Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN P

TỈNH T

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập-Tự do-Hạnh phúc

Bản án số: 30/2024/HS-ST

Ngày: 20-11-2024

 

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN P, TỈNH T

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán- Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Thúy Hồng.

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Lê Hồng Tâm, bà Mai Thị Toán.

- Thư ký phiên tòa: Bà Ngô Linh Hương Giang - Thư ký Tòa án nhân dân huyện P, tỉnh T.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện P, tỉnh T tham gia phiên tòa: Ông Lê Văn Hải - Kiểm sát viên.

Ngày 20/11/2024, tại Phòng xét xử - trụ sở Toà án nhân dân huyện P, tỉnh Tế xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 25/2024/TLST-HS ngày 02/10/2024, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 25/2024/QĐXXST-HS ngày 05/11/2024, đối với các bị cáo:

1. Nguyễn Trường G (Tên gọi khác: Không); Sinh ngày: 11/6/2005 tại Thừa Thiên Huế; Số CCCD: [...] cấp ngày 25/01/2022; Nơi cấp: Cục C2 về TTXH- Bộ C3; Nơi cư trú: Thôn A, xã P, huyện P, tỉnh T; Nghề nghiệp: Không; Trình độ văn hoá: 09/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông: Nguyễn Đ và bà Huỳnh Thị M (đã mất); Vợ, con: Chưa có.

Tiền án: Không.

Tiều sự: 01. Ngày 18/01/2021: Trồng cây cần sa trái phép, bị Công an xã P, huyện P, tỉnh T xử phạt hành chính bằng hình thức cảnh cáo theo Quyết định số 4306/QĐ ngày 28/01/2021.

Bị cáo bị bắt tạm giữ từ ngày 02/5/2024, chuyển tạm giam từ ngày 8/5/2024, có mặt.

2. Dương Đăng N (Tên gọi khác: Không); sinh ngày: 26/3/2006 tại Thừa Thiên Huế; Số CCCD: [...] cấp ngày 07/3/2024; Nơi cấp: Cục C2 về TTXH- Bộ C3; Nơi cư trú: TDP T, phường T, thành phố H, tỉnh T; Nghề nghiệp: Không; Trình độ văn hoá: 07/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông: Dương Trọng C và bà Hà Thị S; Vợ, con: Chưa có.

Tiền án, tiền sự: Không.

Bị cáo bị bắt tạm giữ từ ngày 02/5/2024, chuyển tạm giam từ ngày 8/5/2024, có mặt.

Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan:

  • + Anh Trương Viết H T; sinh ngày: 02/01/2005; Địa chỉ: TDP H, phường T, thành phố H, tỉnh T, vắng mặt.
  • + Anh Nguyễn Thanh T; sinh ngày: 04/12/2004; Địa chỉ: Kiệt H, Thôn A, xã P, huyện P, tỉnh T, có mặt.
  • + Anh Ngô Trương Đức K; sinh ngày: 26/10/2008; Địa chỉ: Thôn A, xã P, huyện P, tỉnh T, vắng mặt.
  • + Ông Dương Trọng C1, sinh năm: 1972; Địa chỉ: TDP T, phường T, thành phố H, tỉnh T, có mặt.
  • + Ông Nguyễn Đ1; sinh năm: 1970; Địa chỉ: thôn A, xã P, huyện P, tỉnh T, vắng mặt.
  • + Bà Nguyễn Thị T1, sinh năm: 1990; Địa chỉ:thôn A, xã P, huyện P, tỉnh T, vắng mặt.

Người đại diện hợp pháp của người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan anh Ngô Trương Đức K1: Bà Nguyễn Thị G1, sinh năm: 1981; Địa chỉ: thôn A, xã P, huyện P, tỉnh T, có mặt.

Người chứng kiến:

  • + Ông Trương Viết P, sinh năm: 1997; Địa chỉ: thôn A, xã P, huyện P, tỉnh T, vắng mặt.
  • + Ông Đào Tấn P1, sinh năm: 1995; Địa chỉ: thôn A, xã P, huyện P, tỉnh T, vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên toà, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Do muốn sử dụng ma túy cần sa và bán lại cho người khác để lấy tiền tiêu xài nên khoảng 13 giờ 30 phút ngày 26/04/2024, Nguyễn Trường G2, sinh ngày 11/06/2005 có liên lạc với một người không rõ nhân thân lai lịch có tên tài khoản T2 là "Bee", để mua 70gam ma túy cần sa với giá: 1.628.000 đồng (gồm 1.600.000 đồng tiền ma túy cần sa và 28.000 đồng tiền phí vận chuyển). Đến khoảng 12 giờ 30 phút ngày 29/04/2024, có một người thanh niên giao hàng đến giao 01 túi hàng, G2 đem về phòng ngủ mở ra thì bên trong có 01 túi nilong màu trắng có chứa ma túy cần sa mà G2 đã mua trước đó, G2 chia nhỏ thành các túi nhỏ khoảng 01 gam và dùng máy xay mịn cần sa để vấn thành các điếu nhỏ bán kiếm tiền lời tiêu xài cá nhân. Đến khoảng 20 giờ 00 phút cùng ngày, Nguyễn Trường G2 nhắn tin cho Trương Viết Hải T3, sinh năm: 2005 báo là đã có ma túy cần sa và hỏi T3 có nhu cầu mua ma túy cần sa thì T3 thống nhất sẽ mua 01 (một) túi ma túy cần sa với giá: 150.000 đồng. Đến khoảng 16 giờ ngày 30/04/2024, G2 điều khiển xe máy điện biển số: 75MĐS- 022.85 đến khu vục đường ra bãi biền xã P, thuộc thôn T, xã P, huyện P giao túi ma túy cần sa cho T3, sau khi T3 lấy được túi ma túy cần sa đã đưa số tiền: 150.000 đồng cho G2, sau khi mua được ma túy cần sa của G2, T3 đã sử dụng hết. Đến khoảng 16 giờ 30 phút cùng ngày, G2 tiếp tục bán cho Nguyễn Thanh T4, sinh ngày 04/12/2004, 01 (một) điếu ma túy cần sa với giá: 70.000 đồng tại khu vực bãi biển của thôn A, xã P, huyện P nhưng T4 mới chỉ đưa cho G2 số tiền: 50.000 đồng còn nợ số tiền: 20.000 đồng, sau đó T4 ngồi tại bãi biển sử dụng hết điếu ma túy cần sa này. Đến khoảng 11 giờ ngày 01/05/2024, do có thỏa thuận từ trước nên Nguyễn Trường G2 bán cho Dương Đăng N1, sinh ngày 26/03/2006, 10 (mười) điếu ma túy cần sa với giá: 250.000 đồng (nhưng chưa đưa tiền vì theo thỏa thuận sau khi N1 bán hết số ma túy thì trả tiền cho G2), G2 cất giấu số ma túy trên trong hộp dầu xanh để ở giữa đường K, thôn A, xã P, huyện P và N đã điều khiển xe mô tô biển số: 75AF-157.88 đến lấy số ma túy này. Đến khoảng 16 giờ 00 phút cùng ngày, Nguyễn Trường G2 tiếp tục bán cho Nguyễn Thanh T4, sinh ngày 04/12/2004 01 điếu ma túy cần sa tại khu vực bãi biển T, xã P, sau khi nhận được ma túy của G2, T4 đã đưa số tiền: 90.000 đồng (trong đó 70.000 đồng tiền mua ma túy còn số tiền 20.000 đồng là tiền nợ mua ma túy ngày 30/04/2024), T4 đã sử dụng hết điếu ma túy cần sa này.

Đối với Dương Đăng N1, sau khi lấy được số ma túy của G2, vào ngày 01/05/2024, N1 gọi điện thoại cho Ngô Trương Đức K1, sinh ngày: 26/10/2008, để thông báo đã có ma túy cần sa, thỏa thuận về việc mua bán cần sa 01 điếu là: 60.000 đồng, kèm theo phí vận chuyển: 10.000 đồng thì K1 đồng ý. Sau đó, N1 điều khiền xe mô tô biển số: 75AF-157.88 đến Kiệt G, thôn A, xã P, huyện P trực tiếp cho K1 01 (một) điều ma túy cần sa, K1 đưa trực tiếp cho N1 số tiền: 90.000 đồng (trong đó 70.000 đồng tiền mua ma túy còn 20.000 đồng là tiền mà K1 nợ tiền cà phê của N1 trước đó), sau đó, K1 đã sử dụng hết điều ma túy cần sa này. Sau khi bán ma túy cho K1 thì N1 đem 09 điều ma túy cần sa còn lại về cất giầu tại nhà của mình, có đem ra 01 điếu ma túy cần sa để sử dụng nhưng chưa hết nên N1 bỏ trong gói thuốc lá hiệu Saigon cất giấu trong tủ áo quần của mình. Đến khoảng 15 giờ 30 phút ngày 02/05/2024, Ngô Trương Đức K1 có nhắn tin cho Dương Đăng N1 để mua 03 điếu cần sa, thỏa thuận giá mua 03 điếu cần sa là 250.000 đồng, hẹn địa điểm giao ma túy tại Kiệt G, thôn A, xã P, huyện P đó, N1 điều khiển xe mô tô biển số: 75AF-157.88 có mang theo 08 điếu ma túy cần sa đến khu vực Kiệt G, thôn A, xã P bị cơ quan công an phát hiện bắt quả tang. Thu giữ: 01 (một) bao thuốc lá hiệu Wukong có chứa 08 (tám) điếu thuốc cuốn lại bằng giấy bên trong chứa thảo mộc khô màu xanh.

Tại Bản kết luận giám định số: 290/KL-KTHS, ngày 07/5/2024, của phòng K2 công an tỉnh T5 kết luận:

  1. Mẫu thảo mộc khô màu xanh gửi giám định có tổng khối lượng là 2,71g (hai phẩy bảy một gam), là ma túy, loại cần sa.
  2. Mẫu thảo mộc khô màu xanh gửi giám định có tổng khối lượng là 0,22g (không phẩy hai hai gam), là ma túy, loại cần sa.
  3. Mẫu thảo mộc khô màu xanh gửi giám định có tổng khối lượng là 50,81g (Năm mươi phẩy tám một gam), là ma túy, loại cần sa.
  4. Mẫu thảo mộc khô màu xanh gửi giám định có tổng khối lượng là 3,68g (Ba phẩy sáu tám gam), là ma túy, loại cần sa.
  5. Mẫu thảo mộc khô màu xanh gửi giám định có tổng khối lượng là 3,93g (Ba phẩy chín ba gam), là ma túy, loại cần sa.
  6. Mẫu thảo mộc khô màu xanh gửi giám định có tổng khối lượng là 0,40g (Không phẩy bốn mươi gam), là ma túy, loại cần sa.

* Vật chứng thu giữ :

  • - 01 (một) túi niêm phong kín bằng túi niêm phong và băng keo trong, bên ngoài có 03 (ba) chữ ký của Giám định viên Trần Nam, 03 (ba) chữ ký của Điều tra viên Võ Chiến Hữu, 03 (ba) dấu tròn đỏ của phòng K2 Công an tỉnh T5 và dòng chữ "H1 mẫu vật vụ Dương Đăng N1 và Nguyễn Trường G2, bắt ngày 02/05/2024".
  • - 01 (một) điện thoại di động hiệu Iphone 12 Pro Max, màu vàng, số Imei 1: 358598933888092, số Imei 2: 358598934134033, đã qua sử dụng của Nguyễn Trường G2.
  • - 01 (một) điện thoại di động hiệu Iphone XS, màu đen, số Imei 1: 357202099951064, Imei 2: 357202099627607, lắp sim số điện thoại: 0899.212.xxx, của Dương Đăng N1.
  • - 01 (một) điện thoại di động hiệu Iphone 11, màu trắng số Imei 1: 356546102127406, số Imei 2: 356546102006083, đã qua sử dụng của Nguyễn Thanh T4.
  • - 01 (một) máy xay mini hiệu Cookies, đã qua sử dụng.
  • - 02 (hai) hộp giấy hiệu Raw, đã qua sử dụng.
  • - 01 (một) điện thoại di động hiệu Iphone 12, màu đen, số Imei 1: 359035295854601, số Imei 2: 359035295875010, đã qua sử dụng của Ngô Trương Đức K1.
  • - Số tiền Việt Nam đồng: 70.000 đồng (Bảy mươi nghìn đồng) hiện đang tạm giữ tại tài khoản tạm giữ ở Kho bạc nhà nước huyện P
  • - Số tiền Việt Nam đồng: 20.000 đồng (Bảy mươi nghìn đồng) hiện đang tạm giữ tại tài khoản tạm giữ ở Kho bạc nhà nước huyện P.
  • - 01 (một) xe mô tô nhãn hiệu Honda Wave, màu trắng, biển số: 75AF-157.88, số khung: RLHJA3933R Y0023545, số máy: JA70E0290041, đã qua sử dụng của ông Dương Trọng C1.
  • - 01 (một) xe máy điện nhãn hiệu JVC, màu đen, biển số: 75MĐ5-022.85, đã qua sử dụng của chị Nguyễn Thị T1.

* Về xử lý vật chứng và trách nhiệm dân sự :

Cơ quan điều tra xử lý vật chứng bằng hình thức:

  • - Trả lại cho chủ sở hữu ông Dương Trọng C1, sinh năm: 1972, HKTT tại TDP T, phường T, thành phố H, tỉnh T 01 (một) xe mô tô nhãn hiệu Honda Wave, màu trắng, biển số: 75AF-157.88, số khung: RLHJA3933R Y0023545, số máy: JA70E0290041 (đã qua sử dụng). Ông Dương Trọng C1 đã nhận lại tài sản và không yêu cầu gì thêm.
  • - Trả lại cho chủ sở hữu chị Nguyễn Thị T1, sinh năm: 1990, HKTT tại thôn A, xã P, huyện P, tỉnh T 01 (một) xe máy điện nhãn hiệu JVC, màu đen, biển số: 75MĐ5-022.85 (đã qua sử dụng). Chị Nguyễn Thị T1 đã nhận lại tài sản và không yêu cầu gì thêm.
  • - Trả lại cho chủ sở hữu Dương Đăng N1, sinh năm: 2006, HKTT tại TDP T, phường T, thành phố H, tỉnh T số tiền VNĐ: 20.000 đồng (Hai mươi nghìn đồng). Dương Đăng N1 đã nhận lại tài sản và không yêu cầu gì thêm.
  • - Các vật chứng còn lại hiện nay đang được tạm giữ tại kho vật chứng Chi cục thi hành án dân sự huyện P.

Tại bản Cáo trạng số 24/CT-VKSPV ngày 01 tháng 10 năm 2024, Viện Kiểm sát nhân dân huyện P đã truy tố: Nguyễn Trường G2 về tội “Mua bán trái phép chất ma túy” được quy định tại các điểm b, c Khoản 2 Điều 251 của Bộ luật Hình sự; Dương Đăng N1 về tội “Mua bán trái phép chất ma túy” được quy định tại các điểm b, e Khoản 2 Điều 251 của Bộ luật Hình sự.

Tại phiên tòa, đại diện Viện Kiểm sát nhân dân huyện P, tỉnh T giữ nguyên quan điểm truy tố, đề nghị Hội đồng xét xử:

  • - Áp các điểm b, c Khoản 2 Điều 251, điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự; đề nghị xử phạt bị cáo Nguyễn Trường G2 từ 07 năm đến 07 năm 06 tháng tù về tội “Mua bán trái phép chất ma túy”.
  • - Áp các điểm b, e Khoản 2 Điều 251, điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự; đề nghị xử phạt bị cáo Dương Đăng N1 từ 07 năm đến 07 năm 06 tháng tù về tội “Mua bán trái phép chất ma túy”.

Về xử lý vật chứng: Đề nghị áp dụng Điều 47 Bộ luật hình sự, Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự: Tịch thu tiêu hủy: 01 (một) túi niêm phong kín bằng túi niêm phong và băng keo trong, bên ngoài có 03 (ba) chữ ký của Giám định viên Trần Nam, 03 (ba) chữ ký của Điều tra viên Võ Chiến Hữu, 03 (ba) dấu tròn đỏ của phòng K2 Công an tỉnh T5 và dòng chữ "H1 mẫu vật vụ Dương Đăng N1 và Nguyễn Trường G2, bắt ngày 02/05/2024".

  • - 01 (một) máy xay mini hiệu Cookies, đã qua sử dụng.
  • - 2 (hai) hộp giấy hiệu Raw, đã qua sử dụng.

Tịch thu sung vào công quỹ nhà nước gồm: - 01 (một) điện thoại di động hiệu Iphone 12 Pro Max, màu vàng, số Imei 1: 358598933888092, số Imei 2: 358598934134033, đã qua sử dụng của Nguyễn Trường G2.

  • - 01 (một) điện thoại di động hiệu Iphone XS, màu đen, số Imei 1: 357202099951064, Imei 2: 357202099627607, lắp sim số điện thoại: 0899.212.xxx, của Dương Đăng N1.
  • - 01 (một) điện thoại di động hiệu Iphone 11, màu trắng số Imei 1: 356546102127406, số Imei 2: 356546102006083, đã qua sử dụng của Nguyễn Thanh T4.
  • - Số tiền Việt Nam đồng: 70.000 đồng (Bảy mươi nghìn đồng) hiện đang tạm giữ tại tài khoản tạm giữ ở Kho bạc nhà nước huyện P

Đề nghị trả lại : 01 (một) điện thoại di động hiệu Iphone 12, màu đen, số Imei 1: 359035295854601, số Imei 2: 359035295875010, đã qua sử dụng của bà Nguyễn Thị G1.

Về án phí: Đề nghị Hội đồng xét xử tuyên các bị cáo phải chịu theo quy định của pháp luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA TOÀ ÁN

Căn cứ vào các chứng cứ và tài liệu đã được thẩm tra tại phiên tòa, căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên tòa trên cơ sở xem xét đầy đủ, toàn diện tài liệu, chứng cứ, ý kiến của Kiểm sát viên, các bị cáo và những người tham gia tố tụng khác; Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về quyết định, hành vi tố tụng: Quá trình điều tra và tại phiên tòa, các bị cáo, những người tham gia tố tụng khác không có ý kiến hay khiếu nại gì về các quyết định, hành vi tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người có thẩm quyền tiến hành tố tụng. Các hành vi tố tụng của Điều tra viên, Kiểm sát viên, Thẩm phán, Thư ký và Hội đồng xét xử, cũng như các quyết định tố tụng của Cơ quan Cảnh sát điều tra, Viện kiểm sát và Tòa án nhân dân huyện P trong quá trình điều tra, truy tố và xét xử tại phiên tòa đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Do đó, các quyết định, hành vi tố tụng cơ quan tiến hành tố tụng và người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp, đúng quy định.

[2] Về hành vi phạm tội của bị cáo thể hiện:Tại phiên tòa, các bị cáo đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình: Do có nhu cầu sử dụng ma túy cần sa và bán lại cho người khác để lấy tiền tiêu xài nên Nguyễn Trường G2 có hành vi mua ma túy cần sa của người khác bán cho Dương Đăng N1, Nguyễn Thanh T4 và Trương Viết Hải T3 để hưởng tiền chênh lệnh mục đích nhằm để tiêu xài cá nhân. Dương Đăng N1 có hành vi mua ma túy cần sa của Nguyễn Trường G2 sau đó đã bán lại cho Ngô Trương Đức K1 vào ngày 01/05/2024 và 02/05/2024 hưởng tiền chênh lệch mục đích nhằm để tiêu xài cá nhân. Do đó, hành vi của bị cáo Nguyễn Trường G2 có đủ yếu tố cấu thành tội “Mua bán trái phép chất ma túy” với tình tiết định khung hình phạt là “Phạm tội 02 lần trở lên”, “Đối với 02 người trở lên” theo quy định tại điểm b, c khoản 2 Điều 251 Bộ luật hình sự; hành vi của bị cáo Dương Đăng N1 có đủ yếu tố cấu thành tội “Mua bán trái phép chất ma túy” với tình tiết định khung hình phạt là “Phạm tội 02 lần trở lên”, “Sử dụng người dưới 16 tuổi vào việc phạm tội hoặc bán ma túy cho người dưới 16 tuổi” theo quy định tại điểm b, e khoản 2 Điều 251 Bộ luật hình sự năm 2015. Vì vậy, Viện kiểm sát nhân dân huyện P truy tố các bị cáo về tội danh theo điều luật như bản Cáo trạng đã nêu là đúng người, đúng tội và đúng pháp luật.

[3] Xét tính chất, mức độ của hành vi phạm tội, nhân thân của các bị cáo, Hội đồng xét xử thấy rằng:

Các bị cáo Nguyễn Trường G2, Dương Đăng N1 là người có đầy đủ năng lực trách nhiệm hình sự, nhận thức rõ hành vi mua bán trái phép chất ma túy là vi phạm pháp luật nhưng vẫn cố ý thực hiện. Hành vi phạm tội của các bị cáo đã gây nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm đến chế độ độc quyền của Nhà nước về quản lý chất ma túy, trực tiếp ảnh hưởng xấu đến sức khỏe của con người, sự phát triển của nòi giống và làm tăng tệ nạn xã hội. Bị cáo Nguyễn Trường G2 có một tiền sự về hành vi trồng cây cần sa trái phép đã bị xử phạt hành chính nhưng không lấy đó làm bài học mà tiếp tục phạm tội. Trong vụ án này, các bị cáo thực hiện hành vi độc lập, riêng lẻ, không có sự gắn kết nên các bị cáo phải chịu trách nhiệm độc lập về hành vi của các bị cáo đã gây ra và cần phải xử lý nghiêm để có tác dụng giáo dục, răn đe và phòng chống tội phạm ma tuý trên địa bàn.

[4] Xét về nhân thân, tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:

Bị cáo Dương Đăng N1 có nhân thân tốt, các bị cáo không phạm vào tình tiết tăng nặng nào. Quá trình điều tra và tại phiên tòa các bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải và đã thừa nhận hành vi phạm tội của mình. Các bị cáo Nguyễn Trường G2, Dương Đăng N1 được hưởng tình tiết giảm nhẹ theo quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự năm 2015.

[5] Về quyết định hình phạt: Căn cứ vào tính chất, mức độ nguy hiểm của hành vi phạm tội, nhân thân người phạm tội và các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đã phân tích ở trên, trên cơ cở khung hình phạt quy định, xét cần thiết phải cách ly bị cáo Nguyễn Trường G2, Dương Đăng N2 ra khỏi xã hội một thời gian để bị cáo có thời gian cải tạo, trở thành công dân tốt cho xã hội như đề nghị của đại diện Viện kiểm sát tại phiên tòa.

[6] Về xử lý vật chứng vụ án:

01 (một) túi niêm phong kín bằng túi niêm phong và băng keo trong, bên ngoài có 03 (ba) chữ ký của Giám định viên Trần Nam, 03 (ba) chữ ký của Điều tra viên Võ Chiến Hữu, 03 (ba) dấu tròn đỏ của phòng K2 Công an tỉnh T5 và dòng chữ "H1 mẫu vật vụ Dương Đăng N1 và Nguyễn Trường G2, bắt ngày 02/05/2024".

  • - 02 (hai) hộp giấy hiệu Raw, đã qua sử dụng.
  • - 01 (một) máy xay mini hiệu Cookies, đã qua sử dụng.

Xét các vật chứng trên là công cụ, phương tiện dùng vào việc phạm tội, không có giá trị nên tịch thu và tiêu hủy.

01 (một) điện thoại di động hiệu Iphone 12 Pro Max, màu vàng, số Imei 1: 358598933888092, số Imei 2: 358598934134033, đã qua sử dụng của Nguyễn Trường G2.

01 (một) điện thoại di động hiệu Iphone XS, màu đen, số Imei 1: 357202099951064, Imei 2: 357202099627607, lắp sim số điện thoại: 0899.212.xxx, của Dương Đăng N1.

01 (một) điện thoại di động hiệu Iphone 11, màu trắng số Imei 1: 356546102127406, số Imei 2: 356546102006083, đã qua sử dụng của Nguyễn Thanh T4.

- Số tiền Việt Nam đồng: 70.000 đồng (Bảy mươi nghìn đồng) hiện đang tạm giữ tại tài khoản tạm giữ ở Kho bạc nhà nước huyện P.

Xét các vật chứng nêu trên các bị cáo và người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan dùng vào việc phạm tội nên cần tịch thu sung công quỹ nhà nước.

Đối với vật chứng là : 01 (một) điện thoại di động hiệu Iphone 12, màu đen, số Imei 1: 359035295854601, số Imei 2: 359035295875010, đã qua sử dụng. Xét thấy tại phiên tòa xác định chiếc điện thoại di động này là của bà Nguyễn Thị G1 không phải của Ngô Trương Đức K1. Việc K1 lấy điện thoại sử dụng để nhắn tin mua ma túy với Dương Đăng N1 bà G1 không biết nên có căn cứ trả lại cho bà Nguyễn Thị G1.

[7] Về trách nhiệm dân sự: Không ai có yêu cầu gì thêm nên Hội đồng xét xử không xem xét.

[8]. Về án phí: Các bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH

1. Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Nguyễn Trường G2, Dương Đăng N1 phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy”.

2. Về trách nhiệm hình sự:

2.1 Đối với bị cáo Nguyễn Trường G2:

Áp dụng điểm b, c khoản 2, Điều 251; Điểm s khoản 01 Điều 51 Bộ luật hình sự 2015. Xử phạt: Bị cáo Nguyễn Trường G2 07 (bảy) năm tù. Thời gian chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt tạm giữ 02/5/2024.

2.2 Đối với bị cáo Dương Đăng N1:

Áp dụng điểm b, e khoản 2, Điều 251; Điểm s khoản 01 Điều 51 Bộ luật hình sự 2015. Xử phạt: Bị cáo Dương Đăng N1 07(bảy) năm tù. Thời gian chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt tạm giữ 02/5/2024.

3. Về xử lý vật chứng: Căn cứ Điều 47 Bộ luật hình sự, Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự:

  • * Tịch thu tiêu hủy: 01 (một) túi niêm phong kín bằng túi niêm phong và băng keo trong, bên ngoài có 03 (ba) chữ ký của Giám định viên Trần Nam, 03 (ba) chữ ký của Điều tra viên Võ Chiến Hữu, 03 (ba) dấu tròn đỏ của phòng K2 Công an tỉnh T5 và dòng chữ "H1 mẫu vật vụ Dương Đăng N1 và Nguyễn Trường G2, bắt ngày 02/05/2024".
  • - 02 (hai) hộp giấy hiệu Raw, đã qua sử dụng.
  • - 01 (một) máy xay mini hiệu Cookies, đã qua sử dụng.
  • * Tịch thu sung vào công quỹ nhà nước gồm:
  • - 01 (một) điện thoại di động hiệu Iphone 12 Pro Max, màu vàng, số Imei 1: 358598933888092, số Imei 2: 358598934134033, đã qua sử dụng của Nguyễn Trường G2.
  • - 01 (một) điện thoại di động hiệu Iphone XS, màu đen, số Imei 1: 357202099951064, Imei 2: 357202099627607, lắp sim số điện thoại: 0899.212.xxx, của Dương Đăng N1.
  • - 01 (một) điện thoại di động hiệu Iphone 11, màu trắng số Imei 1: 356546102127406, số Imei 2: 356546102006083, đã qua sử dụng của Nguyễn Thanh T4.
  • - Số tiền Việt Nam đồng: 70.000 đồng (Bảy mươi nghìn đồng) đã nộp vào tài khoản của Chi cục thi hành án dân sự huyện P tại Kho bạc nhà nước huyện P2 (Theo giấy ủy nhiệm chi ngày 04 tháng 10 năm 2024).
  • Trả lại cho chủ sở hữu: - 01 (một) điện thoại di động hiệu Iphone 12, màu đen, số Imei 1: 359035295854601, số Imei 2: 359035295875010, đã qua sử dụng của bà Nguyễn Thị G1.

Tất cả các vật chứng nêu trên có đặc điểm theo Biên bản giao, nhận đồ vật, tài liệu, vật chứng ngày 08 tháng 10 năm 2024 giữa Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện P3 và Chi cục Thi hành án dân sự huyện Phú Vang.

4. Về án phí: Căn cứ Điều 136 Bộ luật Tố tụng Hình sự; Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội khóa 14 quy định về mức thu, giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí lệ phí Tòa án. Buộc bị cáo Nguyễn Trường G2, Dương Đăng N1 mỗi bị cáo phải chịu 200.000 đồng (hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.

5. Bị cáo, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án. Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án niêm yết theo quy định pháp luật.

Nơi nhận:

  • - TAND tỉnh T;
  • - VKSND tỉnh T;
  • - VKSND huyện P;
  • - Công an huyện P;
  • - Chi cục THADS huyện P;
  • - Sở Tư pháp;
  • - Bị cáo;
  • - Lưu HSVA.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Nguyễn Thị Thúy Hồng

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 30/2024/HS-ST ngày 20/11/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN P, TỈNH T về mua bán trái phép chất ma túy

  • Số bản án: 30/2024/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Mua bán trái phép chất ma túy
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 20/11/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN P, TỈNH T
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Nguyễn Trường G, Dương Đăng N
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger