|
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ SÔNG CÔNG TỈNH THÁI NGUYÊN |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
Bản án số: 30/2024/DS-ST
Ngày: 19/11/2024
“V/v: Tranh chấp hợp đồng mua bán và cung cấp dịch vụ”
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ SÔNG CÔNG, TỈNH THÁI NGUYÊN
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Đinh Thị Lan Anh
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Nguyễn Văn Thân và bà Nguyễn Thị Huệ
- Thư ký phiên tòa: Bà Vương Thị Thanh Lan- Thư ký Toà án nhân dân thành phố Sông Công, tỉnh Thái Nguyên.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Sông Công, tỉnh Thái Nguyên tham gia phiên toà: Bà Bùi Thị Bích T - Kiểm sát viên.
Ngày 19 tháng 11 năm 2024, tại trụ sở Toà án nhân dân thành phố Sông Công, tỉnh Thái Nguyên xét xử sơ thẩm công khai vụ án Dân sự sơ thẩm thụ lý số: 08/2024/TLST-DS ngày 29 tháng 02 năm 2024 về việc Tranh chấp hợp đồng mua bán hàng hóa và cung cấp dịch vụ, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 55/2024/QĐXXST-DS ngày 25 tháng 10 năm 2024 giữa:
Nguyên đơn:
- Ông Hà Văn K, sinh năm 1988, có mặt
- Bà Lê Thị H, sinh năm 1990, vắng mặt
Đều trú tại: Xóm Làng Đanh, xã Thành Công, TP. Phổ Yên, Thái Nguyên
Đại diện theo ủy quyền cho anh K, chị H:
- Ông Đinh Công H1, sinh năm 1984, có mặt
- Ông Nguyễn Văn T1, sinh năm 2000, có mặt
Địa chỉ: Tổ A, phường T, TP T, tỉnh Ninh Bình,
Địa chỉ: Thôn K, xã M, huyện H, tỉnh Thái Bình
Bị đơn:
Công ty TNHH T4,
Địa chỉ: TDP Khuynh Thạch, phường Cải Đan, Tp Sông Công, Thái Nguyên
Đại diện theo pháp luật:
Ông Đặng Duy B – Giám đốc
Đại diện theo ủy quyền:
- Ông Dương Văn P, sinh năm 1980, có mặt
- Ông Bùi Quang T2, sinh năm 1971, có mặt
Địa chỉ: Tổ 12, phường Quang Trung, TP. Thái Nguyên, Thái Nguyên
Địa chỉ: Tổ C, phường P, TP S, Thái Nguyên
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
Ông Hà Văn Q, sinh năm 1987, vắng mặt
Địa chỉ: Xóm Đ, xã T, TP P, Thái Nguyên
Người làm chứng:
Ông Tưởng Duy H2, sinh năm 1991, có mặt
Địa chỉ: Thôn V, xã T, huyện Ứ, tỉnh Thái Nguyên
NỘI DUNG VỤ ÁN
* Trong đơn khởi kiện và quá trình tố tụng tại Tòa án nguyên đơn anh Hà Văn K và chị Lê Thị H và đại diện theo ủy quyền trình bày:
Ngày 13/7/2022 anh Hà Văn K và Công ty TNHH T4 ký hợp đồng nguyên tắc về việc cung cấp bê tông thương phẩm với nội dung:
Công ty bán bê tông thương phẩm, cung cấp dịch vụ bơm bê tông cho công trình với chủng loại và đơn giá như sau:
Bê tông thương phẩm mác 300 đá 1 x 2 độ sụt 12+2 với giá 1.020.000đồng/m3; Bơm cần <40m3 giá 2.200.000đồng/ca; >40m3 với giá 55.000đồng/m3, thời gian đổ móng ngày 14/7/2022.
Cường độ bê tông theo yêu cầu đạt được sau 28 ngày, mẫu đúc hình lập phương cạnh 15x15x15cm-30R15 theo TCVN 4453. Đối với móng tầng 1, nền tầng 1, mái tầng 1, mái tầng 2 công ty cung cấp bê tông đảm bảo chất lượng theo đúng thỏa thuận.
Ngày 20/10/2022 công trình được tiến hành đổ mái tầng 3, công ty có phiếu thu: thanh toán bê tông mái 03 và bơm cần 22,5m3 x 1.070.000/m3 (giá bê tông thương phẩm thời điểm tăng theo giá thị trường) + 2.200.000đồng/1ca bơm cần = 26.275.000đồng, đã thanh toán được 14.275.000đồng, còn lại 12.000.000đồng thanh toán sau khi nén mẫu hoặc không quá 30 ngày bê tông đạt yêu cầu thanh toán số tiền còn thiếu.
Thời điểm vừa đổ xong mái tầng 3 thì gia đình phát hiện bằng mắt thường là bê tông khác màu, kết cấu rời rạc nên có phản ánh đến phía công ty nhưng phía công ty khẳng định bê tông vẫn đảm bảo chất lượng nên vẫn tiếp tục đổ và bảo dưỡng bê tông theo thỏa thuận.
Thời điểm đổ mái tầng 3 công ty cung cấp 02 xe bê tông đến công trình, công ty có thu 03 mẫu đúc theo thỏa thuận. Công ty hẹn 28 ngày sau đến mang mẫu đi ép và kiểm định. Tuy nhiên đến ngày thứ 26 công ty cho người vào công trình lấy mất 02 mẫu (anh Tưởng Duy H2 là nhân viên bán hàng của công ty cùng 02 người khác); còn 01 mẫu bị vỡ (hiện nay gia đình vẫn bảo quản mẫu này). Nhưng mẫu bị vỡ thì không còn giá trị để kiểm định.
Đến ngày 19/11/2022 phía công ty xuống công trình kiểm tra. Gia đình anh K yêu cầu lấy mẫu khoan trần hiện trạng vì mẫu đúc không còn. Gia đình mời đại diện công ty TNHH T4 (anh Bùi Quang T2, trưởng phòng kỹ thuật) cùng với gia đình, cai xây dựng là anh Hà Văn Q chứng kiến việc Phòng thí nghiệm vật liệu xây dựng (địa chỉ: Số A đường H - phường H, Tp V, tỉnh Vĩnh Phúc) thuộc Công ty CP T4 (địa chỉ: Số A ngõ F - N - K - T - Hà Nội) khoan trần lấy 06 mẫu để kiểm định. Sau đó lấy 03 mẫu đi kiểm định.
Kết quả kiểm định của Công ty cổ phần T4 công trình: Cường độ hiện trường là 231,19. Cường độ nén của cấu kiện kiểm tra không đạt yêu cầu so với mác bê tông thiết kế.
Sau khi có kết quả kiểm định phía công ty có cho người xuống nói chuyện nhưng cho rằng mái vẫn đảm bảo yêu cầu, đề nghị được trả lại cho gia đình 14.275.000đồng tiền bê tông đã thanh toán nhưng gia đình không đồng ý.
Ngày 23/11/2022 gia đình tiếp tục muốn kiểm định lại lần nữa để đối chiếu kết quả với Công ty cổ phần T4 và kiểm định chất lượng công trình. Nên tiếp tục lấy 03 mẫu còn lại (khoan vào ngày 19/11/2022) đến Công ty cổ phần T4 để kiểm định lại.
Kết quả kiểm định của Công ty cổ phần T4: Cường độ nén của bê tông của cấu kiện kiểm tra không đạt yêu cầu so mác bê tông thiết kế là 300daN/cm2.
Do các bên không thỏa thuận được với nhau nên anh K, chị H đề nghị Tòa án giải quyết buộc Công ty TNHH T4 bồi thường thiệt hại cho gia đình do vi phạm hợp đồng số tiền là 420.100.000 đồng, bao gồm:
- - Tiền cốp pha và công thợ xây dựng: 130.000.000đồng
- - Tiền công thợ điện nước: 13.000.000đồng
- - Tiền vật liệu xây dựng gồm:
- + Sắt: 65.000.000 đồng
- + Gạch: 20.000.000đồng
- + Cát: 10.000.000đồng
- + Sỏi: 5.000.000đồng
- + Ảnh hưởng tiến độ công trình: 50.000.000đồng
- + Tiền bê tông và cần bơm: 27.100.000 đồng
- + Tiền phá mái: 100.000.000đồng
Tổng thiệt hại là: 420.100.000 đồng. Được trừ tiền bê tông hiện anh K, chị H giữ lại: 12.000.000đồng. Số tiền Công ty tiếp tục phải bồi thường là: 408.100.000đồng.
Nguyên đơn không nhất trí với Kết quả kiểm tra cường độ chịu nén của mẫu bê tông khoan do Viện chuyên ngành bê tông – V – Bộ X khi xác định bê tông đạt Mac 300, lý do mẫu bê tông đã quá lâu kể từ thời điểm đổ mái tầng 3 không thể hiện được chất lượng của bê tông.
Đề nghị Tòa án công nhận Thí nghiệm kiểm tra cường độ bê tông trên cấu kiện công trình ngày 19/11/2022 của Phòng thí nghiệm vật liệu xây dựng - Công ty cổ phần T4 và kiểm định chất lượng công trình tại địa chỉ số A ngõ F N, K - T- TP Hà Nội. Do thời điểm lấy mẫu bê tông đủ 28 ngày đủ tiêu chuẩn để kiểm định, việc lấy mẫu và đưa đi thí nghiệm có sự tham gia chứng kiến của gia đình và ông Bùi Quang T2 là đại diện ủy quyền cho Công ty TNHH T4. Đồng thời công nhận kết quả Trung tâm kiểm định chất lượng xây dựng Thái Nguyên- Sở X1 với Mac bê tông chỉ đạt 290.
* Ý kiến của đại diện theo ủy quyền cho bị đơn trình bày:
Ngày 13/7/2022, Công ty TNHH T4 và anh Hà Văn K đã ký kết hợp đồng nguyên tác (V/v cung cấp Bê tông thương phẩm), theo nội dung hợp đồng bên A (bên mua) là anh Hà Văn K đồng ý mua, thuê dịch vụ bơm bê tông, bên B (bên bán) là Công ty TNHH T4 đồng ý bán bê tông thương phẩm, cung cấp dịch vụ bơm bê tông cho công trình bên A với chủng loại và đơn giá: Bê tông thương phẩm mác 300, đá 1x2...độ sut 12 + 2, giá 1.020.000 đồng/m3; cần bơm: 2.200.000đ/ ca hoặc 55.000đ/ m3...; Thời gian đổ móng: ngày 14/7/2022; quy cách: theo yêu cầu của bên A..; phẩm chất: bảo đảm chất lượng, kỹ thuật theo TCVN; khối lượng bê tông bên A mua của bên B là tổng khối lượng bê tông ghi trong các phiếu giao hàng do bên B phát hành,...
Ngày 20/10/2022, phía bên A là anh Hà Văn K tiếp tục đề nghị Công ty TNHH T4 cung cấp bê tông thương phẩm và cho thuê dịch vụ bơm bê tông cho bên A để đổ mái tầng 3. Căn cứ vào hợp đồng ngày 13/7/2022 Công ty tiếp tục cung cấp bê tông và dịch vụ bơm bê tông nhưng hai bên không ký hợp đồng mới hay phụ lục hợp đồng, thỏa thuận vẫn cung cấp bê tông Mac300, cụ thể: (22,5m3 bê tông thương phẩm x 1.070.000 đồng/ m3) + 2.200.000 đồng (tiền dịch vụ bơm bê tông) = 26.275.000 đồng. Sau đó gia đình anh K đã thanh toán cho Công ty TNHH T4 số tiền 14.275.000 đồng, còn 12.000.000 đồng (Phiếu thu ngày 20/10/2022).
Ngày 19/11/2022, thành phần có đại diện Công ty TNHH T4 và đại diện gia đình anh Hà Văn K đã cùng chứng kiến khoan lấy 03 mẫu bê tông đem thí nghiệm kiểm tra cường độ bê tông trên cấu kiện công trình tại Phòng thí nghiệm vật liệu xây dựng (địa chỉ: Số A đường H - phường H, Tp V, tỉnh Vĩnh Phúc) thuộc Công ty CP T4 (địa chỉ: Số A ngõ F - N - K - T - Hà Nội), kết quả mẫu M1 đạt cường độ hiện trường: 214,9, mẫu M2 đạt cường độ hiện trường: 216,3, mẫu M3 đạt cường độ hiện trường: 262,3, trung bình: 231,19...
Ngày 23/11/2022, gia đình anh Hà Văn K đã tự ý lấy 03 mẫu bê tông (không có đại diện Công ty TNHH T4 chứng kiến) đem làm thí nghiệm kiểm tra cường độ bê tông trên cấu kiện công trình tại Phòng thí nghiệm LAS XD, thuộc Công ty Cổ phần T4 (địa chỉ: Số E đường B - phường H, thành phố T, tỉnh Thái Nguyên). Tại Phiếu kết kết quả thí nghiệm mẫu khoan hiện trường thể hiện: mẫu 1 đạt cường độ hiện trường (daN/cm2): 183, mẫu 2 đạt: 178, mẫu 3 đạt: 101...Sau khi đã có các kết quả thí nghiệm mẫu khoan hiện trường, gia đình anh Hà Văn K vẫn tiếp tục hoàn thiện công trình xây dựng nhà ở của gia đình.
Tại phiên hòa giải ngày 16/4/2024, quan điểm của Công ty TNHH T4 xác định, theo kết quả thí nghiệm kiểm tra cường độ bê tông trên cấu kiện công trình của Phòng thí nghiệm vật liệu xây dựng thuộc Công ty CP T4 và kiểm định chất lượng công trình thì Công ty TNHH T4 có vi phạm về chủng loại bê tông thương phẩm (theo thỏa thuận là mác: 300, đá 1x2...độ sut 12 + 2).
Mặc dù bê tông thương phẩm do Công ty TNHH T4 cung cấp không đạt về chủng loại như thỏa thuận nhưng vẫn đủ đảm bảo đối với yêu cầu công trình xây dựng nhà ở của gia đình anh K và trên thực tế sau khi nhận, biết được kết quả thí nghiệm kiểm tra cường độ bê tông trên cấu kiện công trình, gia đình anh K vẫn tiếp tục hoàn thiện công trình xây dựng nhà ở và sử dụng cho đến nay mà không thực hiện việc phá dỡ mái để thi công lại và yêu cầu Công ty TNHH T4 cung cấp lại bê tông đúng chủng loại như thỏa thuận.
Sau khi có kết quả kiểm định công ty có đến nói chuyện với gia đình và xác định cấu kiện vẫn đảm bảo xây dựng công trình, đồng ý phối hợp với gia đình để hỗ trợ toàn bộ tiền bê tông tầng 3 và thanh toán chậm tiến độ công trình khoảng hơn 40 triệu đồng nhưng gia đình không đồng ý.
Tại phiên hòa giải, Công ty TNHH T4 chỉ đồng ý bồi thường do vi phạm hợp đồng tương đương với giá trị số lượng bê tông thương phẩm và dịch vụ bơm bê tông đã cung cấp cho gia đình anh K, chị H đổ mái tầng 3 ngày 20/10/2022 là 26.275.000 đồng. Gia đình anh K đã thanh toán cho Công ty TNHH T4 số tiền 14.275.000 đồng, còn nợ lại 12.000.000 đồng (Phiếu thu ngày 20/10/2022). Công ty TNHH T4 sẽ có trách nhiệm trả lại cho gia đình anh Hà Văn K, chị Lê Thị H số tiền 14.275.000 đồng mà anh, chị đã thanh toán cho Công ty.
Công ty TNHH T4 không chấp nhận kết quả kiểm định của Phòng thí nghiệm LAS XD thuộc Công ty Cổ phần T4 vì Công ty TNHH T4 không được thông báo và chứng kiến việc lấy mẫu, nên không biết gia đình anh K khoan lấy mẫu bê tông ở đâu, không có cơ sở xác định đã lấy mẫu tại mái tầng 3 công trình xây dựng nhà ở của gia đình anh K mà Công ty TNHH T4 đã cung cấp bê tông thương phẩm.
Tại phiên hòa giải ngày 08/10/2024, đại diện theo ủy quyền cho bị đơn nhất trí với Kết quả kiểm tra cường độ chịu nén của mẫu bê tông khoan do Viện chuyên ngành bê tông – V – Bộ X là cơ quan có thẩm quyền cao nhất tiến hành: tại thời điểm kiểm tra, mẫu bê tông khoan thí nghiệm đạt cường độ yêu cầu ứng với mác bê tông thiết kế M300.
Công ty thay đổi ý kiến so với biên bản hòa giải ngày 16/4/2024, không nhất trí bồi thường do vi phạm hợp đồng tương đương với giá trị số lượng bê tông thương phẩm và dịch vụ bơm bê tông đã cung cấp cho gia đình anh K, chị H đổ mái tầng 3 ngày 20/10/2022 là 26.275.000 đồng. Đồng thời có đơn yêu cầu phản tố đề nghị Tòa án giải quyết buộc anh K, chị H phải trả cho Công ty số tiền bê tông còn nợ lại là 12.000.000đồng.
Nay anh K, chị H khởi kiện, phía Công ty không nhất trí vì các lý do sau:
- + Sau khi có kết quả của Công ty CP T4 và kiểm định chất lượng công trình, do tin tưởng kết quả kiểm định cũng như việc anh K đăng tải nhiều thông tin gây bất lợi cho công ty, để hài hòa lợi ích giữa Công ty và khách hàng, trước khi nguyên đơn khởi kiện tại Tòa án; Công ty có gặp gia đình để hòa giải nhưng không thành.
- + Trong giai đoạn chuẩn bị xét xử, Tòa án đã tiến hành trưng cầu giám định. Kết quả kiểm tra cường độ chịu nén của mẫu bê tông khoan do Viện chuyên ngành bê tông – V – Bộ X tại thời điểm kiểm tra, mẫu bê tông khoan thí nghiệm đạt cường độ yêu cầu ứng với mác bê tông thiết kế M300. Do đó công ty không vi phạm hợp đồng về chất lượng bê tông cung cấp. Việc bảo dưỡng bê tông tại Công trình do gia đình tự thực hiện. Ngoài ra còn nhiều yếu tố khách quan và chủ quan khác có thể gây nên việc thấm dột mái tầng 3.
- + Việc anh K kê khai các khoản thiệt hại bao gồm: tiền cốp pha và công thợ xây dựng: 130.000.000 đồng; tiền công thợ điện nước: 13.000.000 đồng; tiền vật liệu xây dựng: sắt: 65.000.000 đồng, gạch: 20.000.000 đồng, cát: 10.000.000 đồng, sỏi: 5.000.000 đồng, ảnh hưởng đến tiến độ công trình: 50.000.000 đồng, tiền bê tông và cần bơm: 27.100.000 đồng, tiền công phá mái: 100.000.000 đồng. Tổng cộng 420.100.000 đồng là không có căn cứ chấp nhận vì nguyên đơn không cung cấp được tài liệu, chứng cứ chứng minh thiệt hại thực tế.
Đề nghị Tòa án giải quyết buộc anh K, chị H phải trả cho Công ty số tiền bê tông còn nợ lại là 12.000.000đồng.
* Lời khai của anh Hà Văn Q:
Anh với gia đình anh K có quen biết nhau là do cùng xóm và là người trực tiếp xây dựng nhà ở cho gia đình anh K, công trình xây dựng nhà ở đã hoàn thiện và đưa vào sử dụng.
Ngày 19/11/2022 anh Q được gia đình anh K mời đến chứng kiến việc Công ty cổ phần T4 và kiểm định chất lượng công trình khoan trần lấy 06 mẫu, sau đó 03 mẫu mang đi để kiểm định.
Anh Q chỉ chịu trách nhiệm phần xây dựng công trình cho gia đình anh K còn việc đổ bê tông trần là do Công ty TNHH T4 thực hiện, việc bê tông đổ trần không đạt chất lượng dẫn đến thấm dột, nứt tường như thế nào anh Q không biết, đó là việc của gia đình anh K và Công ty T4. Nay giữa hai bên có sự tranh chấp khởi kiện tại Tòa án, anh Q đề nghị Tòa án giải quyết theo quy định của pháp luật.
* Lời khai của người làm chứng anh Tưởng Duy H2:
Anh H2 là công nhân của Công ty TNHH T4 có ký hợp đồng lao động, công việc theo hợp đồng là cán bộ kỹ thuật. Ngoài ra thực hiện các công việc khác khi được phân công là giới thiệu sản phẩm, giao kết hợp đồng, kiểm tra mẫu đúc bê tông tại công trình...
Việc anh K khai ngày thứ 26 sau khi đổ mái tầng 3 anh tự ý lấy mẫu đúc ra khỏi công trình mà không được sự đồng ý của gia đình anh K là không đúng sự thật. Anh có vào để kiểm tra tình trạng mẫu đúc xem có đúng mẫu đúc công ty đã ép không, còn nguyên vẹn không vì anh K đã thông báo cho Công ty khi đủ 28 ngày sẽ yêu cầu mang mẫu đi kiểm định.
Các vấn đề khác anh nhất trí với quan điểm của Công ty.
Về tài liệu chứng cứ:
Nguyên đơn xuất trình bản sao kết quả kiểm định của Phòng thí nghiệm vật liệu xây dựng (địa chỉ: Số A đường H - phường H, Tp V, tỉnh Vĩnh Phúc) thuộc Công ty CP T4 (địa chỉ: Số A ngõ F - N - K - T - Hà Nội); bản sao kết quả kiểm định của Phòng, thuộc Công ty Cổ phần T4 (địa chỉ: Số E đường B - phường H, thành phố T, tỉnh Thái Nguyên); bản phô tô Phiếu thu ngày 20/10/2022, Giấy biên nhận ngày 20/10/2022 thể hiện anh K đã thanh toán 14.275.000đồng, còn 12.000.000đồng hẹn 15/11/2022 thanh toán; các hóa đơn chứng từ liên quan đến việc mua vật liệu xây dựng....
Tòa án đã tiến hành xem xét thẩm định tại chỗ ngày 10/7/2024, thể hiện:
Công trình 3 tầng nhà cấp 3 xây dựng tháng 6 năm 2022 do gia đình anh K, chị H đang quản lý, sử dụng; diện tích một sàn 127 m2 tại xóm L, xã T, thành phố P, Thái Nguyên. Theo anh K, chị H khai khi xây dựng chưa có Giấy phép xây dựng; có bản vẽ thiết kế của Công ty TNHH một thành viên X2 (địa chỉ: Thị xã G, tỉnh Đắk Nông). Công trình được xây dựng trên thửa đất số 385a, tờ bản đồ 59, diện tích 80 m2 đất ONT mang tên Hà Văn N và Dương Thị T3 là anh trai của anh K. Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đang thế chấp tại ngân hàng. Tổng diện tích tầng 3 có đổ mái là 110,7 m2. Trong đó 6/6 khoang sàn hiện đang bị thấm mốc, có diện tích 110,7 m2. Tầng 3 có một phòng ngủ khép kín; một phòng thờ; một phòng sinh hoạt chung. Có hai vết nứt sàn; mỗi vết có chiều dài khoảng 80cm. Các đương sự tự chỉ xác định vị trí khoan mẫu bê tông Trung tâm K1 tiến hành khoan mẫu bê tông hiện trạng theo quy định.
Kết quả thí nghiệm mẫu khoan hiện trường ngày 10/7/2024 của Trung tâm kiểm định chất lượng xây dựng Thái Nguyên- Sở X1, cường độ nén của bê tông của cấu kiện không đạt yêu cầu so với mác thiết kế: 300daN/cm2, đạt yêu cầu so với mác thiết kế: 290daN/cm2.
Ngày 01/8/2024 anh K, chị H có đơn đề nghị Tòa án xem xét, tiến hành việc giám định lại chất lượng bê tông tại cơ quan giám định thuộc Bộ X để có kết quả khách quan.
Ngày 19/9/2024 Tòa án tiếp tục đi thẩm định lại hiện trạng mái tầng 3 và tiến hành khoan mẫu bê tông hiện trạng do Viện chuyên ngành bê tông – V – Bộ X thực hiện.
Kết quả kiểm tra cường độ chịu nén của mẫu bê tông khoan của Viện chuyên ngành bê tông- V- Bộ X: tại thời điểm kiểm tra, mẫu bê tông khoan thí nghiệm đạt cường độ yêu cầu ứng với mác bê tông thiết kế M300:Rht=30,5>21,0Mpa, Rhtimin=28,7>17,5Mpa.
Trong quá trình giải quyết vụ án, Tòa án đã yêu cầu anh K, chị H cung cấp tài liệu chứng cứ là bản sao Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đối với thửa đất số 385a, tờ bản đồ 59, diện tích 80 m2 đất ONT mang tên Hà Văn N và Dương Thị T3; Giấy phép xây dựng (nếu có); bản vẽ thiết kế của Công ty TNHH một thành viên X2. Tuy nhiên anh K, chị H chỉ cung cấp được bản phô tô Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất. Tại phiên tòa anh K xác định công trình không có bản vẽ thiết kế mà chỉ là bản tham khảo của một công trình khác; khi xây dựng tại địa phương không có quy định về việc phải có Giấy phép xây dựng. Việc thi công xây dựng do anh Hà Văn Q thực hiện nhưng hai bên không có hợp đồng; không có người giám sát thi công có chứng chỉ hành nghề theo quy định mà do anh K trực tiếp giám sát.
Tòa án nhân dân thành phố Sông Công, Thái Nguyên đã thụ lý vụ án, tiến hành hòa giải cho các bên đương sự, nhưng giữa các bên đương sự không hòa giải được, vì vậy vụ án phải đưa ra xét xử công khai tại phiên toà hôm nay.
Các đương sự tranh luận:
Nguyên đơn có ý kiến tranh luận: Căn cứ Kết luận xét nghiệm sau 28 ngày của Công ty CP T4 và Kiểm định chất lượng công trình và kết quả thí nghiệm mẫu khoan hiện trường của Phòng thí nghiệm LAS-XD26 thuộc Sở X3 Toà chỉ định lấy mẫu ngày 10/07/2024, xác định Công ty T4 đã vi phạm hợp đồng, cụ thể là giao hàng hoá, dịch vụ không đúng thoả thuận. Kết luận thí nghiệm này hoàn toàn đảm bảo giá trị chứng minh và khẳng định việc Công ty T4 cung cấp bê tông không đạt mác 300 là có căn cứ. Việc Công ty T4 không cung cấp đúng mác bê tông theo thoả thuận vi phạm nghiêm trọng hợp đồng, đây có thể là một trong những nguyên nhân gây thấm dột đến công trình của gia đình ông K, bà H; điều này còn gây ảnh hưởng đến tổng thể chất lượng ngôi nhà, tiềm ẩn nhiều rủi ro đến tính mạng, sức khoẻ. Căn cứ Điều 360, Điều 419 Bộ luật Dân sự 2015 thì việc Toà án tuyên Công ty T4 buộc phải bồi thường là có căn cứ do lỗi trong việc cung cấp bê tông không đúng hợp đồng.
Đề nghị Tòa án giải quyết:
Buộc phía Công ty T4 phải bàn giao lại bê tông đúng mác 300 như trong thoả thuận cho gia đình ông K, bà H để thực hiện thi công phần mái ngôi nhà. Buộc Công ty T4 có trách nhiệm bồi thường thiệt hại với tổng số tiền là 408.100.000 đồng.
Ý kiến tranh luận của đại diện theo ủy quyền của bị đơn:
Không nhất trí với yêu cầu khởi kiện. Theo kết quả kiểm định chất lượng bê tông thực hiện bởi Viện chuyên ngành bê tông – Bộ X thì phía công ty không vi phạm hợp đồng về chủng loại hàng hóa. Đồng thời đề nghị Tòa án buộc anh K, chị H thanh toán số tiền bê tông còn thiếu là 12.000.000đồng theo yêu cầu phản tố của phía bị đơn.
Đại diện Viện kiểm sát phát biểu quan điểm:
Về việc tuân theo pháp luật tố tụng: Thẩm phán được phân công giải quyết vụ án chấp hành đúng các quy định của Bộ luật tố tụng dân sự trong quá trình giải quyết vụ án; tại phiên tòa, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa đã thực hiện đúng các quy định tại phiên tòa sơ thẩm; các đương sự thực hiện đúng quyền, nghĩa vụ. Về việc giải quyết nội dung vụ án, đề nghị Hội đồng xét xử: Áp dụng Điều 26, 227,228 Bộ luật tố tụng dân sự, Điều 280 Bộ luật dân sự; Nghị quyết 326 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội: Không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn anh Hà Văn K và chị Lê Thị H về việc buộc Công ty TNHH T4 bồi thường thiệt hại cho gia đình do vi phạm hợp đồng mua bán và cung cấp dịch vụ. Chấp nhận yêu cầu phản tố của bị đơn Công ty TNHH T4. Buộc anh Hà Văn K và chị Lê Thị H có trách nhiệm thanh toán cho Công ty TNHH T4 số tiền 12.000.000đồng.
Anh K, chị H phải chịu chi phí xem xét thẩm định và trưng cầu giám định và án phí Dân sự sơ thẩm sung quỹ nhà nước.
Các đương sự có quyền kháng cáo bản án theo quy định.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào Khoản 3 Điều 26; điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật tố tụng dân sự; Điều 116, 117, 119, 430, 440, 353, 357, 468, 513, 519 Bộ luật dân sự; Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về án phí, lệ phí Tòa án.
Tuyên xử:
-
Không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn anh Hà Văn K và chị Lê Thị H về việc buộc Công ty TNHH T4 bồi thường thiệt hại do vi phạm hợp đồng mua bán và cung cấp dịch vụ số tiền là 408.100.000 đồng, bao gồm:
- - Tiền cốp pha và công thợ xây dựng: 130.000.000đồng
- - Tiền công thợ điện nước: 13.000.000đồng
- - Tiền vật liệu xây dựng gồm:
- + Sắt: 65.000.000 đồng
- + Gạch: 20.000.000đồng
- + Cát: 10.000.000đồng
- + Sỏi: 5.000.000đồng
- + Ảnh hưởng tiến độ công trình: 50.000.000đồng
- + Tiền bê tông và cần bơm: 27.100.000 đồng
- + Tiền phá mái: 100.000.000đồng
Tổng thiệt hại yêu cầu bồi thường là: 420.100.000 đồng. Được trừ tiền bê tông hiện anh K, chị H đang giữ lại: 12.000.000đồng. Số tiền yêu cầu Công ty phải bồi thường là: 408.100.000đồng.
-
Chấp nhận yêu cầu phản tố của bị đơn Công ty TNHH T4. Buộc anh Hà Văn K và chị Lê Thị H có trách nhiệm thanh toán cho Công ty TNHH T4 số tiền 12.000.000đồng (mười hai triệu đồng).
Kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án cho đến khi thi hành án xong, bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại Điều 357, Điều 468 của Bộ luật Dân sự năm 2015.
- Về chi phí tố tụng: Anh K, chị H phải chịu chi phí xem xét thẩm định và trưng cầu giám định (đã thực hiện xong).
-
Về án phí dân sự sơ thẩm: Anh K, chị H phải liên đới nộp 20.924.000đồng án phí Dân sự sơ thẩm có giá ngạch sung quỹ nhà nước. Được trừ số tiền 10.162.000đồng tạm ứng án phí đã nộp theo Biên lai thu số 0000607 ngày 29/02/2024 của Chi cục thi hành án dân sự thành phố Sông Công, Thái Nguyên. Anh K, chị H còn tiếp tục phải nộp 10.762.000đồng vào Ngân sách Nhà nước.
Hoàn trả Công ty TNHH T4 300.000đồng tạm ứng án phí đã nộp theo Biên lai thu số 0000775 ngày 08/10/2024 tại Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Sông Công, Thái Nguyên.
-
Về quyền kháng cáo: Án xử công khai sơ thẩm. Báo cho các đương sự có mặt biết có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Đương sự vắng mặt có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản sao bản án hoặc bản án được niêm yết.
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án Dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật thi hành án Dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án Dân sự.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TOÀ Đinh Thị Lan Anh |
|
THÀNH VIÊN HỘI ĐỒNG XÉT XỬ |
THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA |
Bản án số 30/2024/DS-ST ngày 19/11/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ SÔNG CÔNG, TỈNH THÁI NGUYÊN về tranh chấp hợp đồng mua bán và cung cấp dịch vụ
- Số bản án: 30/2024/DS-ST
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp hợp đồng mua bán và cung cấp dịch vụ
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 19/11/2024
- Loại vụ/việc: Dân sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ SÔNG CÔNG, TỈNH THÁI NGUYÊN
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: 2. Chấp nhận yêu cầu phản tố của bị đơn Công ty TNHH T4. Buộc anh Hà Văn K và chị Lê Thị H có trách nhiệm thanh toán cho Công ty TNHH T4 số tiền 12.000.000đồng (mười hai triệu đồng).
