TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
Bản án số: 30/2025/HNGĐ-ST
Ngày 07-02-2025
V/v ly hôn, tranh chấp về nuôi con khi ly hôn
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Bích Thuỷ
Các Hội thẩm nhân dân:
Bà Vũ Thị Minh Nguyệt
Ông Phạm Mạnh Hùng
- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Minh Ngọc - Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Hải Phòng.
- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân thành phố Hải Phòng: Bà Đỗ Thu Hương, Kiểm sát viên.
Ngày 07 tháng 02 năm 2025 tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Hải Phòng xét xử công khai vụ án thụ lý số 360/2024/TLST-HNGĐ ngày 19 tháng 12 năm 2024 về việc “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con khi ly hôn” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 02/2025/QĐXXST-HNGĐ ngày 22 tháng 01 năm 2025, giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Chị Trần Thị D; nơi đăng ký thường trú: Số C P, phường A, Quận L, thành phố Hải Phòng; nơi ở hiện nay: Số B H, H – Cho, O – shi, Aichi 444 – 3512, Nhật Bản; vắng mặt.
- Bị đơn: Anh Nguyễn Đồng C; nơi cư trú: Số C P, phường A, Quận L, thành phố Hải Phòng; vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Tại đơn khởi kiện ngày 18/11/2024 và bản tự khai, nguyên đơn chị Trần Thị D trình bày:
Chị Trần Thị D và anh Nguyễn Đồng C kết hôn trên cơ sở tự nguyện, có đăng ký kết hôn ngày 19/5/2015 tại Ủy ban nhân dân xã T, huyện K, thành phố Hải Phòng. Quá trình chung sống, vợ chồng hoà thuận đến năm 2020 thì thường xuyên xảy ra mâu thuẫn. Nguyên nhân do vợ chồng bất đồng quan điểm, không còn hoà hợp về tình cảm. Dẫn đến vợ chồng thường xuyên cãi nhau, cuộc sống chung không hạnh phúc. Mâu thuẫn của vợ chồng đã được gia đình hai bên và tổ dân phố hoà giải nhưng không kết quả. Từ tháng 2 năm 2024 đến nay, chị D đi lao động và sinh sống tại Nhật Bản, vợ chồng sống ly thân, không còn quan tâm, trách nhiệm đến nhau. Nay, nhận thấy tình cảm vợ chồng không còn nên chị D yêu cầu ly hôn anh Nguyễn Đồng C.
Về con chung: Chị D và anh C 01 con chung là Nguyễn Bảo T sinh ngày 25/10/2015. Chị D yêu cầu được trực tiếp nuôi con, không yêu cầu giải quyết về cấp dưỡng nuôi con.
Về tài sản chung: Chị D không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Tại biên bản lấy lời khai ngày 10/01/2025 bị đơn anh Nguyễn Đồng C trình bày:
Về quan hệ hôn nhân: Về điều kiện, hoàn cảnh kết hôn, mâu thuẫn của vợ chồng như trình bày của chị D. Anh C cũng xét thấy không còn tình cảm với chị D nên đồng ý ly hôn.
Về con chung: Anh C và chị D có 01 con chung như trình bày của chị D. Hiện tại, cháu T đang do anh C trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng cùng với sự hỗ trợ của mẹ đẻ chị D là bà Nguyễn Thị L. Do chị D hiện nay đang ở nước ngoài, không đủ điều kiện trực tiếp chăm sóc cháu T, nên anh C yêu cầu được trực tiếp nuôi con sau khi ly hôn.
Về tài sản chung: Anh C không yêu cầu Toà án giải quyết.
Tại phiên tòa, Kiểm sát viên có ý kiến như sau:
Việc tuân theo pháp luật tố tụng của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa và của các đương sự trong quá trình giải quyết vụ án kể từ khi thụ lý đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án thực hiện đúng quy định của pháp luật.
Quan điểm giải quyết vụ án: Đề nghị Hội đồng xét chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn: Về quan hệ hôn nhân: Cho chị D ly hôn anh C. Về con chung: Giao cháu Nguyễn Bảo T sinh ngày 25/10/2015 cho anh C trực tiếp nuôi dưỡng cho đến khi con chung đủ 18 tuổi, hoặc có sự thay đổi khác theo quy định của pháp luật. Về cấp dưỡng nuôi con và tài sản chung: Chị D và anh C không yêu cầu giải quyết nên không xem xét. Về án phí: Chị D phải chịu án phí dân sự sơ thẩm theo quy định.
NHẬN ĐỊNH CỦA TOÀ ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã thẩm tra tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:
- Về tố tụng:
[1] Về thẩm quyền: Quan hệ tranh chấp của vụ án về việc ly hôn, tranh chấp về nuôi con khi ly hôn là tranh chấp về hôn nhân và gia đình thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án, theo quy định tại khoản 1 Điều 28 của Bộ luật Tố tụng dân sự. Nguyên đơn hiện đang ở Nhật Bản; bị đơn đang cư trú tại Hải Phòng. Căn cứ khoản 3 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 37, điểm d khoản 1 Điều 469 của Bộ luật Tố tụng dân sự thì vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân thành phố Hải Phòng.
[2] Tại phiên tòa, nguyên đơn và bị đơn vắng mặt, có đơn đề nghị xét xử vắng mặt. Do đó, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt các đương sự theo quy định tại khoản 1 Điều 228 và khoản 1 Điều 238 của Bộ luật Tố tụng dân sự.
- Về yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn:
[3] Về quan hệ hôn nhân: Chị Trần Thị D và anh Nguyễn Đồng C kết hôn trên cơ sở tự nguyện, tuân theo các quy định của Luật Hôn nhân và Gia đình, nên là hôn nhân hợp pháp. Chị D và anh C đều xác nhận vợ chồng phát sinh mâu thuẫn từ năm 2020, do bất đồng quan điểm, tính cách, lối sống không phù hợp. Từ tháng 2/2024 đến nay, vợ chồng sống ly thân, không còn quan tâm trách nhiệm, không còn tình cảm vợ chồng. Chị D yêu cầu ly hôn, anh C đồng ý. Xét hôn nhân của chị D và anh C đã lâm vào tình trạng trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được, nên căn cứ khoản 1 Điều 51, khoản 1 Điều 56 của Luật Hôn nhân và Gia đình, cần chấp nhận yêu cầu ly hôn của chị D.
[4] Về con chung: Chị D và anh C 01 con chung là Nguyễn Bảo T sinh ngày 25/10/2015. Hiện con chung đang do anh C trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng. Xét chị D đang ở nước ngoài, không có điều kiện trực tiếp chăm sóc, giáo dục con. Vì vậy, mặc dù cháu T có nguyện vọng ở với mẹ nhưng căn cứ khoản 2 Điều 81 của Luật Hôn nhân và Gia đình, cần chấp nhận yêu cầu của anh C, giao con chung cho anh C trực tiếp nuôi dưỡng. Về cấp dưỡng nuôi con, anh C không yêu cầu giải quyết nên không xét.
[5] Về tài sản chung: Chị D và anh C không yêu cầu giải quyết nên không xét.
[6] Về án phí dân sự sơ thẩm: Chị D phải chịu án phí dân sự sơ thẩm theo quy định.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ khoản 1 Điều 28; khoản 3 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 37, điểm a khoản 1 Điều 39, khoản 4 Điều 147, khoản 1 Điều 228, khoản 1 Điều 238, các điều 273, 469, 479 của Bộ luật Tố tụng dân sự;
Căn cứ khoản 1 Điều 51, khoản 1 Điều 56, các điều 58, 81, 82 và 83 của Luật Hôn nhân và Gia đình.
Căn cứ điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Xử: Chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của chị Trần Thị Diệu .
- Về quan hệ hôn nhân: Chị Trần Thị D được ly hôn anh Nguyễn Đồng C.
- Về con chung: Giao con chung là Nguyễn Bảo T sinh ngày 25/10/2015 cho anh Nguyễn Đồng C trực tiếp nuôi dưỡng, cho đến khi con đủ 18 tuổi hoặc có sự thay đổi khác theo quy định của pháp luật.
Sau khi ly hôn, người không trực tiếp nuôi con có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở.
- Về cấp dưỡng nuôi con, về tài sản chung: Hội đồng xét xử không giải quyết.
- Về án phí dân sự sơ thẩm: Chị Trần Thị Diệu P chịu 300.000 đồng (ba trăm nghìn đồng) án phí dân sự sơ thẩm, được trừ vào số tiền tạm ứng án phí 300.000 đồng (ba trăm nghìn đồng) đã nộp, theo Biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0000959 ngày 19/12/2024 của Cục Thi hành án dân sự thành phố Hải Phòng.
- Về quyền kháng cáo:
Anh Nguyễn Đồng C có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 (mười lăm) ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết.
Chị Trần Thị D có quyền kháng cáo trong thời hạn 01 (một) tháng kể từ ngày bản án được tống đạt hợp lệ hoặc niêm yết hợp lệ.
Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, 7, 7a và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự./.
Nơi nhận:
| T.M HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN-CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Thị Bích Thuỷ |
Bản án số 30/2025/HNGĐ-ST ngày 07/02/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG về ly hôn, tranh chấp về nuôi con khi ly hôn
- Số bản án: 30/2025/HNGĐ-ST
- Quan hệ pháp luật: ly hôn, tranh chấp về nuôi con khi ly hôn
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 07/02/2025
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn
