TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ NAM ĐỊNH TỈNH NAM ĐỊNH Bản án số: 31/2025/HS-ST Ngày: 20-02-2025 | CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ NAM ĐỊNH TỈNH NAM ĐỊNH
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
- Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Lương Thị Kim Huế
Các Hội thẩm nhân dân:
Ông Đỗ Quang Chung
Bà Trịnh Thị Kim Cúc
- Thư ký phiên toà: Bà Đỗ Thị Hải Anh - Thư ký Toà án nhân dân thành phố Nam Định
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Nam Định tham gia phiên tòa: Ông Trần Anh Đức - Kiểm sát viên
Ngày 20 tháng 02 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Nam Định tỉnh Nam Định xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 23/2025/TLST-HS ngày 23 tháng 01 năm 2025 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 23/2025/QĐXXST-HS ngày 07 tháng 02 năm 2025 đối với bị cáo:
Họ và tên: Nguyễn Anh D; sinh ngày 11 tháng 3 năm 1983 tại tỉnh Nam Định; Nơi đăng ký thường trú: Số C phố H, phường T, thành phố N, tỉnh Nam Định; Nơi cư trú: Số C đường T, phường C, thành phố N, tỉnh Nam Định; số căn cước công dân [...]; nghề nghiệp: tự do; trình độ học vấn: 12/12; dân tộc: Kinh; giới tính: nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Văn H và bà Phạm Thị N; có vợ Dương Việt H1 (chưa đăng ký kết hôn) và có 02 con, lớn sinh năm 2014, nhỏ sinh năm 2017 ; tiền án, tiền sự: Không; nhân thân: Ngày 05-4-2017, Toà án nhân dân thành phố Nam Định xử phạt 12 tháng tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma tuý”; Ngày 21-5-2019, Toà án nhân dân thành phố Nam Định xử phạt 01 năm 06 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”; Bị cáo bị tạm giữ từ ngày 07-9-2024, đến ngày 16-9-2024 chuyển tạm giam, hiện đang bị tạm giam tại Nhà tạm giữ Công an thành phố N; Bị cáo có mặt tại phiên toà.
- Bị hại: Chị Phạm Thu H2; sinh năm 1982; Nơi đăng ký thường trú và nơi cư trú: Số A phố H, phường N, thành phố N, tỉnh Nam Định; Có mặt tại phiên toà
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Nguyễn Anh D có quan hệ bạn bè với Hoàng Anh T, sinh năm 1980, trú tại phường Đ, quận H, thành phố Hà Nội. Chiều ngày 04-9-2024, T và D ở nhà vợ của T là chị Vũ Thị H3 tại phòng 6 tầng 2 khu 5 tầng số 1 T, phường C, thành phố N, lúc này trong nhà chỉ có D và T. Do đang thiếu tiền tiêu xài cá nhân, T rủ D sử dụng xe máy đi cướp giật tài sản của người khác tại địa bàn thành phố N, D đồng ý. Khoảng 20h15 cùng ngày, T đi bộ ra đứng đợi tại đường hông bên trái toà nhà giáp đường T, D xuống tầng 1 lấy xe máy nhãn hiệu Honda Airblade màu đỏ đen, biển kiểm soát: 59V3-189.26 đi ra đón T. D là người điều khiển xe máy, mặc quần dài màu xanh tím than, mặc áo phông không cổ màu vàng bên trong, mặc áo khoác nỉ màu đen, không mũ bên ngoài, kéo hết khóa áo khoác, đội mũ vải dạng lưỡi trai màu đen, đội mũ bảo hiểm dạng mũ lưỡi trai màu đen, đỉnh mũ có sọc trắng bên ngoài mũ vải, đeo khẩu trang màu trắng; T là người ngồi sau mặc quần bò dài màu xanh, mặc áo dài tay màu đen có cổ áo, đội mũ bảo hiểm dạng mũ lưỡi trai màu đen, đeo khẩu trang màu trắng. D chở T đi trên đường T, qua cổng Bệnh viện Phụ sản tỉnh N thì vòng xe lại đến kiot số 8 T, phường C, thành phố N, đối diện cổng Bệnh viện Phụ sản tỉnh N để mua thuốc lá. Tại đây, D và T cùng tháo khẩu trang ra để nói chuyện với chủ cửa hàng là bà Lê Thị Á, sinh năm 1975, đồng thời D và T đổi mũ bảo hiểm cho nhau. Sau khi mua thuốc lá, D và T đi theo các tuyến đường T - H - B - Phạm Hồng T1 - Cột Cờ tìm người có tài sản sơ hở để thực hiện hành vi cướp giật. Khoảng 20h25 phút cùng ngày, khi rẽ từ đường C sang đường B thì phát hiện phía trước có hai người phụ nữ đang đi bộ song song nhau trên vỉa hè bên phải, trong đó có chị Phạm Thu H2, sinh năm 1982, trú tại A đường H, phường N, thành phố N đi bên ngoài giáp lề đường, chị Trần Thị V, sinh năm 1979 đi bộ phía trong. Chị H2 mặc áo phông không cổ màu xanh lá cây, có đeo một sợi dây chuyền vàng trên cổ để hở ra ngoài. T bảo D: “Chạy gần lên”. Khi đến trước cửa số nhà A đường B, phường N, thành phố N, chị H2 và chị V đi xuống lề đường bên phải, D tăng ga vượt lên áp sát bên trái cách chị H2 50-60cm, T dùng tay phải giật sợi dây chuyền vàng chị H2 đang đeo trên cổ rồi rồi giục D bỏ chạy. D nghe có tiếng người phụ nữ hô “Cướp, cướp” ở phía sau nên tăng ga bỏ chạy theo đường B - H - T - M - rẽ ra đường T. Khi đến gầm cầu Đ (đoạn ngã ba đường T - T), thấy không bị ai đuổi theo, D dừng xe, cởi áo khoác ngoài màu đen đang mặc ra cất tại hộc giữa xe máy, chỉ mặc áo phông không cổ màu vàng nhằm thay đổi đặc điểm nhận dạng. Lúc này, T ngồi sau xe cầm sợi dây chuyền vàng ở lòng bàn tay phải giơ ra cho D xem thì D biết T đã giật được sợi
dây chuyền của chị H2 (D không biết có mặt dây chuyền hay không). Sau đó, cả hai tiếp tục bỏ chạy theo đường Trần Nhân T2 đi lên đê sông Đào đến gầm cầu T theo Quốc lộ A đến siêu thị G rẽ vào đường Đ - G - Điện Biên - T - Trần Đăng N1 đi về phòng 6 tầng 2 khu 5 tầng số 1 T, phường C, thành phố N. T đi vào phòng trong lấy ra 01 hộp nhựa, cất sợi dây chuyền vừa cướp giật được vào hộp rồi để vào túi quần bò của T đang treo trong nhà. T nói với D để sau một vài ngày sẽ mang sợi dây chuyền trên đi bán rồi chia tiền cho D, rồi cả hai đi ngủ. Sáng 06-9-2024, T nói với D mang sợi dây chuyền vàng cướp giật được đi bán, D đồng ý.
Đến khoảng 11h30' ngày 06-9-2024, D đi bộ từ khu N tầng T, phường C, thành phố N đến khu vực nhà 3 tầng đường P phường C, thành phố N nhằm mục đích mua ma tuý về để sử dụng. D gặp một người đàn ông khoảng 30 tuổi (không rõ tên, tuổi, địa chỉ cụ thể) đang đứng tại vỉa hè đường P hỏi mua 100.000đ heroin. Người đàn ông cầm tiền đi bộ vào khu vực 3 tầng Phan Bội C sau đó đi ra đưa cho D 01 túi nilong bên trong có chứa heroin, D cất vào túi quần rồi đi về. Đến khoảng 18h cùng ngày, D một mình đi bộ ra nhà nghỉ S, địa chỉ B đường T, phường C, thành phố N, thuê phòng 202 (tầng 2) để nghỉ. Tại đây, D lấy một ít heroin đã mua sử dụng bằng hình thức hít. Số ma tuý còn lại, D cất giấu trong chăn để ở đầu giường tại phòng 202 nhà nghỉ S.
Sau khi bị cướp giật tài sản chị H2 đến Công an phường N trình báo. Ngày 06-9-2024, Nguyễn Anh D đến trụ sở Công an thành phố N đầu thú về hành vi cướp giật tài sản. Tại Cơ quan điều tra, D khai nhận hành vi phạm tội của mình và tự nguyện giao nộp chiếc xe máy biển kiểm soát 59V3-189.26. Quá trình điều tra kiểm tra, rà soát hiện trường không thu giữ được đồ vật tài liệu gì, thu giữ trích xuất các hình ảnh camera trên các tuyến đường D và T đi khi thực hiện hành vi cướp giật. Tiến hành cho D, chị H2 và người liên quan xem lại nhận dạng chính xác đặc điểm của Nguyễn Anh D và Hoàng Anh T cũng như đặc điểm phương tiện khi 2 đối tượng thực hiện hành vi cướp giật tài sản.
Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố N khám xét khẩn cấp nơi ở của Nguyễn Anh D tại phòng 202 nhà nghỉ S, địa chỉ B đường T, phường C, thành phố N, thu giữ 01 túi ni lông màu trắng kích thước khoảng (2,5x2) cm, bên trong có chứa chất bột dạng cục màu trắng và 01 (một) mảnh giấy bạc màu trắng kích thước khoảng (5x3) cm trên mặt mảnh giấy bạc có chất bám dính màu đen cùng 01 chiếc bật lửa là công cụ đối tượng sử dụng ma tuý sau đó lấy mẫu nước tiểu của Nguyễn Anh D.
Tại Cơ quan điều tra, D khai nhận heroin mua được D đã sử dụng một phần, phần còn lại, D cất giấu tại phòng 202 nhà nghỉ S để sử dụng sau.
Ngày 04-12-2024, Cơ quan Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố N đã ra quyết định khởi tố bị can đối với Hoàng Anh T về tội cướp giật tài sản quy định tại khoản 2 Điều 171 Bộ luật Hình sự. Quá trình điều tra xác định, sau khi gây án Hoàng Anh T đã bỏ trốn khỏi địa phương, không xác định được nơi ở hiện tại. Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố N ra quyết định truy nã đối với Hoàng Anh T, đến nay chưa bắt giữ được.
Bản kết luận giám định số 1572/KL-KTHS ngày 10-9-2024 của Phòng K Công an tỉnh N kết luận: Mẫu bột dạng cục màu trắng trong 01 (một) túi ni lông màu trắng, được niêm phong gửi giám định là ma tuý. Loại ma tuý: Heroine (H). Khối lượng mẫu: 0,153g; Có tìm thấy thành phần các chất gồm Methamphetamine, M, C1 và 6-MAM trong mẫu nước tiểu gửi giám định; không tìm thấy thành phần chất ma tuý thường gặp theo danh mục chất ma tuý do Chính phủ ban hành trong mẫu bám dính màu đen trên giấy bạc màu trắng được niêm phong gửi giám định.
Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự thành phố N định giá qua hồ sơ kết luận sợi dây chuyền vàng Ý 750 có hai màu vàng và trắng xen kẽ nhau trọng lượng 17,4 gam và mặt dây chuyền vàng 18K có gắn đá trọng lượng 5,96 gam có tổng trị giá 40.600.000 đồng. Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố N đã ra quyết định truy tìm đối với vật chứng là sợi dây chuyền vàng cùng mặt dây chuyền vàng gắn đá nhưng chưa có kết quả.
Về trách nhiệm dân sự: Chị H2 yêu cầu Nguyễn Anh D bồi thường trị giá tài sản bị chiếm đoạt, hiện D chưa bồi thường cho chị H2.
Bản Cáo trạng số 44/CT-VKS ngày 23 tháng 01 năm 2025 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Nam Định truy tố Nguyễn Anh D về tội “Cướp giật tài sản” theo điểm d khoản 2 Điều 171 và tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” và điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự.
Tại phiên toà: Bị cáo Nguyễn Anh D trình bày toàn bộ hành vi phạm tội như nội dung bản cáo trạng đã nêu. Về trách nhiệm dân sự: Bị cáo tác động gia đình bồi thường thiệt hại cho chị Phạm Thu H2 số tiền 20.300.000 đồng.
Bị hại là chị Phạm Thu H2: Xác nhận tại phiên toà bị cáo đã tác động gia đình bồi thường thiệt hại cho chị H2 là 20.300.000 đồng. Chị H2 không yêu cầu bị cáo Nguyễn Anh D phải bồi thường toàn bộ thiệt hại. Đối với nghĩa vụ bồi thường thiệt hại của đối tượng Hoàng Anh T chị H2 đề nghị Hội đồng xét xử tách ra giải quyết bằng một vụ án khác đối với đối tượng Hoàng Anh T.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Nam Định giữ quyền công tố tại phiên tòa luận tội: Giữ nguyên quan điểm truy tố bị cáo Nguyễn Anh D theo toàn bộ nội dung bản cáo trạng và đề nghị Hội đồng xét xử:
Tuyên bố bị cáo Nguyễn Anh D phạm tội “Cướp giật tài sản” và “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
Căn cứ điểm d khoản 2 Điều 171 và điểm c khoản 1 Điều 249; điểm b, điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017)
Xử phạt bị cáo từ 04 năm 06 tháng đến 05 năm tù về tội “Cướp giật tài sản” và từ 02 năm đến 02 năm 03 tháng tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”. Tổng hợp hình phạt cho cả hai tội từ 06 năm 06 tháng đến 07 năm 03 tháng tù.
Về trách nhiệm dân sự: Đề nghị Hội đồng xét xử không buộc bị cáo phải bồi thường thiệt hại cho chị Phạm Thu H2 và tách phần bồi thường thiệt hại của đối tượng Hoàng Anh T bằng một vụ án khác.
Căn cứ Điều 47 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017) và Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015 để xử lý vật chứng đã thu giữ.
Bị cáo không có ý kiến tranh luận.
Bị cáo nói lời sau cùng: Đề nghị Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an thành phố N, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Nam Định, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo Nguyễn Anh D và bị hại không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện trong vụ án đều hợp pháp.
[2] Về trách nhiệm hình sự: Căn cứ lời khai của bị cáo Nguyễn Anh D, lời khai bị hại và các chứng cứ tài liệu khác có trong hồ sơ vụ án, đã có đủ cơ sở kết luận: Khoảng 20 giờ 25 phút ngày 04-9-2024 Nguyễn Anh D và Hoàng Anh T đã có hành vi điều khiển xe máy biển kiểm soát 59V3-189.26 cướp giật của chị Phạm Thị H4 01 dây chuyền vàng Ý 750 có hai màu vàng và trắng xen kẽ nhau trọng lượng 17,4 gam và mặt dây chuyền vàng 18K có gắn đá trọng lượng 5,96 gam có tổng trị giá 40.600.000 đồng tại trước cửa số nhà A B, phường N, thành phố N, tỉnh Nam Định. Ngoài ra, vào ngày 06-9-2024 Nguyễn Anh D có hành vi tàng trữ 0,153g Heroine mục đích để sử dụng tại phòng 202 nhà nghỉ S, địa chỉ B đường T, phường C, thành phố N, tỉnh Nam Định.
Hành vi của bị cáo nguy hiểm cho xã hội, đã xâm phạm quyền được bảo vệ về tính mạng, sức khoẻ và quyền sở hữu tài sản của công dân được pháp luật bảo hộ và xâm phạm đến chính sách độc quyền quản lý chất ma túy của Nhà nước, gây mất trật tự an toàn xã hội. Bị cáo là người có đầy đủ năng lực trách nhiệm hình sự, biết rõ hành vi của mình là vi phạm pháp luật nhưng vẫn cố ý thực hiện. Do đó, bị cáo đã phạm tội “Cướp giật tài sản” theo điểm d khoản 2 Điều 171 Bộ luật Hình sự với tình tiết định khung tăng nặng “Dùng thủ đoạn nguy hiểm” và tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự. Quan điểm truy tố của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Nam Định là có căn cứ.
[3] Về vai trò của các bị cáo trong vụ án:
Bị cáo cùng với Hoàng Anh T cùng nhau thực hiện một tội phạm cướp giật tài sản nên thuộc trường hợp đồng phạm. Xét vai trò của từng bị cáo, Hội đồng xét xử thấy rằng: Trong vụ án này Hoàng Anh T là người chủ mưu còn bị cáo là người thực hành tích cực, trực tiếp điều khiển phương tiện chở Hoàng Anh T để thực hiện hành vi cướp giật tài sản nên Hoàng Anh T có vai trò thứ nhất bị cáo có vai trò thứ hai trong vụ án.
[3] Xét tính chất, mức độ hành vi phạm tội, nhân thân và các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của bị cáo:
Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự nhưng là người có nhân thân xấu.
Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Trong quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải đối với hành vi phạm tội của mình, sau khi phạm tội đã ra đầu thú. Tại phiên toà bị cáo đã tác động gia đình bồi thường thiệt hại cho bị hại. Do đó, bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017).
Từ những phân tích trên, Hội đồng xét xử xét thấy cần phải áp dụng hình phạt tù đối với bị cáo là tương xứng với tính chất, mức độ hành vi phạm tội, nhân thân và các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của bị cáo.
[4] Về hình phạt bổ sung: Xét bị cáo không có nghề nghiệp, thu nhập ổn định nên không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.
[5] Về vấn đề dân sự: Tại phiên toà bị cáo đã bồi thường thiệt hại cho chị Phạm Thu H2, chị H2 đã nhận đầy đủ và không yêu cầu bị cáo phải bồi thường gì thêm và tự nguyện tách phần bồi thường thiệt hại của đối tượng Hoàng Anh T bằng một vụ án khác nên Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết.
[6] Về xử lý vật chứng: Số ma túy thu giữ của bị cáo Nguyễn Anh D là vật Nhà nước cấm lưu hành nên sẽ tịch thu tiêu hủy.
[7] Về các vấn đề khác trong vụ án:
Đối với Hoàng Anh T hiện đang bỏ trốn, Cơ quan Cảnh sát điều tra, Công an thành phố N ra Quyết định tách vụ án số 16 ngày 02-01-2025 để tiếp tục xác minh truy bắt xử lý sau.
Đối với chiếc xe máy Biển kiểm soát 59V3-189.26 bị cáo D dùng làm phương tiện phạm tội nhưng qua điều tra, xác minh chưa rõ nguồn gốc, vì vậy Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố N tách ra tiếp tục xác minh, xử lý sau.
Đối với đối tượng bán ma túy cho bị cáo Nguyễn Anh D do tài liệu điều tra chưa đủ căn cứ kết luận nên Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố N tách ra để điều tra, xử lý sau.
[8] Về án phí: Bị cáo Nguyễn Anh D phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định tại Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015 và Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào điểm d khoản 2 Điều 171, điểm c khoản 1 Điều 249, Điều 17, khoản 1 Điều 48, điểm b, điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 55 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017); Điều 106, Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015; Điều 23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội:
- Tuyên bố: Bị cáo Nguyễn Anh D phạm tội “Cướp giật tài sản” và “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
Xử phạt bị cáo Nguyễn Anh D 04 (bốn) năm 06 (sáu) tháng tù về tội “Cướp giật tài sản” và 02 (hai) năm 03 (ba) tháng tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”. Tổng hợp hình phạt buộc bị cáo phải chấp hành hình phạt chung cho cả hai tội là 06 (sáu) năm 09 (chín) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày 07-9-2024.
- Xử lý vật chứng:
- - Tịch thu tiêu hủy số ma túy có trong phong bì niêm phong số 1572/KL-KTHS;
- - Tịch thu tiêu hủy 01 túi niêm phong mã số NS4. 1901808;
(Vật chứng có đặc điểm như biên bản giao nhận vật chứng giữa Công an thành phố N và Chi cục thi hành án dân sự thành phố Nam Định ngày 11-02-2025);
- Về án phí: Bị cáo Nguyễn Anh D phải nộp 200.000 (hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.
- Quyền kháng cáo: Bị cáo Nguyễn Anh D, bị hại là chị Phạm Thu H2 được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.
Trường hợp bản án được thi hành theo Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì bị cáo có quyền tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 7, 7a và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
Nơi nhận:
- - Người TGTT;
- - VKSND TP. Nam Định (02 bản);
- - TAND tỉnh Nam Định;
- - Công an TP. Nam Định;
- - Chi cục THADS TP. Nam Định;
- - Lưu hồ sơ vụ án + VT.
CÁC THÀNH VIÊN HỘI ĐỒNG XÉT XỬ HỘI THẨM NHÂN DÂN | THẨM PHÁN – CHỦ TOẠ PHIÊN TOÀ Lương Thị Kim Huế |
8
9
Bản án số 31/2025/HS-ST ngày 20/02/2025 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ NAM ĐỊNH TỈNH NAM ĐỊNH về hình sự (cướp giật tài sản và tàng trữ trái phép chất ma túy)
- Số bản án: 31/2025/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Hình sự (Cướp giật tài sản và Tàng trữ trái phép chất ma túy)
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 20/02/2025
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ NAM ĐỊNH TỈNH NAM ĐỊNH
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Nguyễn Anh D phạm tội Cướp giật tài sản
