước tặng thưởng Huân chương chiến công hạng Ba. Do đó các bị cáo được hưởng thêm tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại khoản 2, Điều 51 Bộ luật Hình sự.
[5] Về mức hình phạt và biện pháp chấp hành hình phạt
Căn cứ tính chất, hậu quả hành vi phạm tội và mức độ lỗi của từng bị cáo trong vụ án Hội đồng xét xử sẽ cá thể hoá hình phạt với từng bị cáo để đảm bảo sự nghiêm minh và công bằng của pháp luật. Theo đó, bị cáo Nguyễn Văn T phải chịu mức hình phạt cao nhất, tiếp đó lần lượt đến các bị cáo Trần Văn T4, Đoàn Tiến T2 với mức hình phạt thấp hơn. Xét thấy: các bị cáo đều có nhân thân tốt, không phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự nào và có nhiều tình tiết giảm nhẹ quy định tại Điều 51 Bộ luật hình sự, có nơi cư trú rõ ràng, có khả năng tự cải tạo do đó không cần thiết buộc các bị cáo phải cách ly xã hội mà áp dụng Điều 65 Bộ luật Hình sự cho các bị cáo được hưởng án treo, giao các bị cáo cho chính quyền địa phương quản lý, giáo dục cũng đủ điều kiện để răn đe, giáo dục các bị cáo đồng thời cũng thể hiện sự khoan hồng của pháp luật.
Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với các bị cáo.
[6] Về trách nhiệm dân sự: Các bị cáo Đoàn Tiến T2, Trần Văn T4, Nguyễn Văn T đã tự nguyện liên đới bồi thường cho gia đình bị hại số tiền 200.000.000 đồng (trong đó bị cáo T2 bồi thường 80.000.000 đồng, bị cáo T4 bồi thường 20.000.000 đồng, bị cáo T bồi thường 100.000.000 đồng). Những người đại diện hợp pháp của bị hại không yêu cầu các bị cáo phải bồi thường thêm chi phí nào khác. Xét thấy sự thoả thuận bồi thường của các bên là tự nguyện, không trái pháp luật, Hội đồng xét xử ghi nhận.
[7] Về xử lý vật chứng: trả bị cáo Trần Văn T4 01 giấy phép lái xe số [...] hạng B2; trả bị cáo Nguyễn Văn T 01 giấy phép lái xe số [...] hạng A1, E mang tên các bị cáo.
[8] Về án phí: Các bị cáo Đoàn Tiến T2, Trần Văn T4, Nguyễn Văn T phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
[9] Quyền kháng cáo: Các bị cáo, người đại diện hợp pháp của bị hại có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn luật định.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
1. Tuyên bố: Các bị cáo Nguyễn Văn T, Trần Văn T4 và Đoàn Tiến T2 phạm tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ”.
2. Hình phạt: Áp dụng điểm a khoản 1 Điều 260; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 50; Điều 38; Điều 65 Bộ luật Hình sự:
Xử phạt bị cáo Nguyễn Văn T 01 năm 09 tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách 03 năm 06 tháng tính từ ngày tuyên án sơ thẩm.
Xử phạt bị cáo Trần Văn T4 01 năm 06 tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách 03 năm tính từ ngày tuyên án sơ thẩm.
Xử phạt bị cáo Đoàn Tiến T2 01 năm tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách 02 năm tính từ ngày tuyên án sơ thẩm.
Giao: bị cáo Nguyễn Văn T cho UBND xã N, huyện T, tỉnh Thái Bình; bị cáo Đoàn Tiến T2 cho Ủy ban nhân dân xã T, thành phố T, tỉnh Thái Bình; bị cáo Trần Văn T4 cho UBND xã V, huyện K, tỉnh Thái Bình giám sát, giáo dục các bị cáo trong thời gian thử thách. Trường hợp các bị cáo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định tại Điều 92 Luật thi hành án hình sự.
Trong thời gian thử thách người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ 02 lần trở lên thì Tòa án có thể quyết định buộc người được hưởng án treo phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo.
3. Trách nhiệm dân sự: Áp dụng Điều 585, Điều 591 Bộ luật dân sự
Ghi nhận sự tự nguyện thoả thuận của các bị cáo Đoàn Tiến T2, Trần Văn T4, Nguyễn Văn T và gia đình bị hại về việc các bị cáo đã liên đới bồi thường cho gia đình bị hại - người đại diện nhận là chị Nguyễn Thị H2 và anh Vũ Đình H1, số tiền 200.000.000 đồng (đã bồi thường xong).
4. Xử lý vật chứng: Áp dụng Điều 48 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự.
- Trả lại bị cáo Trần Văn T4 01 giấy phép lái xe số [...] hạng B2 mang tên bị cáo do Sở giao thông vận tải thành phố H cấp ngày 06/7/2020.
- Trả lại bị cáo Nguyễn Văn T 01 giấy phép lái xe số [...] hạng A1, E mang tên bị cáo do Sở giao thông vận tải tỉnh T cấp ngày 24/4/2020.
Số vật chứng có đặc điểm như biên bản giao nhận vật chứng, tài sản ngày 23/01/2025 tại Chi cục thi hành án dân sự thành phố Thái Bình, tỉnh Thái Bình.
5. Về án phí: Áp dụng Điều 135, 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Nghị quyết 326/2016/NQ-UBTVQH14 của Uỷ ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.
Các bị cáo Đoàn Tiến T2, Trần Văn T4, Nguyễn Văn T mỗi bị cáo phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.
6. Quyền kháng cáo: Các bị cáo Đoàn Tiến T2, Trần Văn T4, Nguyễn Văn T và những người đại diện hợp pháp của bị hại là chị Nguyễn Thị H2, bà Đoàn Thị K có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa (đã ký) Hoàng Thị Minh Phương |
Bản án số 30/2025/HS - ST ngày 26/02/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THÁI BÌNH, TỈNH THÁI BÌNH về hình sự - vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ
- Số bản án: 30/2025/HS - ST
- Quan hệ pháp luật: Hình sự - Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 26/02/2025
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THÁI BÌNH, TỈNH THÁI BÌNH
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Nguyễn Văn T và đồng phạm phạm tội Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ
