Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

THÀNH PHỐ SÓC TRĂNG

TỈNH SÓC TRĂNG

Bản án số: 30/2025/HS-ST

Ngày 25 - 02 - 2025

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ SÓC TRĂNG, TỈNH SÓC TRĂNG

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Hoàng Nam.
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Nguyễn Quốc Tuấn.
Ông Nguyễn Phước.

Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Minh Thuận - Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Sóc Trăng.

Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân thành phố Sóc Trăng tham gia phiên tòa: Ông Trần Văn Hướng - Kiểm sát viên.

Ngày 25 tháng 02 năm 2025, tại Phòng xử án Tòa án nhân dân thành phố Sóc Trăng, tỉnh Sóc Trăng, xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 14/2025/TLST-HS ngày 15 tháng 01 năm 2025 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử sơ thẩm số 20/2025/QĐXXST-HS ngày 13/02/2025 đối với bị cáo:

Lê Văn D, sinh ngày: 15/01/1990 tại Thanh Hoá. Nơi cư trú: Thôn N, xã T, huyện T, tỉnh Thanh Hóa. Nơi ở hiện nay: số C, đường P, Khóm C, Phường H, thành phố S, tỉnh Sóc Trăng. Nghề nghiệp: Làm công; trình độ học vấn: 12/12; dân tộc: Kinh; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Lê Văn B (chết) và bà Lê Thị C; có vợ, con có 01 người; tiền sự: Không; tiền án: Không; Bị cáo bị áp dụng biện pháp cấm đi khỏi nơi cư trú từ ngày 30/10/2024 cho đến nay (có mặt).

- Bị hại: Ông Huỳnh Minh T, sinh năm 1977. Nơi cư trú: số A, đường L, Khóm D, Phường C, thành phố S, tỉnh Sóc Trăng; Nơi ở hiện nay: số C, đường B, Khóm F, Phường I, thành phố S, tỉnh Sóc Trăng (vắng mặt).

- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

  1. Ông Nguyễn Văn T1, sinh năm 1977. Nơi cư trú: ấp P, xã P, huyện L, tỉnh Sóc Trăng (có mặt).
  2. Ông Thái Duy T2, sinh năm 1984. Nơi thường trú: số A đường L, Phường C, Quận A, Thành phố Hồ Chí Minh. Nơi ở hiện nay: số C, đường B, Khóm F, phường I, thành phố S, tỉnh Sóc Trăng.

Người đại diện theo ủy quyền của ông Thái Duy T2: Ông Thái Duy T3, sinh năm 1989. Nơi cư trú: Số C, đường B, Khóm F, phường I, thành phố S, tỉnh Sóc Trăng (có mặt).

- Người làm chứng:

  1. Ông Ngô Văn N, sinh năm 1969. Nơi cư trú: ấp K, xã T, huyện M, tỉnh Sóc Trăng (có mặt).
  2. Ông Nguyễn Văn H, sinh năm 1962. Nơi cư trú: ấp M, xã T, huyện C, tỉnh Sóc Trăng (văng mặt).
  3. Ông Nguyễn Phạm Hoàng T4, sinh năm 2001. Nơi cư trú: ấp P, xã P, huyện L, tỉnh Sóc Trăng (có mặt).
  4. Ông Nguyễn Vũ K, sinh năm 1996. Nơi cư trú: ấp T, xã C, huyện L, tỉnh Sóc Trăng (có mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Lê Văn D là quản đốc của nhà máy gạch ngói Sóc Trăng, đặt tại số C, đường P, Khóm C, Phường H, thành phố S. Trong thời gian làm việc tại đây, D được ông Huỳnh Minh H1, sinh năm 1964, cư trú tại số A, đường V, Khóm I, Phường C, thành phố S, nhờ trông coi một máy sàn cát đặt tại khu vực phía sau nhà máy gạch ngói. Đến khoảng tháng 10 năm 2023, ông H1 bán lại máy sàn cát này cho ông Huỳnh Minh T, sinh năm 1977, cư trú tại số C, đường B, Khóm F, Phường I, thành phố S (nay là Phường A, thành phố S) và ông T không còn nhờ D trông coi máy sàn cát này nữa. Vì thấy máy sàn cát đã cũ và không có người trông coi nên D nảy sinh ý định thuê người khác đến cắt thành từng phần nhỏ để vận chuyển đi bán lấy tiền tiêu xài cá nhân.

Với ý định đó sáng ngày 16 tháng 6 năm 2024, D thuê ông Nguyễn Văn T1, sinh năm 1977, cư trú tại ấp P, xã P, huyện L, tỉnh Sóc Trăng đến khu vực phía sau lò gạch vận chuyển máy sàn cát đi bán. Đến khoảng 10 giờ 00 phút cùng ngày, ông T1 cùng với con là Nguyễn Phạm Hoàng T4 và cháu là Nguyễn Vũ K điều khiển xe ô tô tải biển số 83C-123.70 đến khu vực đặt máy sàn cát để vận chuyển máy sàn cát. Khi đến khu vực đặt máy sàn cát, ông T1 nói với K dùng dụng cụ cắt máy sàn cát mà D đã chuẩn bị từ trước cắt thành từng phần nhỏ để thuận lợi cho việc vận chuyển. Trong quá trình cắt máy, ông T1 hỏi D bán máy sàn cát này cho ông T1 với số tiền 15.000.000 đồng, thì D đồng ý. Sau khi cắt máy xong, ông T1 nhờ ông Ngô Văn N, sinh năm 1969, là tài xế xe cuốc đang làm việc tại nhà máy gạch ngói Sóc Trăng nâng những phần sắt đã cắt ra từ máy sản cất lên xe tải biển số 83C-123.47 để Tới vận chuyển. Sau đó, T4 điều khiển xe ô tô vận chuyển máy sàn cát đến bán cho ông Thái Duy T2, sinh năm 1984, cư trú tại số C, đường B, Khóm F, Phường I, thành phố S, với số tiền là 26.867.200 đồng.

Tại bản kết luận định giá tài sản số 71/KL-HĐĐG ngày 25/7/2024 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự, kết luận: Một máy sàn cát bằng kim loại có băng tải bằng sắt dài 7,5 mét, màu xám, phiểu sản cát bằng sắt cao 05 mét, tổng chiều dài máy là 13 mét, không có mơ tơ điện, đã qua sử dụng, giá trị sử dụng còn lại là 40%, có giá 24.000.000 đồng.

Tại Cáo trạng số 31/CT-VKSTPST ngày 13/01/2025 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Sóc Trăng truy tố bị cáo Lê Văn D về tội “Trộm cắp tài sản” theo quy định tại khoản 1 Điều 173 Bộ luật Hình sự.

Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Sóc Trăng giữ nguyên quyết định truy tố về hành vi của bị cáo D và đề nghị Tòa án tuyên bố bị cáo Lê Văn D phạm tội “Trộm cắp tài sản” theo quy định tại khoản 1 Điều 173 Bộ luật Hình sự; áp dụng các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cho bị cáo như: bị cáo có nhân thân tốt, không có tiền án, tiền sự; phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng; bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cãi; sau khi phạm tội, bị cáo đã bồi thường đầy đủ số tiền cho bị hại để khắc phục thiệt hại và bị hại có đơn yêu cầu bãi nại cho bị cáo. Đây là các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm b, i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự; áp dụng Điều 65 Bộ luật Hình sự xử phạt bị cáo từ 01 năm đến 01 năm 06 tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian từ thách từ 02 năm đến 03 năm.

Về xử lý vật chứng: Trả lại vật chứng 01 điện thoại di động nhãn hiệu XIAOMI, màu xanh, đã qua sử dụng cho bị cáo D và trả lại số tiền 26.867.200 đồng cho ông Thái Duy T2.

Về trách nhiệm dân sự: Bị hại Huỳnh Minh T nhận lại tài sản nhưng đã bị cắt từng phần nên yêu cầu bị cáo bồi thường thêm số tiền 40.000.000 đồng và bị cáo Lê Văn D đã bồi thường xong.

Về án phí hình sự: buộc bị cáo phải chịu theo quy định pháp luật.

Tại phiên tòa, bị cáo thừa nhận hành vi phạm tội và nói lời nói sau cùng xin Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Tại phiên tòa sơ thẩm, bị hại ông Huỳnh Minh T và người làm chứng là ông Nguyễn Văn H vắng mặt và việc vắng mặt của đương sự nêu trên không ảnh hưởng đến việc giải quyết vụ án nên Hội đồng xét xử căn cứ quy định tại khoản 1 Điều 292 và Điều 293 Bộ luật Tố tụng hình sự vẫn tiến hành xét xử vụ án.

[2] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an thành phố S, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Sóc Trăng, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

[3] Tại phiên tòa sơ thẩm, bị cáo Lê Văn D thừa nhận nội dung cáo trạng phản ánh đúng hành vi của bị cáo, lời thừa nhận hành vi phạm tội của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai của bị cáo trong quá trình điều tra, phù hợp với lời khai của bị hại và phù hợp với các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án. Từ đó, Hội đồng xét xử có đủ căn cứ xác định: Bị cáo Lê Văn D là quản đốc của nhà máy gạch ngói Sóc Trăng, đặt tại số C, đường P, Khóm C, Phường H, thành phố S. Trong thời gian làm việc tại đây, D biết ông Huỳnh Minh T để một cái máy sàn cát tại khu vực phía sau nhà máy gạch ngói Sóc Trăng, máy đã cũ và không có người trông coi nên bị cáo đã lén lút bán máy sàn cát này của ông T cho ông Nguyễn Văn T1 để lấy tiền tiêu xài cá nhân. Qua định giá thì máy sàn cát có giá là 24.000.000 đồng.

[4] Bị cáo là người đủ tuổi và đủ năng lực chịu trách nhiệm hình sự, đã cố ý lén lút lấy trộm tài sản của người khác nên hành vi của bị cáo đã cấu thành tội Trộm cắp tài sản theo quy định tại khoản 1 Điều 173 Bộ luật Hình sự, khoản 1 Điều 173 Bộ luật Hình sự quy định: Người nào trộm cắp tài sản của người khác giá trị từ 2.000.000 đồng đến dưới 50.000.000 đồng... thì bị phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc phạt tù từ 06 tháng đến 03 năm. Do đó, Cáo trạng số 31/CT-VKSTPST ngày 13/01/2025 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Sóc Trăng truy tố bị cáo để xét xử về tội danh và khung hình phạt nêu trên là có căn cứ, đúng người, đúng tội, đúng pháp luật và không oan cho bị cáo.

[5] Về tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và nhân thân bị cáo.

[5.1] Bị cáo không có tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.

[5.2] Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: bị cáo D có nhân thân tốt, không có tiền án, tiền sự, bị cáo phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng; trong quá trình điều tra, cũng như tại phiên toà bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cãi; sau khi phạm tội, bị cáo đã bồi thường đầy đủ số tiền cho bị hại để khắc phục thiệt hại và bị hại có đơn yêu cầu bãi nại cho bị cáo. Đây là các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm b, i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự.

[6] Về hình phạt: Hội đồng xét xử xét thấy bị cáo có nhiều tình tiết giảm nhẹ quy định tại khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự. Do bị cáo có nhiều tình tiết giảm nhẹ, có nhân thân tốt, có nơi cư trú rõ ràng, không bắt bị cáo chấp hành hình phạt tù thì bị cáo cũng có khả năng tự cải tạo, nên không cần cách ly bị cáo ra khỏi xã hội mà giao bị cáo cho chính quyền địa phương giáo dục cũng đủ sức răn đe bị cáo; đồng thời cũng thể hiện tính nhân đạo và tính khoan hồng của pháp luật nên Hội đồng xét xử căn cứ Điều 65 Bộ luật Hình sự cho bị cáo được hưởng án treo là phù hợp quy định pháp luật.

[7] Về xử lý vật chứng:

  • [7.1] Đối với vật chứng 01 điện thoại di động nhãn hiệu XIAOMI, màu xanh, đã qua sử dụng là tài sản của bị cáo nên trả lại cho bị cáo.
  • [7.2] Đối với vật chứng là số tiền 26.867.200 đồng là tài sản của ông Thái Duy T2 nên trả lại cho ông T2.

[8] Về trách nhiệm bồi thường thiệt hại: Bị hại Huỳnh Minh T nhận lại tài sản nhưng đã bị cắt từng phần nên yêu cầu bị cáo bồi thường thêm số tiền 40.000.000 đồng và bị cáo Lê Văn D đã bồi thường xong nên không đặt ra xem xét.

[9] Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí theo quy định pháp luật.

[10] Đối với ông Nguyễn Văn T1 và ông Thái Duy T2 là những người mua tài sản của bị cáo bán nhưng không biết đó là tài sản do phạm tội mà có nên không có căn cứ để xử lý.

[11] Đối với Nguyễn Phạm Hoàng T4, Nguyễn Vũ K và Ngô Văn N, khi cắt và vận chuyển máy sàn cát thì không biết tài sản do bị cáo phạm tội mà có nên không có căn cứ để xử lý.

[12] Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Sóc Trăng trình bày quan điểm luận tội và các biện pháp tư pháp đối với bị cáo là có căn cứ pháp luật nên Hội đồng xét xử chấp nhận.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào:

  • Khoản 1 Điều 173; b, i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 65 của Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017.
  • Căn cứ vào điểm a khoản 1 Điều 47; điểm a khoản 3 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự.
  • Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
  1. Tuyên bố: Bị cáo Lê Văn D phạm tội “Trộm cắp tài sản”.
  2. Xử phạt bị cáo Lê Văn D một (1) năm 06 (sáu) tháng tù, nhưng cho hưởng án treo với thời gian thử thách 03 (ba) năm, kể từ ngày tuyên án ngày 25/02/2025.

Giao bị cáo Lê Văn D cho Ủy ban nhân dân Phường H, thành phố S, tỉnh Sóc Trăng, giáo dục trong thời gian thử thách.

Trường hợp người được hưởng án treo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định tại khoản 1 Điều 92 của Luật thi hành án hình sự.

Trong thời gian thử thách, người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ 02 lần trở lên thì Tòa án có thể quyết định buộc người được hưởng án treo phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo.

  1. Về xử lý vật chứng:
    • Trả lại cho bị cáo Lê Văn D điện thoại di động nhãn hiệu XIAOMI, màu xanh, đã qua sử dụng.
    • Trả lại cho ông Thái Duy T2 26.867.200 (hai mươi sáu triệu tám trăm sáu mươi bảy nghìn hai trăm) đồng.
    • Theo biên bản giao nhận vật chứng ngày 14/01/2025 của Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Sóc Trăng.
  2. Về án phí: Buộc bị cáo Lê Văn D 200.000 đồng (hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.
  3. Bị cáo có quyền kháng cáo bản án sơ thẩm là 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Bị hại vắng mặt thời hạn kháng cáo tính từ ngày nhận được bản án hoặc ngày bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật để yêu cầu Tòa án cấp trên xét xử lại theo trình tự phúc thẩm.

Nơi nhận:

  • - TAND tỉnh Sóc Trăng (1);
  • - VKSND tỉnh Sóc Trăng (1);
  • - Sở Tư pháp tỉnh Sóc Trăng (1);
  • - VKSND TP Sóc Trăng (1);
  • - Công an TP Sóc Trăng (Bộ phận hồ sơ nghiệp vụ, Cơ quan THAHS, Cơ quan cảnh sát điều tra) (3);
  • - Chi cục THADS TP Sóc Trăng (1);
  • - Bị cáo (1);
  • - Bị hại (1);
  • - Người liên quan (2);
  • - Lưu hồ sơ, Văn phòng, hồ sơ THAHS (3).

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Nguyễn Hoàng Nam

6

7

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 30/2025/HS-ST ngày 25/02/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ SÓC TRĂNG, TỈNH SÓC TRĂNG về trộm cắp tài sản

  • Số bản án: 30/2025/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Trộm cắp tài sản
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 25/02/2025
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ SÓC TRĂNG, TỈNH SÓC TRĂNG
  • Áp dụng án lệ:
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Trộm cắp tài sản
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger