Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN TÂN PHÚ

TỈNH ĐỒNG NAI

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

Bản án số: 30/2025/HS-ST

Ngày: 18-02-2025

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TÂN PHÚ, TỈNH ĐỒNG NAI

Với thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Bá Đại

Các Hội thẩm nhân dân:

  1. Ông Phạm Công Gia
  2. Ông Trần Viết Hữu

Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Ngọc Anh – Thư ký Tòa án nhân dân huyện Tân Phú, tỉnh Đồng Nai.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Tân Phú tham gia phiên tòa: Ông Trương Công Dũng – Kiểm sát viên.

Ngày 18 tháng 02 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Tân Phú, tỉnh Đồng Nai xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 01/2025/TLST - HS ngày 02 tháng 01 năm 2025 theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 24/2025/QĐXXST-HS ngày 06 tháng 02 năm 2025 và thông báo thay đổi lịch xét xử số 01/TB-TA ngày 11/02/2025, đối với các bị cáo:

  1. Nguyễn Thái Đ

    , sinh năm 1988 tại Đồng Nai.

    Nơi cư trú: Ấp N, xã P, huyện T, tỉnh Đồng Nai.

    Nghề nghiệp: Thợ cơ khí; trình độ văn hóa: 8/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Thiên chúa; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Văn K, sinh năm 1962 và bà Trần Thị C, sinh năm 1963; Vợ: Nguyễn Minh Trúc A, sinh năm 1990, con: có 02, lớn sinh năm 2009 và nhỏ sinh năm 2020

    Tiền án, tiền sự: không.

    Bị cáo bị áp dụng biện pháp tạm giữ, tạm giam từ ngày 14/10/2024 đến nay (Có mặt).

  2. Nguyễn Thương H

    , sinh năm 1988 tại Đồng Nai.

    Nơi cư trú: Ấp N, xã P, huyện T, tỉnh Đồng Nai.

    Nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hóa: 08/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Thiên chúa; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Văn T, sinh năm 1962 và bà Đinh Kim V, sinh năm 1963; vợ: Nguyễn Thị H1 (đã ly hôn), con: Có 02, lớn sinh năm 2013 và nhỏ sinh năm 2019.

    Tiền án, tiền sự: không.

    Nhân thân: Ngày 27/02/2023, tại Quyết định số 11/QĐ-XPHC, Nguyễn Thương H bị Công an xã P, huyện T, tỉnh Đồng Nai xử phạt vi phạm hành chính số tiền 1.500.000 đồng về hành vi sử dụng trái phép chất ma túy. Chấp hành việc đóng phạt vào ngày 03/3/2023.

    Bị cáo bị áp dụng biện pháp tạm giữ, tạm giam từ ngày 15/10/2024 đến nay (Có mặt).

  3. Nguyễn Đức H2

    , sinh năm 1993 tại Đồng Nai.

    Nơi cư trú: Ấp N, xã P, huyện T, tỉnh Đồng Nai.

    Nghề nghiệp: Làm rẫy; trình độ văn hóa: 9/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Thiên chúa; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Đức H3, sinh năm 1969 và bà Vũ Thị K1, sinh năm 1973; Vợ, con: Không;

    Tiền án, tiền sự: không.

    Bị cáo bị áp dụng biện pháp tạm giữ, tạm giam từ ngày 14/10/2024 đến nay (Có mặt).

Người làm chứng:

Bà Nguyễn Thị Thu H4, sinh năm 1970 (Vắng mặt).

Địa chỉ: Ấp N, xã P, huyện T, tỉnh Đồng Nai

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Nguyễn Thương H sinh năm 1988, ngụ ấp N, xã P; Nguyễn Thái Đ sinh năm 1988, ngụ ấp N, xã P; Nguyễn Đức Hậu sinh năm 1993 ngụ ấp N, xã P đều là người nghiện ma túy và là bạn bè quen biết với nhau.

Vào khoảng 11 giờ sáng ngày 14/10/2024, Nguyễn Thương H, Nguyễn Thái Đ, Nguyễn Đức H2 rủ nhau đến quán C1 thuộc ấp N, xã P, huyện T, tỉnh Đồng Nai để chơi. Do đều là người nghiên nên H, Đ, H2 rủ nhau sử dụng ma túy, H và Đ không có tiền nên H2 bỏ ra 200.000 đồng để mua ma túy, Đ nói ở nhà có bộ dụng cụ sử dụng ma túy nên để Đ về nhà lấy dụng cụ. H biết chỗ mua ma túy nên H nhận tiền của H2 để đi mua ma túy về cho cả nhóm sử dụng. H2 chuyển khoản từ tài khoản Momo số 0358495594 qua tài khoản Momo của H số 0369487545, sau đó H liên hệ với một người thanh niên tên H5 (hiện chưa rõ lai lịch) để mua ma túy và được người này đồng ý bán. Sau đó Nguyễn Thương H đến chỗ H5 hẹn để lấy ma túy. H5 đưa cho H một gói ma túy được giấu một vỏ gói thuốc Sài Gòn bạc. Khi H về quán cà phê Dạ Yên T1 thì mở ra xem thấy có một gói ni lông trong suốt được hàn kính kích thước khoảng 2x2.5 cm bên trong có ma túy, H đưa gói ma túy này cho H2, lúc này tại quán có 03 người gồm H, H2, Đ. Khi H đem ma túy về thì Đ đã đem bộ dụng cụ sử dụng ma túy gồm 01 bình nhựa màu trắng có nắp màu đỏ trên có 02 lỗ được gắn 01 ống hút màu vàng và 01 nỏ thủy tinh màu trắng lên sẵn. H2 lấy gói ma túy của H đem về dùng kéo cắt 01 đầu đổ ma túy vào nó thủy tinh và bật lửa đốt nóng. Sau khi đốt nóng ma túy thì H2 là người hút đầu tiên rồi để bộ dụng cụ có chứa ma túy ra giữa bàn. H là người đến sử dụng ma túy tiếp theo, sau khi H sử dụng xong thì Đ là người đến sử dụng ma túy.

H, Đ, H2, mỗi người sử dụng được 3 lần thì hết ma túy, sau đó H2 gỡ nó thủy tinh, ống hút, quẹt, bình nhựa và bỏ vào giỏ màu đen của Đ đang để ở sát tường lúc này Công an xã P đến kiểm tra. Nguyễn Thương H đã bỏ chạy trốn về nhà đến ngày 15/10/2024 thì bị Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện T bắt giữ. Tại Cơ quan điều tra, các bị can thành khẩn khai báo, thừa nhận hành vi phạm tội của mình như đã nêu trên.

Tiến hành xét nghiệm nước tiểu của Nguyễn Thương H, Nguyễn Thái Đ, Nguyễn Đức H2 tại Trạm Y tế xã P vào hồi 18 giờ 15 phút ngày 14/10/2024 đối với Nguyễn Thái Đ, Nguyễn Đức H2 và hồi giờ 10 giờ ngày 15/10/2024 đối với Nguyễn Thương H thì xác định được cả 03 bị cáo đều cho kết quả dương tính với chất ma túy loại Methamphetamine.

Tang vật thu giữ:

  • - 01 phong bì đã được niêm phong số 2075/KL-PC09 có dấu tròn đó của Phòng K2 Công an tỉnh Đ, 01 bộ dụng cụ sử dụng ma túy gồm: 01 bình nhựa màu trắng có nắp đỏ trên có 02 lỗ được gắn 01 ống hút màu vàng và 01 nó thủy tinh màu trắng bên trong có dính chất cặn màu trắng. 01 nó thủy tỉnh bị vỡ bên trong có dính chất rắn màu trắng. 01 cái kéo bằng kim loại. 01 điện thoại di động nhãn hiệu OPPO màu đỏ của Nguyễn Đức H2; 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 6s màu hồng của Nguyễn Thương H, là công cụ, phương tiện thực hiện tội phạm,
  • - Những đồ vật, tài liệu khác gồm: 01 điện thoại di động nhãn hiệu Redmi màu xanh của Nguyễn Thái Đ, 01 xe mô tô biển số 60FK-6834 là tài sản của chị Nguyễn Minh Trúc A là vợ bị can Đ; 01 xe mô tô biển số 60P1-8460 là tài sản của chị Nguyễn Thủy Vân A1 là chị ruột bị cáo H.

Tại Bản cáo trạng số 21/CT-VKS-HS ngày 02/01/2025 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Tân Phú đã truy tố bị cáo Nguyễn Thái Đ, Nguyễn Thương H, Nguyễn Đức H2 về tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy” theo điểm b khoản 2 Điều 255 Bộ luật Hình sự.

Tại phiên tòa, sau khi phân tích các dấu hiệu phạm tội, đánh giá các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ; đặc điểm nhân thân của các bị cáo, đại diện Viện kiểm sát giữ nguyên quan điểm truy tố đối với các bị cáo và đề nghị Hội đồng xét xử tuyên bố:

Về tội danh: Các bị cáo Nguyễn Thái Đ, Nguyễn Thương H, Nguyễn Đức H2 phạm tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy”

Về mức hình phạt: Áp dụng điểm b khoản 2 Điều 255; Điều 38; điểm s khoản 1 khoản 2 Điều 51; Điều 17; Điều 58 Bộ luật Hình sự.

Đề nghị xử phạt:

  • Bị cáo Nguyễn Thương H từ 08 (tám) năm đến 08 (tám) năm 06 (sáu) tháng.
  • Bị cáo Nguyễn Thái Đ từ 07 (bảy) năm 06 (sáu) tháng đến 08 (tám) năm tù.
  • Bị cáo Nguyễn Đức H2 từ 07 (bảy) năm 06 (sáu) tháng đến 08 (tám) năm tù.

Về biện pháp tư pháp:

  • - Tịch thu tiêu hủy 01 phong bì giấy niêm phong số 2075/KL-PC09 có dấu tròn đó của Phòng K2 Công an tỉnh Đ.
  • - Tịch thu tiêu hủy 01 bộ dụng cụ sử dụng ma túy gồm: 01 bình nhựa màu trắng có nắp đỏ trên có 02 lỗ được gắn 01 ống hút màu vàng và 01 nó thủy tinh màu trắng bên trong có dính chất cặn màu trắng. 01 nó thủy tinh bị vỡ bên trong có dính chất rắn màu trắng. 01 cái kéo bằng kim loại vì đây là công cụ dùng vào mục đích sử dụng trái phép chất ma túy, không còn giá trị sử dụng.
  • - Tịch thu sung công Nhà nước: 01 điện thoại di động nhãn hiệu OPPO màu đỏ của Nguyễn Đức H2; 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 6s màu hồng của Nguyễn Thương H vì đây là phương tiện dùng vào mục đích phạm tội.
  • - 01 điện thoại di động nhãn hiệu Redmi màu xanh của Nguyễn Thái Đ, 01 xe mô tô biển số 60FK-6834 là tài sản của chị Nguyễn Minh Trúc A là vợ bị cáo Đ; 01 xe mô tô biển số 60P1-8460 là tài sản của chị Nguyễn Thủy Vân A1 là chị ruột bị cáo H, không dùng vào mục đích phạm tội nên Cơ quan điều tra đã trao trả cho các chủ sở hữu trên nên không xem xét.
  • - Đối với người thanh niên tên “H5” có hành vi bán ma túy cho Nguyễn Thái Đ, hiện nay chưa làm rõ được nhân thân, lai lịch nên không có cơ sở để xử lý.
  • - Đối với bà Nguyễn Thị Thu H4 là chủ quán cà phê Dạ Yên T1, không biết và không đồng ý việc các bị cáo sử dụng trái phép, vì vậy không xem xét xử lý về hình sự đối với bà H4.
  • - Về án phí đề nghị Hội đồng xét xử giải quyết theo pháp luật.

- Tại phiên tòa:

Các bị cáo thừa nhận toàn bộ hành vi của mình như cáo trạng truy tố là đúng, các bị cáo mong Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho các bị cáo, tạo điều kiện để các bị cáo sớm trở về với gia đình.

NHẬN ĐỊNH CỦA HỘI ĐỒNG XÉT XỬ:

Tại phiên tòa các bị cáo không đưa ra đồ vật, tài liệu, chứng cứ nào khác. Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận thấy như sau:

[1]. Vụ án không thuộc trường hợp tạm đình chỉ hoặc trả hồ sơ để điều tra bổ sung. Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện T, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Tân Phú, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, các bị cáo, người làm chứng không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

[2]. Về tội danh: Tại phiên tòa, các bị cáo đã thành khẩn khai nhận tội. Lời khai nhận tội của bị cáo phù hợp với các chứng cứ có lưu trong hồ sơ vụ án nên Hội đồng xét xử đủ cơ sở kết luận:

Vào hồi 16 giờ 30 phút ngày 14/10/2024, tại quán C1 thuộc ấp N, xã P, huyện T, tỉnh Đồng Nai, Nguyễn Thái Đ, Nguyễn Thương H, Nguyễn Đức H2 có hành vi cung cấp ma túy, dụng cụ, địa điểm để Nguyễn Thái Đ, Nguyễn Thương H, Nguyễn Đức H2 sử dụng trái phép chất ma túy loại Methamphetamine thì bị Công an xã P, huyện T phát hiện, lập biên bản bắt người quả tang và thu giữ tang vật.

Hành vi trên của các bị cáo đã phạm tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy” tội phạm và hình phạt được quy định tại điểm b khoản 2 Điều 255 Bộ luật Hình sự. Dó đó, Cáo trạng số 21/CT-VKS-HS ngày 02/01/2025 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Tân Phú, truy tố các bị cáo về tội danh và khung hình phạt như trên là đúng người, đúng tội, không oan sai cho các bị cáo.

[3]. Xét thấy, các bị cáo là người có đủ năng lực chịu trách nhiệm hình sự. Về nhận thức, các bị cáo hoàn toàn biết ma tuý là loại độc dược gây nghiện do Nhà nước độc quyền quản lý, nghiêm cấm các hoạt động sản xuất, tàng trữ, mua bán, vận chuyển, sử dụng trái phép chất ma túy. Hành vi mua ma túy tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy của các bị cáo là nguy hiểm cho xã hội. Ma túy là một loại chất độc gây ra tác hại rất lớn về nhiều mặt cho xã hội, làm ảnh hưởng đến sức khỏe của con người và cũng là nguyên nhân lan truyền căn bệnh của xã hội như HIV... Ma túy còn là nguyên nhân dẫn đến những loại tội phạm khác. Vì vậy, cần có hình phạt tương xứng với tính chất, mức độ, hậu quả hành vi các bị cáo thực hiện nhằm cải tạo, giáo dục các bị cáo trở thành công dân chấp hành nghiêm pháp luật và răn đe phòng ngừa chung cho xã hội.

[4]. Về tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và đặc điểm nhân thân của các bị cáo:

  • - Về tình tiết tăng nặng: Không có;
  • - Về tình tiết giảm nhẹ: Trong quá trình điều tra và tại phiên tòa các bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; bị cáo Đ, bị cáo H2 là người có nhân thân tốt chưa có tiền án, tiền sự; Bị cáo H, bị cáo Đ hiện nay có 02 con nhỏ; Bị cáo H2 có thời gian tham gia nghĩa vụ quân sự. Vì vậy, các bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1 và khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự;
  • Bị cáo Đ, bị cáo H2 là người có nhân thân tốt; bị cáo H là người có nhân thân xấu.

[5]. Về vai trò của các bị cáo trong vụ án: Các bị cáo phạm tội trong trường hợp đồng phạm giản đơn, đều tham gia với vai trò là người thực hành. Do đó, khi quyết định hình phạt, cần áp dụng Điều 17, Điều 58 Bộ luật Hình sự đối với các bị cáo là có căn cứ.

Từ nội dung đánh giá nêu trên, Hội đồng xét xử cân nhắc, quyết định mức án phù hợp đối với từng các bị cáo, vừa thể hiện sự nghiêm minh và sự khoan hồng của chính sách pháp luật.

[6]. Về các biện pháp tư pháp:

  • - Tịch thu tiêu hủy 01 phong bì giấy niêm phong số 2075/KL-PC09 có dấu tròn đó của Phòng K2 Công an tỉnh Đ.
  • - Tịch thu tiêu hủy 01 bộ dụng cụ sử dụng ma túy gồm: 01 bình nhựa màu trắng có nắp đỏ trên có 02 lỗ được gắn 01 ống hút màu vàng và 01 nó thủy tinh màu trắng bên trong có dính chất cặn màu trắng. 01 nó thủy tinh bị vỡ bên trong có dính chất rắn màu trắng. 01 cái kéo bằng kim loại vì đây là công cụ dùng vào mục đích sử dụng trái phép chất ma túy, không còn giá trị sử dụng.
  • - Tịch thu sung công Nhà nước: 01 điện thoại di động nhãn hiệu OPPO màu đỏ của Nguyễn Đức H2; 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 6s màu hồng của Nguyễn Thương H vì đây là phương tiện dùng vào mục đích phạm tội.

[7]. Đối với vấn đề khác:

  • - 01 điện thoại di động nhãn hiệu Redmi màu xanh của Nguyễn Thái Đ, 01 xe mô tô biển số 60FK-6834 là tài sản của chị Nguyễn Minh Trúc A là vợ bị cáo Đ; 01 xe mô tô biển số 60P1-8460 là tài sản của chị Nguyễn Thủy Vân A1 là chị ruột bị cáo H, không dùng vào mục đích phạm tội nên Cơ quan điều tra đã trao trả cho các chủ sở hữu trên nên không xem xét.
  • - Đối với người thanh niên tên “H5” có hành vi bán ma túy cho Nguyễn Thái Đ, hiện nay chưa làm rõ được nhân thân, lai lịch nên không có cơ sở để xử lý.
  • - Đối với bà Nguyễn Thị Thu H4 là chủ quán cà phê Dạ Yên T1, không biết và không đồng ý việc các bị cáo sử dụng trái phép, vì vậy không xem xét xử lý về hình sự đối với bà H4.

[8]. Về án phí: Các bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

[9]. Xét quan điểm của đại diện Viện kiểm sát về việc đánh giá tính chất mức độ, hành vi phạm tội và hình phạt của các bị cáo là phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử nên được chấp nhận.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Áp dụng: - Điểm b khoản 2 Điều 255; Điều 38; điểm s khoản 1 khoản 2 Điều 51; Điều 17; Điều 58 Bộ luật Hình sự.

- Điều 47 của Bộ luật Hình sự, các điểm a, c khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự.

- Khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự, điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/NQ-UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội.

1. Tuyên bố:

Bị cáo Nguyễn Thái Đ, Nguyễn Thương H, Nguyễn Đức H2 phạm tội: “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy”.

  • - Xử phạt: Bị cáo Nguyễn Thương H 08 (tám) năm tù. Thời hạn tù được tính từ ngày 15/10/2024.
  • - Xử phạt: Bị cáo Nguyễn Thái Đ 07 (bảy) năm 06 (sáu) tháng tù. Thời hạn tù được tính từ ngày 14/10/2024.
  • - Xử phạt: Bị cáo Nguyễn Đức H2 07 (bảy) năm 06 (sáu) tháng tù. Thời hạn tù được tính từ ngày 14/10/2024.

2. Về xử lý vật chứng:

  • - Tịch thu tiêu hủy 01 phong bì giấy niêm phong số 2075/KL-PC09 có dấu tròn đó của Phòng K2 Công an tỉnh Đ.
  • - Tịch thu tiêu hủy 01 bộ dụng cụ sử dụng ma túy gồm: 01 bình nhựa màu trắng có nắp đỏ trên có 02 lỗ được gắn 01 ống hút màu vàng và 01 nó thủy tinh màu trắng bên trong có dính chất cặn màu trắng; 01 nó thủy tinh bị vỡ bên trong có dính chất rắn màu trắng; 01 cái kéo bằng kim loại.
  • - Tịch thu sung công Nhà nước: 01 điện thoại di động nhãn hiệu OPPO màu đỏ của Nguyễn Đức H2; 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 6s màu hồng của Nguyễn Thương H

(Theo biên bản giao nhận vật chứng giữa Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện T và Chi Cục Thi hành án dân sự huyện Tân Phú ngày 02/01/2025).

3. Về án phí:

Buộc mỗi bị cáo phải nộp 200.000 đồng (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.

4. Về quyền kháng cáo:

Các bị cáo có quyền kháng cáo trong hạn 15 (mười lăm) ngày kể từ ngày tuyên án.

Nơi nhận:

  • - TAND tỉnh Đồng Nai;
  • - VKSND tỉnh Đồng Nai;
  • - VKSND huyện Tân Phú;
  • - Công an huyện Tân Phú;
  • - Chi cục THADS huyện Tân Phú;
  • - Sở tư pháp tỉnh Đồng Nai;
  • - Bị cáo;
  • - Lưu hồ sơ vụ án, án văn.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà




Nguyễn Bá Đại

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 30/2025/HS-ST ngày 18/02/2025 của Tòa án nhân dân huyện Tân Phú, tỉnh Đồng Nai về tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy (hình sự)

  • Số bản án: 30/2025/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy (Hình sự)
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 18/02/2025
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: Tòa án nhân dân huyện Tân Phú, tỉnh Đồng Nai
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Nguyễn Thái Đ và đồng phạm bị xét xử về tội "Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy"
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger