Hệ thống pháp luật

TOÀ ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN TÂY SƠN

TỈNH BÌNH ĐỊNH

CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 302/2024/HNGĐ-ST

Ngày: 10-12-2024

V/v Ly hôn, nuôi con, tranh

chấp chia tài sản chung.

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TÂY SƠN, TỈNH BÌNH ĐỊNH

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Lê Thị Minh Trí.

Các Hội thẩm nhân dân:

Ông Đặng Văn Trị

Ông Bùi Đức Thuận

- Thư ký phiên tòa: Bà Phạm Thị Hưởng – Thư ký Tòa án nhân dân huyện Tây Sơn, tỉnh Bình Định.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Tây Sơn tham gia phiên tòa: Bà Dương Tấn Phát – Kiểm sát viên.

Ngày 10 tháng 12 năm 2024, tại trụ sở Toà án nhân dân huyện Tây Sơn, tỉnh Bình Định xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 93/2024/TLST-HNGĐ ngày 10 tháng 5 năm 2024 về việc “Ly hôn, nuôi con, tranh chấp chia tài sản chung" theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 01/2024/QĐST-HNGĐ ngày 01 tháng 10 năm 2024; Quyết định hoãn phiên tòa số 02/2024/QÐST-HNGĐ ngày 21 tháng 11 năm 2024, giữa các đương sự:

Nguyên đơn: Ông Huỳnh Khoa H, sinh năm 1979.

Địa chỉ: K, thị trấn P, huyện T, tỉnh Bình Định (Có mặt).

Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của ông Huỳnh Khoa H: Luật sư Hồ K – Văn phòng L thuộc Đoàn Luật sư tỉnh B.

Địa chỉ: B N, phường N, thành phố Q, tỉnh Bình Định (Có mặt).

Bị đơn: Bà Nguyễn Thị Minh T, sinh năm 1985.

Địa chỉ: Đ, thôn P, xã T, huyện T, tỉnh Bình Định (Vắng mặt).

Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của bà Nguyễn Thị Minh T: Luật sư Bùi Văn P – Công ty L1 thuộc Đoàn Luật sư tỉnh B.

Địa chỉ: F N, phường Q, thành phố Q, tỉnh Bình Định (Có mặt).

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Ngân hàng TMCP P1 (H2) – Chi nhánh B – P2.

Đại diện ngân hàng Ông Trương Nguyễn Hoàng V – Trưởng đơn vị H2.

Địa chỉ: Số B N, thị trấn P, huyện T, tỉnh Bình Định. (Có đơn xin vắng mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Trong đơn khởi kiện, bản tự khai, các lời khai trong quá trình giải quyết vụ án, tại phiên tòa nguyên đơn ông Huỳnh Khoa H trình bày:

- Về quan hệ hôn nhân: Vợ chồng ông bà quen biết nhau, do tìm hiểu và tự nguyện đến với nhau. Được gia đình hai bên chấp nhận nên tiến hành tổ chức lễ cưới theo phong tục tập quán. Vợ chồng có đăng ký kết hôn tại UBND thị trấn P vào ngày 18/3/2011. Sau khi cưới, vợ chồng chung sống hạnh phúc cho đến năm 2023 bắt đầu xảy ra mâu thuẫn. Nguyên nhân: vợ chồng không có có tiếng nói chung, bất đồng quan điểm sống, thường xuyên kình cãi với nhau. Ngày 05/6/2023 bà T có quan hệ bất chính với người khác. Nay tình cảm vợ chồng không còn thương yêu nhau nữa, đời sống chung không thể kéo dài, mâu thuẫn đã trầm trọng, không hàn gắn được. Vợ chồng thực sự cắt đứt quan hệ, phần ai nấy sống không còn quan tâm đến nhau từ tháng 6/2023 cho đến nay nên ông yêu cầu ly hôn với bà Nguyễn Thị Minh T.

- Về con chung: Vợ chồng có 02 con chung tên: Huỳnh Bảo T1, giới tính: Nữ, sinh ngày 27/9/2011 và Huỳnh Bảo H1, giới tính: Nam, sinh ngày 27/4/2013. Hiện nay 02 con chung T1 và H1 đang sống với ông. Khi ly hôn, ông yêu cầu được tiếp tục nuôi 02 con chung đến tuổi trưởng thành. Ông yêu cầu bà T cấp dưỡng nuôi con mỗi tháng 4.000.000 đồng cho 02 con chung.

- Về tài sản chung: Vợ chồng có 01 sổ tiết kiệm gửi tại Ngân hàng H2 – Chi nhánh huyện T, tỉnh Bình Định số tiền 1.000.000.000 đồng (Một tỉ đồng) gửi ngày 09/12/2021, chủ tài khoản là bà Nguyễn Thị Minh T. Nguồn gốc số tiền trên là do vợ chồng cùng nhau làm ăn mua bán cà phê, tích luỹ qua từng năm mà có. Số tiền gửi tiết kiệm ngân hàng H2 ngày 09/12/2021 một mình bà T đi gửi. Trước đó vợ chồng cũng đã gửi tiết kiệm ngân hàng H2 nhiều lần.

Khi ly hôn, ông yêu cầu mỗi người được nhận ½ số tiền gửi tiết kiệm và tiền lãi phát sinh từ số tiền trên. Ngoài ra không yêu cầu gì khác.

- Về nợ chung của vợ chồng: Ông không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Trong bản tự khai và các lời khai trong quá trình giải quyết vụ án bị đơn bà Nguyễn Thị Minh T trình bày:

- Về quan hệ vợ chồng: Vợ chồng quen biết nhau, do tìm hiểu và tự nguyện đến với nhau. Được gia đình hai bên chấp nhận nên tiến hành tổ chức lễ cưới theo phong tục tập quán. Vợ chồng có đăng ký kết hôn tại UBND thị trấn P vào ngày 18/3/2011 Sau khi cưới, vợ chồng chung sống hạnh phúc cho đến năm 2022 bắt đầu xảy ra mâu thuẫn. Nguyên nhân: vợ chồng không có có tiếng nói chung, bất đồng quan điểm sống, thường xuyên kình cãi với nhau, ông H thường xuyên dùng tay chân đánh đập bà nhiều lần, xúc phạm đến danh dự, nhân phẩm danh dự của gia đình bà. Vợ chồng đã sống ly thân từ năm 2023 cho đến nay, nay ông H yêu cầu ly hôn thì bà cũng đồng ý.

- Về con chung: Vợ chồng có 02 con chung tên: Huỳnh Bảo T1, giới tính: Nữ, sinh ngày 27/9/2011 và Huỳnh Bảo H1, giới tính: Nam, sinh ngày 27/4/2013.

Trong thời gian sống ly thân, bà trực tiếp chăm sóc nuôi dưỡng 02 con chung tại nhà cha mẹ ruột ở đội C, thôn P, xã T, huyện T, tỉnh Bình Định. Tuy nhiên, ông H có dùng lời lẽ hăm hoạ và bắt chở con về nhà ông H. Hiện nay 02 con chung T1 và H1 đang sống với ông H. Khi ly hôn, bà yêu cầu được nuôi 02 con chung đến trưởng thành. Bà không yêu cầu ông H cấp dưỡng nuôi con chung.

- Về tài sản chung: Đối với số tiền 1.000.000.000 đồng gửi tiết kiệm Ngân hàng H2 vào ngày 09/12/2021 mà ngân hàng cung cấp đứng tên chủ tài khoản là bà (Nguyễn Thị Minh T) không phải là tiền của vợ chồng mà số tiền này là của người khác nhờ bà gửi và đứng tên hộ nên bà không đồng ý số tiền trên là tài sản chung của vợ chồng và không đồng ý chia.

Vợ chồng có tài sản chung là nhà và đất ở do ông H đang trực tiếp quản lý sử dụng nhưng bà không yêu cầu giải quyết trong vụ án này.

Tại bản tự khai, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan Ngân hàng TMCP P1 (H2) – Chi nhánh B – P2. Đại diện ngân hàng ông Trương Nguyễn Hoàng V – Trưởng đơn vị H2 trình bày:

- Ngày 09/12/2021 bà Nguyễn Thị Minh T có gửi tiết kiệm vào tài khoản ngân hàng H2 – Chi nhánh B – P2 số tiền 1.000.000.000 đồng (Một tỉ đồng). Số tiết kiệm trên đã đáo hạn lại vào ngày 09/12/2022.

- Ngày 09/12/2022 bà Nguyễn Thị Minh T rút lãi sổ tiết kiệm số tiền 59.000.000 đồng (Năm mươi chín triệu đồng).

- Ngày 20/12/2022 bà Nguyễn Thị Minh T rút một phần gốc và lãi số tiền: 100.018.500 đồng (Một trăm triệu không trăm mười tám nghìn năm trăm đồng).

- Ngày 27/12/2022, bà Nguyễn Thị Minh T rút phần gốc số tiền: 100.029.000 đồng (Một trăm triệu không trăm hai mươi chín nghìn đồng)

- Ngày 20/6/2023, bà Nguyễn Thị Minh T tất toán sổ tiết kiệm nêu trên và rút toàn bộ gốc, lãi số tiền: 802.110.000 đồng (T2 trăm lẻ hai triệu một trăm mười nghìn đồng.

Tổng cộng cả gốc lẫn lãi: 1.061.157.500 đồng.

Ngoài ra không còn khoản tiền gửi nào khác.

* Luật sư bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho nguyên đơn ông Huỳnh Khoa H có phát biểu quan điểm pháp lý về việc giải quyết vụ án đề nghị:

  • - Về quan hệ hôn nhân: Công nhận sự thuận tình ly hôn giữa ông Huỳnh Khoa H và bà Nguyễn Thị Minh T.
  • - Về con chung: Giao hai cháu Huỳnh Bảo T1 và Huỳnh Bảo H1 cho ông Huỳnh Khoa H trực tiếp nuôi dưỡng. Bà T phải có nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi hai con theo quy định của pháp luật.
  • - Về tài sản chung: Ông Huỳnh Khoa H không yêu cầu chia tài sản chung của vợ chồng.

* Luật sư bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho bị đơn bà Nguyễn Thị Minh T có phát biểu quan điểm pháp lý về việc giải quyết vụ án đề nghị:

  • - Về quan hệ hôn nhân: Công nhận sự thuận tình ly hôn giữa ông Huỳnh Khoa H và bà Nguyễn Thị Minh T.
  • - Về con chung: Giao hai cháu Huỳnh Bảo T1 và Huỳnh Bảo H1 cho bà Nguyễn Thị Minh T được trực tiếp nuôi dưỡng. Ông H không phải cấp dưỡng nuôi con vì bà T không yêu cầu.
  • - Về tài sản chung: Không yêu cầu.

Kiểm sát viên tham gia phiên tòa phát biểu: Trong quá trình tố tụng, người tiến hành tố tụng và người tham gia tố tụng thực hiện đúng quy định của pháp luật tố tụng. Bị đơn bà Nguyễn Thị Minh T đã được Toà án tống đạt hợp lệ mà vẫn vắng mặt tại phiên toà không có lý do. Căn cứ điểm b khoản 1 Điều 238, 227, 228 của Bộ luật tố tụng Dân sự xét xử vắng mặt bà T.

Về nội dung giải quyết vụ án: Căn cứ vào Điều 55 và 81, 82, 83, 84 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014. Công nhận sự thuận tình ly hôn giữa ông Huỳnh Khoa H và bà Nguyễn Thị Minh T; Về con chung: Giao 02 con chung tên Huỳnh Bảo T1, giới tính: Nữ, sinh ngày 27/9/2011 và Huỳnh Bảo H1, giới tính: Nam, sinh ngày 27/4/2013 cho ông H trực tiếp nuôi dưỡng. Bà T có nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con chung Huỳnh Bảo T1 và Huỳnh Bảo H1 mỗi tháng mỗi cháu 1.625.000 đồng cho đến khi hai cháu đủ 18 tuổi; Về tài sản chung: Tại phiên tòa ông H rút yêu cầu chia tài sản chung của vợ chồng nên không xét; Về án phí hôn nhân gia đình, án phí cấp dưỡng nuôi con đương sự phải chịu theo quy định của pháp luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, ý kiến phát biểu của Kiểm sát viên tham gia phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

[1] Về tố tụng: Ông Huỳnh Khoa H khởi kiện yêu cầu ly hôn với bà Nguyễn Thị Minh T, Tòa án thụ lý giải quyết là đúng thẩm quyền theo quy định tại khoản 1 Điều 28 Bộ luật Tố tụng dân sự.

[1.1] Về sự vắng mặt của bị đơn bà Nguyễn Thị Minh T đã được triệu tập hợp lệ lần thứ hai mà vẫn vắng mặt, nên theo quy định tại Điều 277, 228 và điểm b khoản 1 Điều 238 Bộ luật Tố tụng dân sự 2015 thì Hội đồng vẫn tiến hành xét xử.

[1.2] Tại phiên tòa, nguyên đơn ông Huỳnh Khoa H rút một phần yêu cầu khởi kiện đối với yêu cầu chia tài sản chung của vợ chồng là số tiền 1.000.000.000 đồng gửi tiết kiệm Ngân hàng H2 vào ngày 09/12/2021 mà ngân hàng cung cấp đứng tên chủ tài khoản là bà (Nguyễn Thị Minh T). Xét thấy, ý kiến của nguyên đơn là hoàn toàn tự nguyện, không trái quy định của pháp luật nên HĐXX áp dụng Điều 244 Bộ luật tố tụng dân sự chấp nhận để đình chỉ đối với yêu cầu trên.

[2] Về quan hệ hôn nhân: Ông Huỳnh Khoa H và bà Nguyễn Thị Minh T kết hôn vào ngày 18/3/2011 trên cơ sở tự nguyện, có đăng ký chứng nhận kết hôn tại UBND thị trấn P, huyện T, tỉnh Bình Định nên hôn nhân của ông bà là hợp pháp. Sau kết hôn vợ chồng sống tại nhà cha mẹ ông H ở khối A, thị trấn P, huyện T, tỉnh Bình Định, thời gian đầu vợ chồng sống hạnh phúc cho đến tháng 6/2023 bắt đầu xảy ra mâu thuẫn. Nguyên nhân: vợ chồng không có có tiếng nói chung, bất đồng quan điểm sống, thường xuyên xảy ra tranh cãi, tình cảm phai nhạt dần nên hôn nhân lâm vào tình trạng trầm trọng. Vợ chồng thực sự cắt đứt quan hệ, phần ai nấy sống không còn quan tâm đến nhau từ đó bà T bỏ nhà đi làm ăn xa cho đến nay, do đó ông H yêu cầu được ly hôn bà T, bà T cũng đồng ý ly hôn ông H. Xét thấy mâu thuẫn của vợ chồng ông H và bà T không thể nào chung sống với nhau được, cả hai không có thiện chí hàn gắn, việc ông H và bà T thuận tình ly hôn là hoàn toàn tự nguyện, không vi phạm điều cấm của pháp luật, không trái đạo đức xã hội, phù hợp với Điều 55 Luật Hôn nhân và gia đình nên HĐXX công nhận sự thuận tình ly hôn giữa ông H và bà T.

[3] Về con chung:

Ông H và bà T có 02 con chung tên: Huỳnh Bảo T1, giới tính: Nữ, sinh ngày 27/9/2011 và Huỳnh Bảo H1, giới tính: Nam, sinh ngày 27/4/2013, sức khỏe các cháu bình thường, hiện hai cháu T1, H1 đang ở với ông H. Ly hôn ông H và bà T đều có yêu cầu được nuôi con, ông H yêu cầu bà T phải cấp dưỡng nuôi con mỗi cháu mỗi tháng 2.000.000 đồng, tại phiên tòa hôm nay ông H đồng ý mức cấp dưỡng nuôi con theo quy định của pháp luật. Bà T không yêu cầu ông H cấp dưỡng nuôi con. Nguyện vọng của hai cháu T1, H1 đều muốn ở với cha là ông H. Xét nguyện vọng của con, HĐXX nghĩ nên giao hai cháu T1, H1 cho ông H trực tiếp nuôi dưỡng là phù hợp với quy định tại Điều 81 Luật Hôn nhân và gia đình.

Về cấp dưỡng nuôi con: Theo quy định tại khoản 2 Điều 82 Luật Hôn nhân và gia đình: “Cha, mẹ không trực tiếp nuôi con có nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con”.

Về mức cấp dưỡng nuôi con: Theo quy định của Nghị định 38/2022/NĐ-CP ngày 12/6/2022 của Chính phủ và Nghị quyết 01/2024/NQ-HĐTP ngày 16/5/2024 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao. Do đó buộc bà T phải có nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi hai cháu T1 và H1 mỗi cháu mỗi tháng 1.625.000 đồng kể từ tháng 12/2024 cho đến khi hai cháu T1 và H1 đủ 18 tuổi.

[4] Về tài sản chung của vợ chồng: Ông H không yêu cầu nên không giải quyết, bà T vắng mặt tại phiên tòa, sau khi ly hôn ông H và bà T đều có quyền yêu cầu chia tài sản chung của vợ chồng bằng một vụ án khác.

[5] Về nợ chung: Ông H và bà T không yêu cầu Tòa án giải quyết nên Tòa không xét.

[6] Về án phí ly hôn sơ thẩm: Căn cứ vào khoản 4 Điều 147 của Bộ luật tố tụng dân sự; khoản 5 Điều 27 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án, thì ông H và bà T mỗi người phải chịu 150.000 đồng án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm. Ông H được trừ vào tiền tạm ứng án phí đã nộp 5.000.000 đồng nên hoàn trả cho ông H số tiền 4.850.000 đồng đã nộp theo biên lai số 0003631 ngày 07/5/2024 của Chi cục thi hành án dân sự huyện Tây Sơn.

Về án phí cấp dưỡng nuôi con bà T phải chịu 300.000 đồng.

[7] Luật sư bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho nguyên đơn ông Huỳnh Khoa H có phát biểu quan điểm pháp lý đề nghị phù hợp với nhận định của HĐXX nên được chấp nhận. Luật sư bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho bị đơn bà Nguyễn Thị Minh T có phát biểu quan điểm pháp lý đề nghị chỉ phù hợp 01 phần với nhận định của HĐXX nên được chấp nhận một phần.

[8] Kiểm sát viên tham gia phiên tòa phát biểu quan điểm giải quyết vụ án là phù hợp nhận định của Hội đồng xét xử, nên được chấp nhận.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào các Điều 28, khoản 1 Điều 35, Điều 39, Điều 147, Điều 227, 228, điểm b khoản 1 Điều 238 và Điều 244, 273 của Bộ luật tố tụng Dân sự năm 2015;

Căn cứ Điều 55, 81, 82, 83 và 84, 110 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014;

Căn cứ khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Tuyên xử:

  1. Đình chỉ xét xử đối với yêu cầu chia tài sản chung của ông Huỳnh Khoa H đối với số tiền 1.000.000.000 đồng gửi tiết kiệm Ngân hàng H2 vào ngày 09/12/2021 đứng tên chủ tài khoản bà Nguyễn Thị Minh T.
  2. Về quan hệ hôn nhân: Công nhận sự thuận tình ly hôn giữa ông Huỳnh Khoa H và bà Nguyễn Thị Minh T.
  3. Về con chung: Giao hai cháu Huỳnh Bảo T1, (Giới tính: Nữ), sinh ngày 27/9/2011 và Huỳnh Bảo H1, (Giới tính: Nam), sinh ngày 27/4/2013 cho ông Huỳnh Khoa H trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng.

Về cấp dưỡng nuôi con: Bà T có nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con chung cho hai cháu Huỳnh Bảo T1 và Huỳnh Bảo H1 mỗi cháu mỗi tháng 1.625.000 (Một triệu sáu trăm hai mươi lăm nghìn) đồng kể từ tháng 12/2024 cho đến khi hai cháu T1 và H1 đủ 18 tuổi.

Người không trực tiếp nuôi con có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở, nhưng nếu lạm dụng việc thăm nom con để cản trở hoặc gây ảnh hưởng xấu đến việc nuôi con thì người trực tiếp nuôi con có quyền yêu cầu Tòa án hạn chế quyền thăm nom của người đó.

Vì lợi ích của con, các bên có quyền yêu cầu thay đổi người trực tiếp nuôi con và việc cấp dưỡng nuôi con theo quy định của pháp luật.

  1. Về tài sản chung: Ông H và bà T không yêu cầu nên không giải quyết.
  2. Về nợ chung: Ông H và bà T không yêu cầu nên không giải quyết.
  3. Về án phí:

6.1. Án phí hôn nhân sơ thẩm: Ông Huỳnh Khoa H và bà Nguyễn Thị Minh T mỗi người phải chịu 150.000 (Một trăm năm mươi nghìn) đồng. Ông H được trừ vào tiền tạm ứng án phí đã nộp 5.000.000 (Năm triệu) đồng nên hoàn trả cho ông H số tiền 4.850.000 đồng đã nộp theo biên lai số 0003631 ngày 07/5/2024 của Chi cục thi hành án dân sự huyện Tây Sơn.

6.2. Án phí cấp dưỡng nuôi con bà T phải chịu 300.000 (Ba trăm nghìn) đồng.

  1. Về quyền kháng cáo: Nguyên đơn có mặt có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án. Bị đơn vắng mặt tại phiên tòa nên có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày, kể từ ngày bản án được giao nhận hoặc được niêm yết theo quy định.

Trường hợp Bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự./.

Nơi nhận:

  • - TAND tỉnh Bình Định;
  • - VKSND huyện Tây Sơn;
  • - Chi cục THA dân sự huyện Tây Sơn;
  • - UBND TT. Phú Phong;
  • - Các đương sự;
  • - Lưu hồ sơ vụ án;

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TOÀ

(Đã ký)

Lê Thị Minh Trí

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 302/2024/HNGĐ-ST ngày 10/12/2024 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TÂY SƠN, TỈNH BÌNH ĐỊNH về ly hôn, nuôi con, tranh chấp chia tài sản chung

  • Số bản án: 302/2024/HNGĐ-ST
  • Quan hệ pháp luật: Ly hôn, nuôi con, tranh chấp chia tài sản chung
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 10/12/2024
  • Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
  • Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TÂY SƠN, TỈNH BÌNH ĐỊNH
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Ông H xin ly hôn bà T vì bà Thơ ngoại tình
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger