|
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BẾN CÁT TỈNH BÌNH DƯƠNG |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc Lập - Tự Do - Hạnh Phúc |
Bản án số: 30/2025/HS-ST
Ngày 19-02-2025
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BẾN CÁT, TỈNH BÌNH DƯƠNG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Đậu Thị Thảo.
Các Hội thẩm nhân dân:
- Bà Nguyễn Thị Thắm
- Ông Lương Thanh Nhàn.
- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thu Phương – Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Bến Cát, tỉnh Bình Dương.
- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân thành phố Bến Cát, tỉnh Bình Dương tham gia phiên tòa: Bà Lê Thị Kim Hương - Kiểm sát viên.
Ngày 19 tháng 02 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Bến Cát, tỉnh Bình Dương xét xử công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 08/2025/TLST-HS ngày 10 tháng 01 năm 2025 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 36/2025/QĐXXST–HS ngày 07 tháng 02 năm 2025 đối với bị cáo:
Đàm Văn T, sinh năm: 1988 tại tỉnh Đắk Lắk; đăng ký thường trú: Thôn I, xã C, huyện E, tỉnh Đắk Lắk; chỗ ở: Phường H, thành phố B, tỉnh Bình Dương; nghề nghiệp: Công nhân; trình độ văn hóa: 7/12; dân tộc: Nùng; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Đàm Văn T1, sinh năm 1964 và bà Lê Thị N, sinh năm 1965; bị cáo có vợ là Dương Thị H, sinh năm 1993, có 02 con, lớn sinh năm 2009, nhỏ sinh năm 2014; tiền án, tiền sự: Không; bị cáo bị bắt, tạm giam từ ngày 16/7/2024 cho đến nay. Bị cáo có mặt tại phiên tòa.
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Bà Dương Thị H, sinh năm: 1993; nơi thường trú: Thôn I, xã C, huyện E, tỉnh Đắk Lắk – có mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Đàm Văn T là đối tượng nghiện ma tuý (ma tuý loại heroin) từ tháng 05/2023. Nguồn ma túy T có sử dụng là mua của Hoàng Đại L (sinh năm: 2000; nơi thường trú: Bon Đ, xã Q, huyện T, tỉnh Đắk Nông).
Khoảng 11 giờ 30 phút ngày 16/7/2024, T có nhu cầu sử dụng ma tuý nên sử dụng điện thoại hiệu Redmi màu xanh trắng, gắn sim thuê bao số 0348.128.440 gọi điện đến số thuê bao 0927.453.095 của L hỏi mua 300.000 đồng ma túy thì L đồng ý và hẹn T đến khu vực thuộc phường T, thành phố B, tỉnh Bình Dương để bán ma tuý. Sau đó, T điều khiển xe đạp điện hiệu Htbike, màu đen đi đến điểm hẹn gặp L mua được 01 gói giấy bạc bên trong có chứa ma tuý rồi đi tìm chỗ để sử dụng. Khoảng 12 giờ cùng ngày, khi T đi đến đoạn đường NE4 thuộc khu phố H, phường C, thành phố B, tỉnh Bình Dương thì bị lực lượng Cảnh sát điều tra tội phạm về Kinh tế - Ma túy Công an thành phố B phối hợp Công an phường C yêu cầu kiểm tra, bắt quả tang T đang cầm trong bàn tay trái 01 gói giấy bạc bên trong có chứa chất màu trắng. T khai nhận đây là ma tuý T vừa mua để sử dụng.
Vật chứng thu giữ:
- 01 gói giấy bạc, bên trong có chứa chất màu trắng;
- 01 điện thoại di động hiệu Redmi 10 màu xanh trắng, gắn sim thuê bao số 0348.128.440;
- 01 xe đạp điện hiệu Htbike, màu đen;
Theo Kết luận giám định số 3451 ngày 24/7/2024 của Phòng K Công an tỉnh B kết luận: Mẫu chất màu trắng (bị thu giữ) gửi giám định là ma túy có khối lượng M= 0,1922 gam, loại Heroine (H).
Theo Kết luận định giá tài sản số 165 ngày 23/12/2024 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự thành phố B, kết luận: 01 điện thoại hiệu Redmi 10 trị giá 480.000 đồng; 01 xe đạp điện hiệu Htbike trị giá 760.000 đồng.
Tại Cáo trạng số 31/CT-VKSBC ngày 09/01/2025 của Viện Kiểm sát nhân dân thành phố Bến Cát, tỉnh Bình Dương truy tố bị cáo Đàm Văn T về tội: “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo điểm c khoản 1 Điều 249 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (đã được sửa đổi, bổ sung năm 2017).
Tại phiên tòa, bị cáo đã khai nhận toàn bộ hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy để sử dụng như nội dung Cáo trạng mô tả và không có ý kiến gì khác.
Tại phiên tòa bà Dương Thị H trình bày: Bà và ông T là vợ chồng hợp pháp. Đối với 01 xe đạp điện hiệu Htbike, màu đen là do bà mua để vợ chồng cùng sử dụng làm phương tiện đi lại. Đối với 01 điện thoại di động hiệu Redmi 10 màu xanh trắng, gắn sim thuê bao số 0348.128.440 là do Đàm Văn T mua trong thời kỳ hôn nhân. Cả hai tài sản này là tài sản chung của bà và T tạo lập chung trong thời kỳ hôn nhân. Việc T sử dụng điện thoại và xe đạp điện đi mua ma tuý bà không biết. Bà H yêu cầu được nhận lại xe đạp điện và điện thoại này.
Tại phần tranh luận:
Kiểm sát viên đại diện Viện Kiểm sát nhân dân thành phố Bến Cát giữ nguyên quyết định truy tố của Viện Kiểm sát nhân dân thành phố Bến Cát đối với bị cáo Đàm Văn T về tội: “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự. Đồng thời đề nghị:
- Căn cứ điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự, đề nghị xử phạt bị cáo T từ 01 (một) năm 03 (ba) tháng đến 01 (một) năm 06 (sáu) tháng tù.
- Về biện pháp tư pháp: Căn cứ Điều 46, Điều 47 Bộ luật Hình sự, Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự, đề nghị Hội đồng xét xử tuyên:
- Tịch thu tiêu hủy: 01 thùng giấy được niêm phong ghi số 3451/PC09 có chữ ký hình dấu đỏ như trong biên bản mở niêm phong và giấy niêm phong có chữ ký Đàm Văn T (người chứng kiến), chữ ký Đinh Công T2 (Cán bộ nhận mẫu), chữ ký Nguyễn Hoàng A (Cán bộ trả mẫu) và hình dấu đỏ niêm phong của phòng K Công an tỉnh B, khối lượng mẫu vật niêm phong: M = 0,1841 gam.
- Đề nghị giao trả cho bà Dương Thị H 01 điện thoại hiệu Redmi 10 màu xanh trắng, gắn sim thuê bao số 0348.128.440 và 01 xe đạp điện hiệu Htbike, màu đen.
- Tịch thu nộp ngân sách Nhà nước số tiền 380.000 đồng.
Tại phiên tòa, bị cáo thừa nhận toàn bộ hành vi của mình đúng như nội dung bản cáo trạng đã mô tả và thừa nhận hành vi của mình như lời luận tội của đại diện Viện Kiểm sát. Trong phần tranh luận, bị cáo và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan bà Dương Thị H không tham gia tranh luận. Lời nói sau cùng bị cáo xin Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt.
Căn cứ vào các tài liệu chứng cứ đã được thẩm tra tại phiên tòa, căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, trên cơ sở xem xét đầy đủ, toàn diện chứng cứ, ý kiến của vị đại diện Viện Kiểm sát, bị cáo và những người tham gia tố tụng khác.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về tố tụng: Hành vi, quyết định tố tụng trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hay khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng.
[2] Về hành vi phạm tội của bị cáo: Lời khai nhận tội của bị cáo Đàm Văn T tại phiên tòa phù hợp với lời khai của bị cáo tại cơ quan điều tra và các tài liệu, chứng cứ có tại hồ sơ, do đó có đủ cơ sở kết luận:
Khoảng 12 giờ ngày 16/7/2024, tại đoạn đường NE4 thuộc khu phố H, phường C, thành phố B, tỉnh Bình Dương, lực lượng Công an phát hiện Đàm Văn T có hành vi tàng trữ trái phép 0,1922 gam ma tuý, loại Heroine (H) nhằm mục đích để sử dụng.
Hành vi cất giấu 0,1922 gam ma tuý, loại Heroine (H) nhằm mục đích sử dụng của bị cáo Đàm Văn T đã đủ yếu tố cấu thành tội: “Tàng trữ trái phép chất ma tuý” theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 của Bộ luật Hình sự. Do đó, Cáo trạng của Viện Kiểm sát nhân dân thành phố Bến Cát, tỉnh Bình Dương truy tố bị cáo T với tội danh và điều khoản nêu trên là đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.
[3] Về tính chất, mức độ nghiêm trọng của hành vi phạm tội, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:
Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, không những xâm phạm đến chính sách độc quyền quản lý của Nhà nước đối với các chất ma túy mà còn gây mất ảnh hương trật tự trị an tại địa phương. Ma túy là một loại chất độc dược gây ra tác hại rất lớn về nhiều mặt cho xã hội, làm ảnh hưởng đến sức khỏe của người sử dụng và cũng là mầm mống lan truyền các căn bệnh xã hội như HIV, AIDS, .... vv và còn là nguyên nhân dẫn đến những loại tội phạm khác.
Bị cáo là người có đủ năng lực chịu trách nhiệm hình sự, có sức khỏe nhưng không chí thú làm ăn. Bị cáo biết rõ tác hại của ma túy đối với con người và xã hội, biết rõ hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy để sử dụng là vi phạm pháp luật hình sự nhưng vẫn cố ý thực hiện, thể hiện thái độ thiếu ý thức, xem thường pháp luật. Do đó, đối với bị cáo cần phải có mức hình phạt nghiêm, tương xứng với tính chất và mức độ phạm tội để răn đe, giáo dục và phòng ngừa chung, cần tiếp tục cách ly bị cáo ra khỏi xã hội một thời gian để cải tạo, giáo dục.
Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, bị cáo là người dân tộc thiểu số nên được áp dụng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự theo điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự năm 2015.
Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Không có.
[4] Xét đề nghị của đại diện Viện Kiểm sát nhân dân thành phố Bến Cát về việc áp dụng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và mức hình phạt đối với bị cáo là phù hợp với tính chất, mức độ hành vi mà bị cáo đã gây ra cũng như nhân thân; tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự mà bị cáo được áp dụng nên chấp nhận.
[5] Về vật chứng:
- Kết quả điều tra xác định trọng lượng ma túy là 0,1922 gam, loại Heroine (H), sau giám định còn lại 0,1841 gam. Xét thấy đây là vật chứng cấm tàng trữ, lưu hành nên cần tịch thu tiêu hủy trọng lượng ma túy còn lại.
- Đối với 01 xe đạp điện hiệu Htbike, màu đen và 01 điện thoại di động hiệu Redmi 10 màu xanh trắng, gắn sim thuê bao số 0348.128.440 là công cụ, phương tiện bị cáo T dùng vào việc phạm tội. Theo lời trình bày của bị cáo Đàm Văn T và bà Dương Thị H thể hiện xe đạp điện và điện thoại là tài sản chung của bị cáo và vợ là bà Dương Thị H. Tuy nhiên, điện thoại và xe này là phương tiện dùng vào việc phạm tội, là vật chứng của vụ án nên phải tịch thu toàn bộ giá trị để sung vào ngân sách nhà nước theo quy định tại Điều 47 của Bộ luật hình sự và khoản 2 Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự. Do đó, xét đề nghị của đại diện Viện Kiểm sát nhân dân thành phố Bến Cát về việc giao trả cho bà H 01 điện thoại hiệu Redmi 10 màu xanh trắng, gắn sim thuê bao số 0348.128.440 và 01 xe đạp điện hiệu Htbike, màu đen và tịch thu nộp ngân sách Nhà nước số tiền 380.000 đồng là không phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử nên không chấp nhận. Xét đề nghị của người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan (bà H) về việc được nhận lại 01 xe đạp điện hiệu Htbike, màu đen và 01 điện thoại di động hiệu Redmi 10 màu xanh trắng, gắn sim thuê bao số 0348.128.440 là không phù hợp nên không chấp nhận.
[6] Về trách nhiệm dân sự: Không đặt ra xem xét.
[7] Đối với đối tượng tên Hoàng Đại L có hành vi bán ma túy cho Đàm Văn T, hiện Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố B đang thụ lý giải quyết trong vụ án khác.
[8] Về án phí: Buộc bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
1. Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Đàm Văn T phạm tội: “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
2. Về điều luật áp dụng và hình phạt:
Căn cứ điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (đã được sửa đổi, bổ sung năm 2017);
Xử phạt bị cáo Đàm Văn T 01 (một) năm 03 (ba) tháng tù, thời hạn tù được tính kể từ ngày 16/7/2024.
3. Về vật chứng: Căn cứ khoản 2 Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015; Căn cứ khoản 1 Điều 47 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (đã được sửa đổi, bổ sung năm 2017);
- Tịch thu tiêu hủy: 01 thùng giấy được niêm phong ghi số 3451/PC09 có chữ ký hình dấu đỏ như trong biên bản mở niêm phong và giấy niêm phong có chữ ký Đàm Văn T (người chứng kiến), chữ ký Đinh Công T2 (Cán bộ nhận mẫu), chữ ký Nguyễn Hoàng  (Cán bộ trả mẫu) và hình dấu đỏ niêm phong của phòng K Công an tỉnh B, khối lượng mẫu vật niêm phong: M = 0,1841 gam.
- Tịch thu, nộp ngân sách Nhà nước:
- + 01 điện thoại hiệu Redmi 10 màu xanh trắng, gắn sim thuê bao số 0348.128.440;
- + 01 xe đạp điện hiệu Htbike, màu đen.
(Vật chứng đã được giao cho Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Bến Cát theo Biên bản về việc giao nhận vật chứng, tài sản ngày 16/01/2025).
4. Về án phí: Căn cứ Điều 23 Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 quy định về án phí và lệ phí Tòa án;
Buộc bị cáo Đàm Văn T phải nộp 200.000 đồng (hai trăm nghìn đồng) tiền án phí hình sự sơ thẩm.
5. Về quyền kháng cáo:
Bị cáo và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có mặt có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm (19/02/2025).
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN-CHỦ TOẠ PHIÊN TOÀ Đậu Thị Thảo |
THÀNH VIÊN HỘI ĐỒNG XÉT XỬ THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA
Đậu Thị Thảo
Bản án số 30/2025/HS-ST ngày 19/02/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BẾN CÁT, TỈNH BÌNH DƯƠNG về hình sự sơ thẩm (tàng trữ trái phép chất ma túy)
- Số bản án: 30/2025/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Hình sự sơ thẩm (Tàng trữ trái phép chất ma túy)
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 19/02/2025
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BẾN CÁT, TỈNH BÌNH DƯƠNG
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: TÀNG TRỮ TRÁI PHÉP CHẤT MA TUÝ
