Hệ thống pháp luật

TOÀ ÁN NHÂN DÂN

THÀNH PHỐ THÁI NGUYÊN

TỈNH THÁI NGUYÊN

CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số 30/2025/HSST

Ngày 21/02/2025

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THÁI NGUYÊN

Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thu Huệ

Các Hội thẩm nhân dân: 1. Ông Nguyễn Quang Huy
2. Ông Lê Đình Hiệp

- Thư ký phiên tòa: Bà Vi Phương Linh - Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Thái Nguyên

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thái Nguyên, tỉnh Thái Nguyên tham gia phiên toà: Bà Nguyễn Thị P - Kiểm sát viên.

Ngày 21 tháng 02 năm 2025 tại Hội trường Tòa án nhân dân thành phố Thái Nguyên xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 06/2025/TLST-HS ngày 10 tháng 01 năm 2025 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 48/2025/QĐXXST-HS ngày 07 tháng 02 năm 2025 đối với các bị cáo:

  1. Họ và tên: Lò Văn H, tên gọi khác: Lò Văn H1, sinh ngày 02/5/1997.

    Nơi cư trú bản N, xã N, huyện S, tỉnh Lai Châu. Quốc tịch: Việt Nam; dân tộc: Thái; tôn giáo: Không; nghề nghiệp: Không; trình độ học vấn: 01/12. Con ông Lò Văn S, sinh năm 1966 (đã chết), con bà Lò Thị P1, sinh năm 1964. Gia đình bị cáo có 09 anh em, bị cáo là con thứ 8. Sống chung như vợ chồng với chị Vì Thị Ó, sinh năm 1999, nơi cư trú xã N, huyện S, tỉnh Lai Châu, (không đăng ký kết hôn). Có 01 con, sinh năm 2017. Tiền án, tiền sự: Không

    Nhân thân: Tại Bản án số 36/2022/HSST ngày 21/01/2022 của Tòa án nhân dân huyện Tân Uyên, tỉnh Lai Châu xử phạt 09 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”. Chấp hành xong hình phạt tù ngày 10/8/2022. Được miễn án phí hình sự sơ thẩm do ở vùng kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn.

    Bị cáo đang bị tạm giữ, tạm giam tại Trại tạm giam Công an tỉnh T từ ngày 11/8/2024 đến nay. (Có mặt)

  2. Họ và tên: Trần Văn H2, sinh ngày 21/3/1989.

    Nơi cư trú xóm Đ, xã N, huyện Đ, tỉnh Thái Nguyên. Quốc tịch: Việt Nam; dân tộc: Cao Lan; tôn giáo: Không; nghề nghiệp: Không; trình độ học vấn: 06/12. Con ông Trần Văn H3, sinh năm 1942 (đã chết), con bà: Hoàng Thị K, sinh năm 1952. Bị cáo chưa có vợ, con. Gia đình bị cáo có 06 anh em, bị cáo là con thứ 6. Tiền án, tiền sự: Không

    Bị cáo đang bị tạm giữ, tạm giam tại Trại tạm giam Công an tỉnh T từ ngày 11/8/2024 đến nay. (Có mặt)

Người chứng kiến: Anh Đào Ngọc T, sinh năm 1981. Địa chỉ tổ D, phường C, thành phố T. (Vắng mặt)

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Hồi 08 giờ 30 phút ngày 11/08/2024, tổ công tác Công an phường C, thành phố T tuần tra kiểm soát tại khu vực tổ A của phường thì phát hiện 02 người đàn ông đang đi bộ ở lề đường có biểu hiện nghi vấn phạm tội về ma túy. Qua kiểm tra, 02 người đàn ông tự khai nhận họ tên lần lượt là Lò Văn H và Trần Văn H2. H tự giác giao nộp từ lòng bàn tay trái cho tổ công tác 01 gói giấy bạc màu trắng, bên trong có chứa chất bột màu trắng (theo H và H2 khai nhận là H4 của H và H2). Tổ công tác tiến hành lập biên bản bắt người phạm tội quả tang và thu giữ vật chứng theo quy định.

Cùng ngày, Cơ quan điều tra tiến hành cân xác định: Số chất bột màu trắng thu giữ của H và H2 có khối lượng 0,625 gam (niêm phong ký hiệu K1 gửi giám định).

Tại Kết luận giám định số 922/KL-KTHS ngày 19/8/2024 của Phòng K1 Công an tỉnh T kết luận: Mẫu chất bột màu trắng trong bì niêm phong ký hiệu K1 gửi giám định là chất ma túy, loại Heroine, có tên khoa học là: Diacetylmorphine, có khối lượng thu giữ ban đầu là 0,625 gam.

Quá trình điều tra, Lò Văn H và Trần Văn H2 khai nhận: Khoảng 07 giờ 30 phút ngày 11/8/2024, H2 và H rủ nhau đi xe bus từ huyện Y, tỉnh Bắc Ninh đến khu vực Cầu G thuộc phường Đ, thành phố T mục đích tìm mua ma túy để cùng nhau sử dụng. Tại đây, H2 đưa H 500.000 đồng để mua ma túy. H có gặp và mua của một người đàn ông không quen biết 01 gói Heroine được gói bằng giấy bạc màu trắng với giá 500.000 đồng. Mua xong, H cầm ma túy ở lòng bàn tay trái và cùng H2 tiếp tục đi bộ để tìm nơi sử dụng, khi đi đến tổ A, phường C, thành phố T thì bị tổ công tác của Công an phường C bắt quả tang, thu giữ vật chứng như trên.

Lời khai nhận của Lò Văn H, Trần Văn H2 phù hợp với các tài liệu có trong hồ sơ vụ án như: Biên bản bắt người phạm tội quả tang; Lời khai của người chứng kiến; Vật chứng thu giữ; Kết luận giám định

Vật chứng của vụ án: 02 bì niêm phong ký hiệu K1, K2 bên trong chứa mẫu vật còn lại sau giám định và vỏ bao mẫu vật. Hiện được bảo quản tại kho vật chứng của Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Thái Nguyên.

Tại bản Cáo trạng số 16/CT-VKSTPTN ngày 08 tháng 01 năm 2025, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thái Nguyên đã truy tố bị cáo Lò Văn H và Trần Văn H2 về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”, tội phạm và hình phạt được quy định tại điểm c, khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự.

Tại phiên tòa các bị cáo khai nhận hành vi phạm tội của mình như như nội dung bản cáo trạng truy tố.

Trong phần luận tội, tại phiên tòa Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thái Nguyên tóm tắt nội dung vụ án, phân tích các căn cứ quy kết bị bị cáo Lò Văn H và Trần Văn H2 về tội Tàng trữ trái phép chất ma túy; đánh giá nhân thân; các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự. Từ đó đại diện Viện kiểm sát đề nghị Hội đồng xét xử tuyên bố bị cáo Lò Văn H và Trần Văn H2 phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”. Đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự; Điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 17; Điều 58; Điều 38 Bộ luật hình sự đối với cả hai bị cáo, các bị cáo không phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự nào quy định tại khoản 1 Điều 52 Bộ luật hình sự. Đề nghị xử phạt Lò Văn H và Trần Văn H2 mỗi bị cáo từ 21 đến 24 tháng tù giam. Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với cả hai bị cáo.

- Về vật chứng của vụ án: Căn cứ Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự và điều 47 Bộ luật hình sự, đề nghị Hội đồng xét xử: Tịch thu tiêu hủy 02 bì niêm phong ký hiệu K1, K2 .

- Về án phí: Bị cáo Lò Văn H được miễn án phí hình sự sơ thẩm, bị cáo Trần Văn H2 phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định.

Trong phần tranh luận, cả hai bị cáo đều thừa nhận việc truy tố và xét xử bị cáo về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” là không oan, đúng người, đúng tội, đúng quy định.

Phần lời nói sau cùng cả hai bị cáo xin giảm nhẹ hình phạt để bị cáo sớm được trở về với gia đình và xã hội.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về hành vi, các quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an thành phố T, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thái Nguyên, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa hôm nay, bị cáo, không có ý kiến hoặc kiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng. Do đó các Quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng là hợp pháp.

[2] Tại phiên tòa hôm nay, các bị cáo đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình như bản cáo trạng truy tố. Lời khai của các bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai của các bị cáo tại cơ quan Điều tra, biên bản bắt người phạm tội quả tang, kết luận giám định và vật chứng thu giữ. Hội đồng xử có đủ căn cứ kết luận: Hồi 08 giờ 30 phút ngày 11/8/2024, tại tổ A, phường C, thành phố T, Lò Văn H và Trần Văn H2 đang có hành vi tàng trữ 0,625 gam chất ma túy, loại Heroine, mục đích để sử dụng cho bản thân thì bị tổ công tác của Công an phường C, thành phố T và lập biên bản bắt người phạm tội quả tang, thu giữ vật chứng.

[3] Đánh giá của Hội đồng xét xử: Cả hai bị cáo đủ nhận thức để biết ma túy là vật cấm được Nhà quản lý nhưng các bị cáo vẫn cố tình tàng trữ 0,625 gam Heroine để sử dụng cho bản thân. Do vậy hành vi của các bị cáo đã đủ căn cứ truy cứu trách nhiệm hình sự được quy định tại điểm c, khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự. Viện kiểm sát thành phố T truy tố bị cáo về tội danh và điều luật nêu trên là hoàn toàn có căn cứ, đúng quy định của pháp luật.

Nội dung điều 249 quy định:

“1. Người nào tàng trữ trái phép chất ma túy mà không nhằm mục đích mua bán, vận chuyển, sản xuất trái phép chất ma túy thuộc một trong các trường hợp sau đây thì bị phạt tù từ 01 năm đến 05 năm:

a) ...

c) Heroine .. có khối lượng từ 0,1 gam đến dưới 05 gam. ”

[4]. Xét tính chất mức độ hành vi của các bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm các quy định của Nhà nước về quản lý, sử dụng chất gây nghiện, gây mất trật tự trị an ở địa phương.

[5]. Xét vai trò của các bị cáo trong vụ án: Lò Văn H và Trần Văn H2 đều là những đối tượng nghiệm ma túy, không có nghề nghiệp ổn định cùng rủ nhau mua ma túy sử dụng chung. Do vậy vai trò phạm tội của hai bị cáo trong vụ án là ngang nhau.

[6]. Xét nhân thân và các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với các bị cáo:

6.1. Về nhân thân: Bị cáo Lò Văn H và Trần Văn H2 chưa có tiền án, tiền sự. Tuy nhiên bị cáo Lò Văn H có nhân thân xấu. Tại Bản án số 36/2022/HSST ngày 21/01/2022 của Tòa án nhân dân huyện Tân Uyên, tỉnh Lai Châu xử phạt 09 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”. Chấp hành xong hình phạt tù ngày 10/8/2022.

6.2. Xét tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với cả hai bị cáo: Quá trình điều tra và tại phiên tòa các bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải nên cả hai bị cáo được hưởng một tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự. Các bị cáo không phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự nào quy định tại khoản 1 Điều 52 Bộ luật hình sự.

Xét thấy, cả hai bị cáo là người nghiện ma túy, không chịu cai nghiện, tu dưỡng rèn luyện bản thân. Bị cáo Lò Văn H có nhân thân xấu. Hội đồng xét xử cân nhắc có mức án tương xứng nhân thân, hành vi phạm tội của từng bị cáo để các bị cáo có ý thức chấp hành pháp luật, rèn luyện bản thân cải tạo trở thành người tốt. Mức hình phạt đại diện Viện kiểm sát đề nghị đối với các bị cáo tại phiên tòa là phù hợp

[7]. Vật chứng của vụ án: 01 bì niêm phong đúng quy định ký hiệu K, K1 là vật cấm và không có giá trị sử dụng nên cần tịch thu tiêu hủy.

[8]. Về hình phạt bổ sung và án phí

- Hình phạt bổ sung: Ngoài hình phạt tù lẽ ra Hội đồng xét xử áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền, nhưng theo biên bản xác minh và tại phiên toà các bị cáo khai là người nghiện ma túy, không có tài sản riêng, nên Hội đồng xét xử không phạt bổ sung đối với bị cáo.

- Án phí: Bị cáo Trần Văn H2 phải nộp án phí hình sự sơ thẩm theo quy định; bị cáo Lò Văn H do sống ở vùng có kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn nên áp dụng điểm đ khoản 1 Điều 12 Nghị Quyết 326/2016/UBTVQH ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc Hội; miễn án phí hình sự sơ thẩm cho bị cáo

Về nguồn gốc số ma túy thu giữ, các bị cáo khai mua của một người đàn ông không rõ lai lịch địa chỉ nên Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố T không có cơ sở điều tra làm rõ để xử lý.

Bởi các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH

Tuyên bố:

Bị cáo Lò Văn H và Trần Văn H2 phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”

  1. Về hình phạt:

    Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249; Điểm s khoản 1 Điều 51, Điều 17; Điều 58; Điều 38 Bộ luật hình sự.

    Xử phạt:

    1. Bị cáo Lò Văn H 24 (Hai mươi bốn) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày 11/8/2024. Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo;
    2. Bị cáo Trần Văn H2 21 (Hai mươi mốt) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày 11/8/2024. Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo;

    Căn cứ Điều 329 Bộ luật Tố tụng hình sự quyết định tạm giam bị cáo H; H2 mỗi bị cáo 45 ngày kể từ ngày tuyên án để đảm bảo thi hành án.

  2. Vật chứng của vụ án: Căn cứ Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự và Điều 47 Bộ luật hình sự:

    Tịch thu tiêu 01 bì niêm phong theo đúng quy định ký hiệu K1 (bên trong có chứa 0,592 gam mẫu vật hoàn lại sau giám định và vỏ bao gói mẫu, mạt sau có chữ ký của các thành phần tham gia và các hình dấu tròn của Phòng K1 Công an tỉnh T); 01 bì niêm phong đúng quy định ký hiệu K2 (bên trong có chứa vỏ bao mẫu vật niêm phong ban đầu, mặt sau có chữ ký của các thành phần tham gia và các hình dấu tròn của Cơ quan Cảnh sát Điều tra Công an thành phố T. Tình trạng vật chứng theo biên bản giao nhận vật chứng số 79 ngày 14/01/2025 tại Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Thái Nguyên

  3. Án phí: Căn cứ khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Luật Phí và lệ phí năm 2015; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 quy định về án phí, lệ phí Tòa án. Buộc bị cáo Trần Văn H2 phải nộp 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm vào ngân sách Nhà Nước; Miễn án phí hình sự sơ thẩm cho bị cáo Lò Văn H.

Án xử công khai sơ thẩm có mặt các bị cáo, báo cho biết có quyền kháng cáo bản án hình sự sơ thẩm trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên bản án./.

Nơi nhận:

  • - TAND tỉnh TN;
  • - VKSND tỉnh TN;
  • - VKSND thành phố TN;
  • - Công an thành phố TN;
  • - Chi cục THADSTPTN;
  • - Sở tư pháp tỉnh Thái Nguyên.
  • - Bị cáo; người cóCQLNVLQ
  • - Lưu HS; Lưu BP.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa

Nguyễn Thu Huệ

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 30/2025/HSST ngày 21/02/2025 của Tòa án nhân dân thành phố Thái Nguyên về tàng trữ trái phép chất ma túy

  • Số bản án: 30/2025/HSST
  • Quan hệ pháp luật: Tàng trữ trái phép chất ma túy
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 21/02/2025
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: Tòa án nhân dân thành phố Thái Nguyên
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Hình sự
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger