|
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN BÌNH XUYÊN TỈNH VĨNH PHÚC Bản án số: 30/2025/HS-ST Ngày 25-02-2025 |
CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN BÌNH XUYÊN, TỈNH VĨNH PHÚC
- Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Phương Dung
- Thư ký phiên tòa: Bà Khổng Thị Đức Hậu - Thẩm tra viên Toà án nhân dân huyện Bình Xuyên, tỉnh Vĩnh Phúc.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Bình Xuyên tham gia phiên toà: Bà Kiều Thị Mai - Kiểm sát viên.
Ngày 25 tháng 02 năm 2025 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Bình Xuyên, tỉnh Vĩnh Phúc, Tòa án nhân dân huyện Bình Xuyên xét xử sơ thẩm công khai theo thủ tục rút gọn vụ án hình sự thụ lý số: 05/2025/TLST-HS ngày 10 tháng 01 năm 2025 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 35/2025/QĐXXST-HS ngày 19 tháng 02 năm 2025 đối với các bị cáo:
- Nguyễn Văn T, sinh ngày 01 tháng 7 năm 1988 tại Hòa Bình; nơi cư trú: thôn C, xã A, huyện L, tỉnh Hòa Bình; nghề nghiệp: Lái xe; trình độ văn hóa: 6/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Văn L và bà Trần Thị H; có vợ là chị Trần Thị Thanh H1 và có 02 con; tiền án, tiền sự: không; bị cáo bị bắt tạm giữ từ ngày 14/01/2025 đến ngày 17/01/2025 được thay thế biện pháp ngăn chặn C đi khỏi nơi cư trú, “có mặt”.
- Đường V, sinh ngày 10 tháng 3 năm 1988 tại Hà Nội; nơi cư trú: thôn S, xã V, huyện Đ, thành phố Hà Nội; nghề nghiệp: Lái xe; trình độ văn hóa: 12/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Đường Quang L1 và bà Phạm Thị L2; có vợ là chị Hoàng Thị Đ và có 02 con; tiền án, tiền sự: không; bị cáo bị bắt tạm giữ từ ngày 14/01/2025 đến ngày 17/01/2025 được thay thế biện pháp ngăn chặn C đi khỏi nơi cư trú, “có mặt”.
- Nguyễn Như T1, sinh ngày 09 tháng 5 năm 1982 tại Hà Nội; nơi cư trú: thôn M, xã Đ, huyện Đ, thành phố Hà Nội; nghề nghiệp: Lái xe; trình độ văn hóa: 12/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Như T2 và bà Phan Thị T3; có vợ là chị Đàm Thanh G và có 02 con; tiền án, tiền sự: không; bị cáo bị bắt tạm giữ từ ngày 14/01/2025 đến ngày 17/01/2025 được thay thế biện pháp ngăn chặn C đi khỏi nơi cư trú, “có mặt”.
- Tạ Văn T4, sinh ngày 22 tháng 6 năm 1990 tại Thái Bình; nơi cư trú: Số A, hẻm C, đường T, phường K, quận Đ, thành phố Hà Nội; nghề nghiệp: Lái xe; trình độ văn hóa: 12/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Công Giáo; quốc tịch: Việt Nam; con ông Tạ Văn T5 và bà Nguyễn Thị R; có vợ là chị Vũ Thị T6 và có 02 con; tiền án, tiền sự: không; bị cáo bị bắt tạm giữ từ ngày 14/01/2025 đến ngày 17/01/2025 được thay thế biện pháp ngăn chặn C đi khỏi nơi cư trú, “có mặt”.
- Đinh Văn C1, sinh ngày 09 tháng 8 năm 1990 tại P; nơi cư trú: Ngõ C, tổ D, phường H, thành phố P, tỉnh Vĩnh Phúc; nghề nghiệp: Lái xe; trình độ văn hóa: 12/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Đinh Công T7 và bà Nguyễn Thị T8; có vợ là chị Hạ Thị Đ1 (đã ly hôn) và có 03 con; tiền án, tiền sự: không; bị cáo bị bắt tạm giữ từ ngày 14/01/2025 đến ngày 17/01/2025 được thay thế biện pháp ngăn chặn C đi khỏi nơi cư trú, “có mặt”.
- Nguyễn Hữu T9, sinh ngày 05 tháng 10 năm 1986 tại Lạng Sơn; nơi cư trú: Thôn Đ, xã Đ, huyện H, tỉnh Lạng Sơn; nghề nghiệp: Lái xe; trình độ văn hóa: 9/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Hữu T10 và bà Nguyễn Thị V; có vợ là chị Nguyễn Thị L3 và có 02 con; tiền án, tiền sự: không; bị cáo bị bắt tạm giữ từ ngày 14/01/2025 đến ngày 17/01/2025 được thay thế biện pháp ngăn chặn C đi khỏi nơi cư trú, “có mặt”.
Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan: Công ty O, địa chỉ: KCN B, huyện B, tỉnh Vĩnh Phúc. Người đại diện hợp pháp: Bà Tạ Thị Ngọc M, sinh năm 1987; địa chỉ: Khu phố B, thị trấn H, huyện B, tỉnh Vĩnh Phúc, “vắng mặt”.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 12 giờ 30 phút ngày 14 tháng 01 năm 2025, tại phòng chờ của lái xe thuộc công ty O địa chỉ khu công nghiệp B, huyện B, tỉnh Vĩnh Phúc, Nguyễn Văn T rủ Đường V đánh bạc ăn tiền bằng hình thức đánh “Liêng” sử dụng bộ bài tú lơ khơ 52 lá bài với mức cá cược như sau: mức tố thấp nhất một lần là 10.000 đồng và cao nhất là 50.000 đồng, nếu ai được sáp (các quân bài giống nhau nhưng khác chất) và thắng ván bài đó thì những người đánh bạc còn lại mỗi người phải trả cho người này 50.000 đồng. Khi bắt đầu đánh bạc mỗi người sẽ để 10.000 đồng để góp gà rồi người cầm cái chia cho mỗi người 03 quân bài tú lơ khơ. Người cầm cái được tố đầu tiên, người cầm cái ván đánh bạc có thể tố hoặc úp bài. Người thắng ván bài là người còn lại cuối cùng không úp bài hoặc người có 03 quân bài cao nhất, khi không còn ai tố thêm mà chỉ theo và quyết định mở bài. 03 quân bài có thứ tự liên tiếp với nhau gọi là liêng; 03 quân bài không liêng, không sáp thì tính điểm bằng cách cộng tổng điểm của các quân bài. Cao nhất là sáp, tiếp theo là liêng, cuối cùng là điểm. Ai có điểm số hoặc liêng giống nhau thì so chất của quân bài cao nhất trong số 03 quân bài với nhau, theo thứ tự R1, C2, T11, B.
Sau khi thống nhất cách chơi thì Đ2 lấy 01 bộ bài gồm 52 lá bài để sẵn dưới gối trong phòng chờ ra để chơi đánh bạc với T được khoảng 05 phút thì có Thỏa và T9 tham gia đánh bạc. Khoảng 05 phút sau đó C1 và T4 vào phòng xin tham gia đánh bạc cùng. Các bị cáo Nguyễn Văn T, Đường Văn Đ2, Nguyễn Như T1, Tạ Văn T4, Đinh Văn C1 và Nguyễn Hữu T9 tiếp tục chơi đánh bạc đến khoảng 13 giờ 30 phút cùng ngày thì bị Cơ quan CSĐT - Công an huyện B phát hiện, bắt quả tang và thu giữ toàn bộ vật chứng.
Thu giữ tại nơi các bị cáo ngồi đánh bạc các vật chứng cụ thể: 02 tấm đệm màu xanh, 01 bộ bài tú lơ khơ gồm 52 quân, số tiền 6.780.000 đồng (Trong đó: Tuyến có 1.720.000 đồng; Đ2 có 1.000.000 đồng; T1 có 1.480.000 đồng; T4 có 1.250.000 đồng; C1 có 830.000 đồng và T9 có 500.000 đồng). Các bị cáo đều khai nhận sử dụng toàn bộ số tiền có trong người vào mục đích đánh bạc. Như vậy tổng số tiền các bị cáo dùng vào việc đánh bạc là 6.780.000 đồng.
Tại Quyết định truy tố số: 27/QĐ - VKS ngày 10 tháng 02 năm 2025 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Bình Xuyên, tỉnh Vĩnh Phúc đã truy tố các bị cáo Nguyễn Văn T, Đường Văn Đ2, Nguyễn Như T1, Tạ Văn T4, Đinh Văn C1 và Nguyễn Hữu T9 về tội “Đánh bạc” theo khoản 1 Điều 321 Bộ luật Hình sự.
Tại phiên toà, đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Bình Xuyên thực hành quyền công tố giữ nguyên Quyết định truy tố đối với các bị cáo và đề nghị Hội đồng xét xử:
Tuyên bố các bị cáo Nguyễn Văn T, Đường Văn Đ2, Nguyễn Như T1, Tạ Văn T4, Đinh Văn C1 và Nguyễn Hữu T9 phạm tội “Đánh bạc”.
- Áp dụng khoản 1 Điều 321, điểm i, s khoản 1 Điều 51; Điều 17, Điều 58; Điều 65 Bộ luật Hình sự. Xử phạt bị cáo Nguyễn Văn T từ 10 tháng đến 12 tháng tù cho hưởng án treo, thời gian thử thách gấp đôi, thời hạn thử thách tính từ ngày tuyên án sơ thẩm.
- Áp dụng khoản 1 Điều 321, điểm i, s khoản 1 Điều 51; Điều 17, Điều 58; Điều 65 Bộ luật Hình sự, riêng bị cáo Nguyễn Văn T12 được áp dụng thêm khoản 2 Điều 52 Bộ luật Hình sự. Xử phạt bị cáo Đường Văn Đ2, Nguyễn Như T1, Tạ Văn T4 từ 08 tháng đến 10 tháng tù cho hưởng án treo, thời gian thử thách gấp đôi, thời hạn thử thách tính từ ngày tuyên án sơ thẩm.
- Áp dụng khoản 1 Điều 321, điểm i, s, khoản 1 Điều 51; Điều 17, Điều 58, Điều 65 Bộ luật Hình sự. Xử phạt bị cáo Đinh Văn C1, Nguyễn Hữu T9 từ 07 tháng đến 9 tháng tù cho hưởng án treo, thời gian thử thách gấp đôi, thời hạn thử thách tính từ ngày tuyên án sơ thẩm.
Về hình phạt bổ sung: Đề nghị áp dụng khoản 3 Điều 321 Bộ luật Hình sự đối với các bị cáo Nguyễn Văn T, Đường Văn Đ2, Nguyễn Như T1, Tạ Văn T4, Đinh Văn C1 và Nguyễn Hữu T9 mỗi bị cáo số tiền từ 15.000.000đ đến 20.000.000đ để nộp ngân sách nhà nước.
Ngoài ra, đại diện Viện kiểm sát còn đề nghị về xử lý vật chứng, án phí theo quy định của pháp luật.
Tất cả các bị cáo đều thành khẩn khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình như đã nêu trên; các bị cáo không tranh luận với đại diện Viện kiểm sát và đề nghị Hội đồng xét xử xem xét hoàn cảnh gia đình của các bị cáo, cho các bị cáo được hưởng mức án nhẹ nhất để được tiếp tục lao động có thu nhập chính đáng nuôi sống gia đình.
Người đại diện hợp pháp của người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan: Bà Tạ Thị Ngọc M, sinh năm 1987; địa chỉ: Khu phố B, thị trấn H, huyện B, tỉnh Vĩnh Phúc có đơn xin xét xử vắng mặt và đề nghị Hội đồng xét xử giải quyết theo quy định của pháp luật.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện B, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân huyện B, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Các bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
[2] Trong quá trình điều tra và tại phiên toà, các bị cáo Nguyễn Văn T, Đường Văn Đ2, Nguyễn Như T1, Tạ Văn T4, Đinh Văn C1 và Nguyễn Hữu T9 đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình như Quyết định của Viện kiểm sát nhân dân huyện Bình Xuyên đã truy tố. Xét lời nhận tội của các bị cáo phù hợp với nhau, phù hợp với lời khai của các bị cáo tại Cơ quan điều tra, phù hợp với biên bản phạm tội quả tang, phù hợp với vật chứng thu giữ được và phù hợp với các tài liệu khác có trong hồ sơ vụ án. Do vậy có đủ cơ sở chứng cứ khách quan để kết luận:
Khoảng 12 giờ 30 phút ngày 14 tháng 01 năm 2025, tại phòng chờ của lái xe ở công ty O địa chỉ khu công nghiệp B, huyện B, tỉnh Vĩnh Phúc, Nguyễn Văn T, Đường Văn Đ2, Nguyễn Như T1, Tạ Văn T4, Đinh Văn C1 và Nguyễn Hữu T9 đã có hành vi đánh bạc trái t phép dưới hình thức đánh “Liêng” ăn tiền thì bị Cơ quan CSĐT Công an huyện B, tỉnh Vĩnh Phúc kiểm tra, phát hiện. Vật chứng thu giữ gồm: Số tiền 6.780.000 đồng, 52 quân bài tú lơ khơ, 02 tấm đệm màu xanh. Tổng số tiền các bị cáo sử dụng vào việc đánh bạc được xác định là 6.780.000 đồng.
Hành vi của Nguyễn Văn T, Đường Văn Đ2, Nguyễn Như T1, Tạ Văn T4, Đinh Văn C1 và Nguyễn Hữu T9 đã phạm vào tội “Đánh bạc”. Tội phạm và hình phạt được quy định tại khoản 1 Điều 321 Bộ luật hình sự năm 2015.
Khoản 1 Điều 321 Bộ luật hình sự quy định:
“1. Người nào đánh bạc trái phép dưới bất kỳ hình thức nào được thua bằng tiền hay hiện vật trị giá từ 5.000.000 đồng đến dưới 50.000.000 đồng ... thì bị phạt tiền từ 20.000.000 đồng đến 100.000.000 đồng, phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc phạt tù từ 06 tháng đến 03 năm”.
Xét tính chất vụ án tuy là ít nghiêm trọng, nhưng hành vi phạm tội của các bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm trật tự công cộng, xâm phạm trật tự trị an, an toàn xã hội, gây nên sự bất bình trong quần chúng nhân dân. Vì vậy, cần phải xét xử các bị cáo nghiêm mới có tác dụng giáo dục riêng và phòng ngừa chung.
[3] Về các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, vai trò và nhân thân các bị cáo, thấy rằng: Các bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự nào quy định tại Điều 52 Bộ luật Hình sự.
Trong quá trình điều tra và tại phiên tòa, các bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của mình. Các bị cáo phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng nên được áp dụng các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại các điểm i, s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự. Ngoài ra bị cáo T1 có bố đẻ là ông Nguyễn Như T2 được tặng huân, huy kháng chiến; bị cáo C1 đã ly hôn, vợ cũ đi lấy chồng và hiện tại bị cáo đang nuôi ba con nhỏ, bố bị cáo đã chết, mẹ đẻ bị cáo tuy tuổi không cao nhưng thường xuyên đau ốm nên hoàn cảnh gia đình bị cáo hết sức khó khăn; bị cáo T9 lấy vợ muộn nên con thứ hai của bị cáo mới 08 tháng tuổi, vợ bị cáo không có việc làm, bố bị cáo đã chết vì bệnh tật, mẹ bị cáo gần 70 tuổi không có khả năng lao động nên bị cáo phải lao động để nuôi sống cả gia đình. Do đó các bị cáo T1, C1 và T9 được hưởng thêm tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự theo quy định tại khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự.
Xét về vai trò của các bị cáo trong vụ án thấy rằng: Bị cáo Nguyễn Văn T là người khởi xướng để các bị cáo đánh bạc. Bị cáo T cũng là người trực tiếp tham gia đánh bạc với số tiền đánh bạc nhiều nhất là 1.720.000 đồng; bị cáo Đường Văn Đ2 là người giữ vai trò giúp sức, chuẩn bị công cụ và tham gia đánh bạc với số tiền là 1.000.000 đồng; các bị cáo Nguyễn Như T1, Tạ Văn T4 tham gia đánh bạc với số tiền lần lượt là: 1.480.000 đồng; 1.250.000 đồng; các bị cáo Đinh Văn C1, Nguyễn Hữu T9 tham gia đánh bạc với số tiền nhỏ và lần lượt là: 830.000 đồng và 500.000 đồng. Trước khi phạm tội tất cả các bị cáo đều có nhân thân tốt; thành khẩn khai báo, tỏ ra ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của mình; có nghề nghiệp và nơi cư trú ổn định, rõ ràng; được hưởng nhiều tình tiết giảm nhẹ và không phải chịu tình tiết tăng nặng, số tiền đánh bạc không lớn nên hành vi phạm tội đáng được khoan hồng và có đủ điều kiện để áp dụng Điều 65 của Bộ luật Hình sự. Vì vậy, không cần thiết bắt các bị cáo Nguyễn Văn T, Đường Văn Đ2, Nguyễn Như T1 và Tạ Văn T4 phải chấp hành hình phạt tù tại Trại giam mà cho các bị cáo T, Đ2, T1, T4 được hưởng án treo, ấn định thời gian thử thách theo quy định và giao cho chính quyền địa phương nơi cư trú giám sát, giáo dục như đề nghị của đại diện Viện kiểm sát cùng đủ để răn đe và phòng ngừa chung. Tuy nhiên, trong vụ án này cần phân hóa rõ vai trò và số tiền các bị cáo sử dụng đánh bạc một cách cụ thể thì thấy rằng: bị cáo Đinh Văn C1, Nguyễn Hữu T9 chỉ là người tự phát tham gia đánh bạc, không khởi xướng hoặc chuẩn bị công cụ để đánh bạc, số tiền đánh bạc rất nhỏ (dưới 900.000 đồng) nên chỉ cần xử hình phạt cải tạo không giam giữ đối với Đinh Văn C1, Nguyễn Hữu T9 và giao cho chính quyền địa phương nơi cư trú giám sát, giáo dục cũng đủ để răn đe, phòng ngừa cũng như tạo điều kiện giúp bị cáo có cơ hội được tự cải tạo, sửa chữa sai lầm và tiếp tục làm việc cống hiến cho gia đình, xã hội.
[4] Về hình phạt bổ sung: Ngoài hình phạt chính, cần căn cứ khoản 3 Điều 321 Bộ luật Hình sự áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền sung ngân sách Nhà nước đối với tất cả các bị cáo để đảm bảo tính nghiêm minh của pháp luật. Bị cáo Đinh Văn C1 và bị cáo Nguyễn Hữu T9 có hoàn cảnh gia đình khó khăn, là lao động chính trong gia đình đông con nên cần miễn khấu trừ thu nhập đối với bị cáo C1 và T9.
[5] Đối với bà Tạ Thị Ngọc M là người được giao nhiệm vụ quản lý phòng nghỉ lái xe tại Công ty O (nơi các bị cáo tự ý sử dụng làm địa điểm để đánh bạc vào ngày 14/01/2025) bà M không biết và chưa bao giờ cho phép các bị cáo đánh bạc tại phòng nghỉ lái xe nên Cơ quan điều tra không đề cập xử lý là phù hợp.
Đối với anh Dương Văn D, anh Nguyễn Khánh Q, anh Hoàng Tuấn D1 và anh Lê Hữu L4 đều là lái xe và đang nghỉ tại phòng chờ của công ty O khi các bị cáo bị bắt qua tang, quá trình điều tra xác định 04 người này không liên quan đến hành vi đánh bạc của các bị cáo. Do đó Cơ quan điều tra không đề cập xử lý anh D, anh Q, anh D1 và anh L4 là có căn cứ.
[6] Về xử lý vật chứng:
Đối với số tiền 6.780.000 đồng thu giữ tại “chiếu bạc” là tiền các bị cáo sử dụng vào việc đánh bạc trái phép nên cần tịch thu sung công quỹ Nhà nước.
Đối với 52 lá bài tú lơ khơ là công cụ các bị cáo sử dụng đánh bạc nên cần tịch thu tiêu hủy.
Đối với 02 tấm đệm màu xanh, quá trình điều tra xác định là tài sản của công ty O mua với mục đích để cho nhân viên nằm nghỉ. Việc các bị cáo tự ý sử dụng chỗ nghỉ của nhân viên để đánh bạc, công ty O và người được giao quản lý không biết cũng như chưa bao giờ cho phép nhân viên đánh bạc tại công ty. Hơn nữa, người đại diện hợp pháp của công ty là bà Tạ Thị Ngọc M đề nghị được nhận lại 02 tấm đệm trên. Do đó, cần trả lại 02 tấm đệm màu xanh cho công ty O là phù hợp.
Quá trình điều tra, các bị cáo Nguyễn Văn T, Đường Văn Đ2, Nguyễn Như T1, Tạ Văn T4, Đinh Văn C1 và Nguyễn Hữu T9 đã tự nguyện giao điện thoại cá nhân để phục vụ công tác điều tra. Tuy nhiên theo tài liệu có trong hồ sơ sau khi điều tra, xác minh xác định điện thoại của các bị cáo không liên quan đến hành vi đánh bạc nên ngày 23/01/2025, Cơ quan điều tra đã trả lại các tài sản này cho các bị cáo nên Hội đồng xét xử không xem xét.
[7] Về án phí: Các bị cáo Nguyễn Văn T, Đường Văn Đ2, Nguyễn Như T1, Tạ Văn T4, Đinh Văn C1 và Nguyễn Hữu T9 phải chịu án phí theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Tuyên bố: Các bị cáo Nguyễn Văn T, Đường Văn Đ2, Nguyễn Như T1, Tạ Văn T4, Đinh Văn C1 và Nguyễn Hữu T9 phạm tội: “Đánh bạc”.
- Áp dụng khoản 1 Điều 321, điểm i, s khoản 1 Điều 51; Điều 17, Điều 58 và khoản 1, 2, 5 Điều 65 Bộ luật Hình sự. Xử phạt bị cáo Nguyễn Văn T 12 (Mười hai) tháng tù cho hưởng án treo, thời gian thử thách 24 tháng, thời hạn thử thách tính từ ngày tuyên án sơ thẩm.
- Áp dụng khoản 1 Điều 321, điểm i, s khoản 1 Điều 51; Điều 17, Điều 58 và khoản 1, 2, 5 Điều 65 Bộ luật Hình sự. Xử phạt bị cáo Đường Văn Đ2 10 (Mười) tháng tù cho hưởng án treo, thời gian thử thách 01 năm 08 tháng, thời hạn thử thách tính từ ngày tuyên án sơ thẩm.
- Áp dụng khoản 1 Điều 321, điểm i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 17, Điều 58 và khoản 1, 2, 5 Điều 65 Bộ luật Hình sự. Xử phạt bị cáo Nguyễn Như T1 08 (T13) tháng tù cho hưởng án treo, thời gian thử thách 01 năm 04 tháng, thời hạn thử thách tính từ ngày tuyên án sơ thẩm.
- Áp dụng khoản 1 Điều 321, điểm i, s khoản 1 Điều 51; Điều 17, Điều 58 và khoản 1, 2, 5 Điều 65 Bộ luật Hình sự. Xử phạt bị cáo Tạ Văn T4 07 (Bảy) tháng tù cho hưởng án treo, thời gian thử thách 01 năm 02 tháng, thời hạn thử thách tính từ ngày tuyên án sơ thẩm.
Giao bị cáo Nguyễn Văn T cho Ủy ban nhân dân xã A, huyện L, tỉnh Hòa Bình; bị cáo Đường Văn Đ2 cho Ủy ban nhân dân xã V, huyện Đ, thành phố Hà Nội; bị cáo Nguyễn Như T1 cho Ủy ban nhân dân xã Đ, huyện Đ, thành phố Hà Nội; bị cáo Tạ Văn T4 cho Ủy ban nhân dân phường K, quận Đ, thành phố Hà Nội giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách của án treo.
Trong thời gian thử thách, người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ 02 lần trở lên thì Tòa án có thể quyết định buộc người được hưởng án treo phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo. Trường hợp người được hưởng án treo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định tại khoản 3 Điều 92 của Luật thi hành án hình sự.
- Áp dụng khoản 1 Điều 321, điểm i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 17, Điều 58 và Điều 36 Bộ luật Hình sự. Xử phạt bị cáo Đinh Văn C1 10 tháng cải tạo không giam giữ. Thời hạn chấp hành hình phạt cải tạo không giam giữ tính từ ngày cơ quan thi hành án hình sự có thẩm quyền nhận được quyết định thi hành án. Giao bị cáo Đinh Văn C1 cho Ủy ban nhân dân phường H, thành phố P, tỉnh Vĩnh Phúc giám sát, giáo dục trong thời gian cải tạo không giam giữ. Gia đình bị cáo C1 có trách nhiệm phối hợp với Ủy ban nhân dân phường H, thành phố P, tỉnh Vĩnh Phúc trong việc giám sát, giáo dục bị cáo. Miễn khấu trừ thu nhập đối với bị cáo Đinh Văn C1.
- Áp dụng khoản 1 Điều 321, điểm i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 17, Điều 58 và Điều 36 Bộ luật Hình sự. Xử phạt bị cáo Nguyễn Hữu T9 10 tháng cải tạo không giam giữ. Thời hạn chấp hành hình phạt cải tạo không giam giữ tính từ ngày cơ quan thi hành án hình sự có thẩm quyền nhận được quyết định thi hành án. Giao bị cáo Nguyễn Hữu T9 cho Ủy ban nhân dân xã Đ, huyện H, tỉnh Lạng Sơn giám sát, giáo dục trong thời gian cải tạo không giam giữ. Gia đình bị cáo T9 có trách nhiệm phối hợp với Ủy ban nhân dân xã Đ, huyện H, tỉnh Lạng Sơn trong việc giám sát, giáo dục bị cáo. Miễn khấu trừ thu nhập đối với bị cáo Nguyễn Hữu T9.
Trong trường hợp bị cáo Đinh Văn C1, Nguyễn Hữu T9 thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định tại khoản 3 Điều 100 của Luật thi hành án hình sự.
Về hình phạt bổ sung: Áp dụng khoản 3 Điều 321 Bộ luật Hình sự phạt bị cáo Nguyễn Văn T, Đường Văn Đ2 mỗi bị cáo 15.000.000 đồng; phạt bị cáo Nguyễn Như T1, Tạ Văn T4, Đinh Văn C1 và Nguyễn Hữu T9 mỗi bị cáo 10.000.000 đồng nộp ngân sách Nhà nước.
Về xử lý vật chứng: Căn cứ vào khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự 2015; khoản 2 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015: Tịch thu sung công quỹ Nhà nước số tiền 6.780.000 đồng; tịch thu tiêu hủy 01 bộ bài tú lơ khơ gồm 52 lá bài; trả lại cho công ty O 02 tấm đệm. Toàn bộ vật chứng của vụ án có đặc điểm như biên bản giao nhận vật chứng, tài sản giữa Công an huyện B và Chi cục Thi hành án dân sự huyện Bình Xuyên ngày 13/02/2025.
Về án phí: Căn cứ vào khoản 2 Điều 135, khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 về án phí, lệ phí Toà án, các bị cáo Nguyễn Văn T, Đường Văn Đ2, Nguyễn Như T1, Tạ Văn T4, Đinh Văn C1 và Nguyễn Hữu T9 mỗi bị cáo phải chịu 200.000 đồng (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.
Bị cáo có mặt có quyền kháng cáo bản án sơ thẩm trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án; người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc kể từ ngày bản án được niêm yết.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TOÀ (Đã ký) Nguyễn Thị Phương Dung |
Bản án số 30/2025/HS-ST ngày 25/02/2025 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN BÌNH XUYÊN, TỈNH VĨNH PHÚC về hình sự (tội đánh bạc)
- Số bản án: 30/2025/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Hình sự (Tội Đánh bạc)
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 25/02/2025
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN BÌNH XUYÊN, TỈNH VĨNH PHÚC
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Nguyễn Văn T và đồng phạm đánh bạc
