|
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN NHƯ XUÂN TỈNH THANH HÓA |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
|
Bản án số: 30/2024/HS-ST Ngày 23-10-2024 |
|
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN NHƯ XUÂN, TỈNH THANH HÓA
- Với thành phần hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán – Chủ tọa phiên toà: Ông Ngô Công Tuấn.
Các hội thẩm nhân dân: 1. Ông Lê Cảnh Ái; 2. Ông Nguyễn Trung Tấn;
Thư ký phiên toà: Bà Lô Thị Minh - Thư ký Toà án nhân dân huyện Như Xuân, tỉnh Thanh Hóa.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Như Xuân, tỉnh Thanh Hóa: Ông Trương Xuân Dũng - Kiểm sát viên.
Ngày 23 tháng 10 năm 2024, tại Hội trường xét xử Tòa án nhân dân huyện Như Xuân, tỉnh Thanh Hóa xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 38/2024/TLST-HS ngày 27 tháng 9 năm 2024, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 34/2022/QĐXXST-HS ngày 09 tháng 10 năm 2024 đối với bị cáo:
Lương Ngọc S - sinh ngày: 01/4/2001
Tại huyện N, tỉnh Thanh Hóa; Nơi cư trú: Thôn Q, xã T, huyện N, tỉnh Thanh Hóa; Trình độ học vấn: 12/12. Nghề nghiệp: Lao động tự do; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Thái; Tôn giáo: Không; Con ông Lương Văn D và bà Lang Thị T; Gia đình có hai anh em, bị cáo là con thứ hai trong gia đình; Vợ, con: chưa có; Tiền án, tiền sự: Không; Bị cáo bị áp dụng biện pháp ngăn chặn bắt tạm giam từ ngày 15/06/2024 đến cho đến nay. Có mặt tại phiên tòa.
- Người bào chữa: Ông Hoàng Đức H - Trợ giúp viên pháp lý, Chi nhánh trợ giúp pháp lý số 4, Trung tâm trợ giúp pháp lý Nhà nước tỉnh T. Có mặt.
- Bị hại:
- Chị Đỗ Thị L - sinh năm: 1986; nơi cư trú: Khu phố B, thị trấn Y, huyện N, tỉnh Thanh Hóa. (Vắng mặt)
- Chị Nguyễn Thị Thu H1 - sinh năm: 1992; nơi cư trú: Khu phố A, thị trấn Y, huyện N, tỉnh Thanh Hóa. (Vắng mặt)
- Chị Vi Thị Q - sinh năm: 2006; Nơi cư trú: Thôn T, xã T, huyện N, tỉnh Thanh Hóa. (Vắng mặt)
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án:
- Anh Trần Minh T1 - sinh năm: 1989; nơi cư trú: Khu phố A, thị trấn Y, huyện N, tỉnh Thanh Hóa. (Vắng mặt)
- Anh Lê Anh T2 - sinh năm: 1998; Nơi cư trú: Thôn H, xã H, huyện N, tỉnh Thanh Hóa. (Có mặt)
- Nguyễn Hữu H2 - sinh năm: 2002; Nơi cư trú: Tiểu khu T, thị trấn N, huyện N, tỉnh Thanh Hóa. (Vắng mặt)
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 18 giờ 30 phút ngày 14 tháng 6 năm 2024, Lương Ngọc S (Sinh năm 2001, trú tại thôn Q, xã T, huyện N, tỉnh Thanh Hóa) đến cửa hàng “Nhân Lan Mobile” có địa chỉ tại khu phố B, thị trấn Y, huyện N, tỉnh Thanh Hóa. Tại đây, S gặp chủ quán là chị Đỗ Thị L (sinh năm 1986, trú tại khu phố B, thị trấn Y, huyện N) và hỏi xem 01 (Một) chiếc điện thoại Iphone 12Promax. Chị L đưa ra chiếc điện thoại Iphone 12 Promax, màu xanh, bản 128GB để Sử xem và kiểm tra máy. Xem khoảng 10 phút thì S nói với chị L là lấy chiếc điện thoại này. Sau khi chị L và S thống nhất giá bán là 12.400.000đ (Mười hai triệu bốn trăm nghìn đồng), chị L dán cường lực màn hình, lắp ốp điện thoại và lấy dây sạc điện thoại. Lúc này, chị L hỏi S chuyển khoản hay đưa tiền mặt, S nói để em ra xe lấy tiền mặt. Sử cầm điện thoại 12 Promax ra xe được vài bước thì chị L gọi và bước ra theo, S thấy chị L đi ra nên đã chạy nhanh lên xe rồi nổ máy chạy khỏi cửa hàng điện thoại về hướng chợ Y rẽ vào đường thanh niên chạy về hướng dốc trầu rồi rẽ sang đường đi huyện N, tỉnh Thanh Hóa. Đến địa phận thôn H, xã H, huyện N, S vào một cửa hàng điện thoại có tên “Anh T2” để hỏi bán chiếc điện thoại Iphone 12 promax màu xanh vừa chiếm đoạt được. Sau khi xem máy, chủ cửa hàng điện thoại là anh Lê Anh T2 (sinh năm 1998, trú tại thôn H, xã H, huyện N) đồng ý mua với giá 8.500.000đ (Tám triệu năm trăm nghìn đồng), T2 đưa cho S 3.500.000₫ (Ba triệu năm trăm nghìn đồng) tiền mặt và chuyển khoản 5.000.000đ (Năm triệu đồng) vào tài khoản ngân hàng M2 số 0397933204 mang tên Vi Thị Q (là người yêu của S). Sau khi bán được điện thoại, Lương Ngọc S quay trở về nhà của mình tại thôn Q, xã T, huyện N.
Tiếp nhận đơn trình báo của chị Đỗ Thị L, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện N đã tiến hành rà soát dữ liệu camera, áp dụng các biện pháp kiểm tra, xác minh để làm rõ sự việc và xác định đối tượng. Ngày 15/6/2024, Lương Ngọc S đã đến Cơ quan Cảnh sát điều tra đầu thú và thành khẩn khai nhận hành vi phạm tội của bản thân như đã nêu trên. Lời khai nhận tội của bị can phù hợp với lời khai của những người bị hại, phù hợp với vật chứng vụ án và dữ liệu điện tử đã thu giữ được và các chứng cứ khác đã thu thập được trong hồ sơ vụ án.
Mở rộng điều tra, Cơ quan điều tra Công an huyện N xác định ngoài hành vi cướp giật tại cửa hàng N vào ngày 14/6/2024 trên, Lương Ngọc S còn thực hiện hành vi khác như sau: Khoảng 13 giờ ngày 09/06/2024, Lương Ngọc S đến cửa hàng điện thoại di động “Anh Vũ M” có địa chỉ tại khu phố A, thị trấn Y, huyện N, tỉnh Thanh Hóa, thấy cửa hàng chỉ có một mình chủ quán là chị Nguyễn Thị Thu H1, sinh năm 1992, trú tại: khu phố A, thị trấn Y, N nên đã vào hỏi mua và xem một chiếc điện thoại di động Iphone 11Promax màu xanh rêu, dung lượng 256GB. Sau khi kiểm tra máy và thống nhất giá là 8.500.000đ (Tám triệu năm trăm nghìn đồng) thì S nói với H1: “để em ra xe lấy tiền”, S cầm theo chiếc điện thoại di động của cửa hàng ra xe thì chị H1 chủ quán cũng đi theo sát, lúc này S nói “Chị xem có chìa khóa xe em để chỗ tủ bán hàng không” thì chị H1 quay vào xem, lúc này S đã nhanh chóng lên xe, nổ máy và bỏ chạy khỏi cửa hàng về hướng xã C đi xã T, sau đó vòng xuống thị trấn Y, huyện N để tìm nơi bán chiếc điện thoại di động trên. Khi đi đến cửa hàng Đ di động “Minh Thuận M1” thuộc khu phố D, thị trấn Y, gặp anh Trần Minh T1 (sinh năm 1989, trú tại khu phố D, thị trấn Y, huyện N), là chủ quán để hỏi bán chiếc Iphone 11Promax vừa chiếm đoạt được, sau khi kiểm tra máy, anh T1 thống nhất với S mua lại máy với giá 6.500.000đ (Sáu triệu năm trăm nghìn đồng) và trả số tiền này bằng tiền mặt gồm các mệnh giá 500.000đ, 200.000đ và 100.000đ. Số tiền này S đã chi tiêu cá nhân hết.
Kết quả định giá tài sản tại Kết luận định giá 11/KL-ĐGTS ngày 15/6/2024 của Hội đồng định giá tài sản - Ủy ban nhân dân huyện N xác định: chiếc Iphone 12 ProMax tại thời điểm bị Lương Ngọc S chiếm đoạt có giá trị là 10.500.000đ (Mười triệu năm trăm nghìn đồng).
Kết quả định giá tài sản tại Kết luận định giá 12/KL-ĐGTS ngày 03/7/2024 của Hội đồng định giá tài sản - Ủy ban nhân dân huyện N xác định: chiếc Iphone 11ProMax Sử tại thời điểm bị S chiếm đoạt có giá trị 8.000.000đ (Tám triệu đồng).
Ngày 11/07/2024, Phòng K Công an tỉnh T bản Kết luận giám định số 2576/KL-KTHS xác định số tiền 1.310.000đ (Một triệu ba trăm mười nghìn đồng) thu giữ được của Lương Ngọc S là tiền thật.
Quá trình điều tra, Cơ quan điều tra đã thu giữ:
- 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu IPHONE 12PROMAX, màu xanh, dung lượng 128GB; Số máy: MG9E3LL/A; số Seri: F2MFJ3B00D42; IMEI: 357210368614909, tình trạng máy đã qua sử dụng, bên trong không gắn thẻ sim.
- 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu IPHONE 11PROMAX, màu xanh rêu, dung lượng 256GB; SỐ IMEI1: 353895107850162; Số IMEI2: 353895107876480, tình trạng máy đã qua sử dụng, bên trong không gắn thẻ sim.
- 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu IPHONE 11, màu xanh; số IMEI1: 353969104359749; Số IMEI2: 353969104386056, tình trạng máy đã qua sử dụng, bên trong gắn thẻ sim số 0397933294.
- Số tiền 3.673.000 đ (Ba triệu sáu trăm bảy mươi nghìn đồng) trong tài khoản ngân hàng M2 số 0397933204 mang tên VI THI QUYEN.
- 01 (một) thẻ nhớ nhãn hiệu Kingston DTSE9 màu bạc, dung lượng 16GB, được niêm phong trong phong bì ký hiệu “M1”.
- 01 (một) thẻ nhớ nhãn hiệu Sandisk Ultra màu đỏ xám, dung lượng 8GB, được niêm phong trong phong bì ký hiệu “V2”.
Quá trình khám xét khẩn cấp tại nhà ở của bị cáo S tại thôn Q, xã T, huyện N, tỉnh Thanh Hóa thu giữ:
- 01 (một) áo phông màu trắng, cổ tròn, có họa tiết ghi vàng ở ngực và ống tay áo; 01 (một) quần bò ngố, màu đen, có họa tiết màu trắng ở hai bên ống quần; 01 (một) mũ bảo hiểm thể thao màu trắng sữa; 01 (một) áo chống nắng màu đen có họa tiết “LV”.
- 01 (một) xe máy nhãn hiệu YAMAHA Exciter màu xanh trắng, loại 135 phân khối, biển kiểm soát 99D1-125.00; số khung: RLCE55P10DY250336; số máy: 55P1250349, tình trạng xe đã qua sử dụng.
- Số tiền 1.310.000đ (Một triệu ba trăm mười nghìn đồng) trên người Lương Ngọc S.
Quá trình điều tra, xác định: Chiếc điện thoại nhãn hiệu IPHONE 12 PROMAX trên là tài sản hợp pháp của chị Đỗ Thị L, chiếc điện thoại IPHONE 11 PROMAX là tài sản hợp pháp của chị Nguyễn Thị Thu H1, chiếc điện thoại IPHONE 11 là tài sản hợp pháp của chị Vi Thị Q nên Cơ quan điều tra đã ra Quyết định xử lý, giao trả lại cho chủ sở hữu.
Các vật chứng còn lại nêu trên đang được bảo quản, chờ xử lý theo quy định.
Về trách nhiệm dân sự:
Các bị hại đã nhận lại tài sản bị chiếm đoạt, ngoài ra gia đình bị cáo Lương Ngọc S đã tự nguyện bồi thường cho 02 cửa hàng điện thoại di động có liên quan với số tiền là 15.000.000đ (Mười lăm triệu đồng) nên không yêu cầu bồi thường gì thêm.
Tại bản Cáo trạng số: 35/CT-KSĐT-MT ngày 27 tháng 9 năm 2024 của Viện trưởng VKS huyện N đã truy tố bị cáo Lương Ngọc S về tội “Cướp giật tài sản” quy định tại khoản 1 điều 171 Bộ luật Hình sự;
Đại diện Viện kiểm sát giữ quyền công tố tại phiên tòa giữ nguyên quan điểm truy tố, hành vi của bị cáo Lương Ngọc S đủ yếu tố cấu thành tội “Cướp giật tài sản” và đề nghị Hội đồng xét xử:
- Áp dụng khoản 1 điều 171; Điều 38; Điều 50; điểm b, s khoản 1 Điều 51; điểm g khoản 1 Điều 52 Bộ luật hình sự;
- Đề nghị tuyên phạt bị cáo: Lương Ngọc S từ 24 đến 30 tháng tù giam.
- Không Áp dụng khoản 5 điều 171 BLHS là hình phạt bổ sung bằng hình thức phạt tiền đối với bị cáo, do bị cáo không có công việc và thu nhập ổn định.
Về phần dân sự:
Các bên đã thỏa thuận dân sự với nhau, nên không xem xét. Ngoài ra, Viện kiểm sát còn đề nghị xử lý vật chứng và đề nghị miễn án phí hình sự sơ thẩm cho bị cáo.
Trợ giúp viên pháp lý Hoàng Đức H bào chữa cho bị cáo nhất trí với bản Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân huyện Như Xuân truy tố Lương Ngọc S về tội Cướp giật tài sản” quy định tại khoản 1 điều 171 Bộ luật Hình sự,
Đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm b, s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật hình sự, cho bị cáo S được hưởng mức án thấp nhất của hình phạt mà điều luật quy định để bị cáo yên tâm cải tạo, sớm thành người công dân tốt; Đồng thời, xét thấy bị cáo không có công ăn việc làm ổn định, sinh sống ở vùng kinh tế xã hội đặc biệt khó khăn nên đề nghị HĐXX miễn hình phạt bổ sung và miễn án phí cho bị cáo.
Bị cáo không bổ sung ý kiến bào chữa; Bị cáo và người tham gia tố tụng khác không tranh luận gì với quan điểm của Đại diện Viện kiểm sát.
Lời nói sau cùng: Bị cáo xin Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về hành vi, Quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện N, Điều tra viên; Viện kiểm sát nhân dân huyện Như Xuân, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy đinh của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo, người bị hại và người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan không có ý kiến hoặc khiếu nại gì về hành vi, Quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, Quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
Xét thấy lời khai nhận tội của bị cáo tại phiên toà hôm nay phù hợp với lời khai nhận của bị cáo tại Cơ quan điều tra và lời khai của người tham gia tố tụng khác, cùng với các chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án như: Biên bản xác minh của Công an huyện N; đơn đề nghị, đơn trình bày người bị hại, Biên bản định giá tài sản, Biên bản ghi lời khai của bị hại, người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan nên có đủ cơ sở để kết luận:
[2] Về tội danh: Xuất phát từ động cơ vụ lợi nên vào ngày 14/6/2024, Lương Ngọc S lợi dụng sơ hở của người bị hại là chị Đỗ Thị L ở cửa hàng “N”, đã chiếm đoạt 01 (một) chiếc điện thoại Iphone 12 Promax trị giá 10.500.000đ (Mười triệu năm trăm nghìn đồng) và nhanh chóng bỏ chạy để tẩu thoát. Sau đó, S đi đến cửa hàng “Anh Tuấn” ở thôn H, xã H, huyện N, tỉnh Thanh Hóa bán chiếc điện thoại vừa chiếm đoạt được lấy 8.500.000₫ (Tám triệu năm trăm nghìn đồng) và tiêu sài cá nhân hết. Ngoài ra, ngày 09/6/2024, cùng với phương thức, thủ đoạn tương tự, S đã chiếm đoạt 01 (một) chiếc điện thoại Iphone 11ProMax trị giá 8.000.000đ (Tám triệu đồng) của chị Nguyễn Thị Thu H1 ở cửa hàng “Anh Vũ M”. Sau đó, S đến cửa hàng “Minh Thuận M1” ở khu phố D, thị trấn Y, huyện N, tỉnh Thanh Hóa bán chiếc điện thoại vừa chiếm đoạt được lấy 6.500.000₫ (Sáu triệu năm trăm nghìn đồng). Do đó, hành vi của bị cáo Lương Ngọc S đủ yếu tố cấu thành tội “Cướp giật tài sản” quy định tại khoản 1 điều 171 Bộ luật Hình sự, như Cáo trạng của Viện kiểm sát đã truy tố là đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.
[3] Xét về tính chất, mức độ hành vi, hậu quả thấy rằng: Bị cáo là người đã trưởng thành, có đầy đủ năng lực trách nhiệm hình sự và biết rõ việc chiếm đoạt tài sản của người khác là vi phạm pháp luật nhưng vì lười nhác lao động, muốn có tiền tiêu xài cá nhân nên bị cáo vẫn bất chấp thực hiện.
Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, không những trực tiếp xâm phạm quyền sở hữu tài sản của người khác là khách thể được pháp luật hình sự bảo vệ, mà còn làm mất trật tự, trị an và an toàn xã hội trên địa bàn, gây hoang mang, lo lắng trong quần chúng nhân dân.
Trong quá trình điều tra xác minh về nhân thân, lý lịch của bị cáo xác định bị cáo chưa từng bị kết án hoặc xử phạt vi phạm hành chính nhưng là đối tượng, không có nơi ở ổn định, có biểu hiện vi phạm pháp luật. Vì vậy, xét thấy cần thiết phải cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian để cải tạo, giáo dục bị cáo và nhằm răng đe phòng ngừa chung cho xã hội.
[4] Xét về nhân thân và các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của bị cáo thấy rằng: Bị cáo chưa có tiền án, tiền sự; Quá trình điều tra, truy tố và xét xử bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải. Mặt khác, bị cáo đã tác động nhờ gia đình khắc phục hậu quả, bồi thường các thiệt hại cho những người bị hại đầy đủ. Bị cáo là người dân tộc thiểu số sinh sống ở vùng kinh tế xã hội đặc biệt khó khăn nên nhận thức về pháp luật hạn chế. Do đó, cần cho bị cáo được hưởng các tình tiết giảm nhẹ: “Thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải”, “Tự nguyện bồi thường thiệt hại, khắc phục hậu quả” quy định tại điểm b, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự là phù hợp.
Trong vụ án, bị cáo đã thực hiện hành vi phạm tội 2 lần nên phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự quy định tại điểm g khoản 1 Điều 52 Bộ luật Hình sự. Vì vậy, cần thiết phải cách ly bị cáo ra ngoài đời sống xã hội một thời gian mới đủ răn đe, giáo dục bị cáo thành công dân có ích cho xã hội.
[5] Xét về hình phạt bổ sung: Bị cáo làm lao động tự do, không có tài sản, thu nhập đáng kể nên không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.
[6] Xét về phần dân sự: Bị cáo đã bồi thường đầy đủ cho các bị hại và các bị hại không yêu cầu bị cáo phải bồi thường thêm nên Hội đồng xét xử không xem xét.
[7] Về vật chứng:
- Xét thấy 01 (một) xe máy nhãn hiệu YAMAHA Exciter màu xanh trắng, loại 135 phân khối, biển kiểm soát 99D1-125.00; số khung: RLCE55P10DY250336; số máy: 55P1250349, tình trạng xe đã qua sử dụng. Đây là phương tiện bị cáo sử dụng vào việc phạm tội nhằm tẩu thoát nhanh chóng nên cần tịch thu, bán đấu giá sung công quỹ nhà nước.
- Đối với 01 (một) áo phông màu trắng, cổ tròn, có họa tiết ghi vàng ở ngực và ống tay áo; 01 (một) quần bò ngố, màu đen, có họa tiết màu trắng ở hai bên ống quần; 01 (một) mũ bảo hiểm thể thao màu trắng sữa; 01 (một) áo chống nắng màu đen có họa tiết “LV”. Đây là trang phục bị cáo mặc khi phạm tội, bị cáo không có nguyện vọng nhận lại nên tịch thu tiêu hủy là phù hợp.
- Số tiền 4.983.000 đồng là tiền bị cáo Lương Ngọc S bán tài sản chiếm đoạt mà có, tuy nhiên bị cáo đã nhờ gia đình bồi thường đầy đủ cho các bị hại, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan nên HĐXX xét thấy cần trả lại cho bị cáo là phù hợp.
- Các thẻ nhớ: 01 (một) thẻ nhớ nhãn hiệu Kingston DTSE9 màu bạc, dung lượng 16GB, được niêm phong trong phong bì ký hiệu “M1”. 01 (một) thẻ nhớ nhãn hiệu Sandisk Ultra màu đỏ xám, dung lượng 8GB, được niêm phong trong phong bì ký hiệu “V2”. Đây là các tài liệu chứng cứ của vụ án nên chuyển vào lưu trữ trong hồ sơ vụ án là phù hợp.
Quá trì nh điều tra, xác định: chiếc điện thoại nhãn hiệu IPHONE 12 PROMAX trên là tài sản hợp pháp của chị Đỗ Thị L, chiếc điện thoại IPHONE 11 PROMAX là tài sản hợp pháp của chị Nguyễn Thị Thu H1, chiếc điện thoại IPHONE 11 là tài sản hợp pháp của chị Vi Thị Q. Cơ quan điều tra đã trả lại cho chủ sở hữu theo quy định là phù hợp nên Hội đồng xét xử không xem xét.
[8] Về các vấn đề khác:
- Đối với Vi Thị Q, S và Q có mối quan hệ là người yêu của nhau từ khi cả hai cùng làm công nhân ở tỉnh Bắc Ninh, sau đó cả hai cùng nghỉ về quê tại xã T, huyện N, Thanh Hóa được khoảng một tuần cho đến khi xảy ra vụ việc Cướp giật tài sản của S. Do là người yêu nên khi xảy ra vụ cướp giật tài sản vào ngày 14/06/2024, Q đang về nhà S để ở, S có sử dụng chung điện thoại Iphone 11 màu xanh của Q, S biết mật khẩu điện thoại và mật khẩu tài khoản ngân hàng M3 của Q nên sử dụng vào việc nhận tiền sau khi bán được chiếc 12ProMax màu xanh tại huyện N, Thanh Hóa. Q không biết việc S thực hiện vụ cướp giật tài sản, không biết số tiền trong tài khoản ngân hàng của mình là do S phạm tội mà có nên cơ quan điều tra không truy cứu trách nhiệm hình sự đối với Vi Thị Q.
- Đối với Lê Anh T2 và Trần Minh T1, hiện đang kinh doanh, mua bán sửa chữa điện thoại di động, quá trình đến hai cửa hàng trên để bán 02 (hai) chiếc điện thoại cướp giật được, S đều giới thiệu điện thoại không dùng đến nên bán, tất cả điện thoại đều không có mật khẩu và giá cả không chênh lệch nhiều so với giá trị bán ra thị trường của cửa hàng kinh doanh điện thoại nên T2 và T1 không biết đó là điện thoại do S cướp giật mà có nên cơ quan điều tra không truy cứu trách nhiệm đối với anh Lê Anh T2 và Trần Minh T1.
- Đối với việc S khai nhận có 05 (năm) lần cướp giật điện thoại khác vào tháng 05/2024 tại thị xã Q, tỉnh Bắc Ninh và thành phố B, tỉnh Bắc Ninh của Lương Ngọc S: Ngày 02/07/2024 Cơ quan CSĐT Công an huyện N gửi công văn số 777-778/CV-CSĐT đến Công an thị xã Q, tỉnh Bắc Ninh và thành phố B, tỉnh Bắc Ninh về việc phối hợp rà soát các vụ việc liên quan đến hành vi Cướp giật tài sản của Lương Ngọc S vào tháng 05/2024 tuy nhiên kết quả rà soát không phát hiện trên địa bàn có vụ việc, vụ án nào liên quan đến hành vi Cướp giật tài sản như Lương Ngọc S khai báo nên Cơ quan CSĐT C huyện N không truy cứu trách nhiệm đối với Lương Ngọc S, khi nào có đủ căn cứ sẽ xử lý nghiêm theo quy định pháp luật.
[9] Án phí và quyền kháng cáo: Bị cáo là người bị kết án, thuộc các trường hợp được miễn án phí nên HĐXX miễn án phí cho bị cáo theo quy định tại điểm đ khoản 1 Điều 12 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội.
Bị cáo, người bị hại, người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan được quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ:
khoản 1 Điều 171, điểm b, s khoản 1 Điều 51; điểm g khoản 1 Điều 52; Điều 38; Điều 50; điểm a khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự. khoản 1, điểm a, c khoản 2 Điều 106; Điều 136; Điều 331,333 Bộ luật TTHS.
Tuyên bố:
Bị cáo Lương Ngọc S phạm tội “Cướp giật tài sản”.
Xử phạt:
Bị cáo Lương Ngọc S 26 (hai mươi sáu) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày 15/6/2024.
Về xử lý vật chứng và biện pháp tư pháp:
- Tịch thu 01 (một) xe máy nhãn hiệu YAMAHA Exciter màu xanh trắng, loại 135 phân khối, biển kiểm soát 99D1-125.00; số khung: RLCE55P10DY250336; số máy: 55P1250349, tình trạng xe đã qua sử dụng. Giao cho Chi cục Thi hành án dân huyện Như Xuân tổ chức bán đấu giá, số tiền thu được sung vào công quỹ Nhà nước.
- Tịch thu, tiêu hủy 01 (một) áo phông màu trắng, cổ tròn, có họa tiết ghi vàng ở ngực và ống tay áo; 01 (một) quần bò ngố, màu đen, có họa tiết màu trắng ở hai bên ống quần; 01 (một) mũ bảo hiểm thể thao màu trắng sữa; 01 (một) áo chống nắng màu đen có họa tiết “LV” đều thuộc sở hữu của bị cáo S.
- Trả lại số tiền 4.983.000đ (Bốn triệu chín trăm tám mươi ba nghìn đồng) cho bị cáo Lương Ngọc S theo giấy ủy nhiệm chi ngày 14/10/2024.
- Lưu giữ trong hồ sơ 01 (một) thẻ nhớ nhãn hiệu Kingston DTSE9 màu bạc, dung lượng 16GB, được niêm phong trong phong bì ký hiệu “M1”. 01 (một) thẻ nhớ nhãn hiệu Sandisk Ultra màu đỏ xám, dung lượng 8GB, được niêm phong trong phong bì ký hiệu “V2”.
Tất cả các vật chứng hiện đang bảo quản tại Chi cục thi hành án dân sự huyện Như Xuân theo biên bản giao nhận vật chứng, tài sản số: 01/2025/TSTV ngày 18 tháng 10 năm 2024 giữa Công an huyện N và Chi cục thi hành án dân sự huyện Như Xuân.
Về án phí:
Áp dụng Điều 6; điểm đ khoản 1 Điều 12 của Nghị quyết số 326/2016/ UBTVQH 14, ngày 30/12/2016 của UBTVQH quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án. Miễn án phí hình sự sơ thẩm đối với bị cáo Lương Ngọc S.
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7a và 9 Luật thi hành án dân sự; Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.
Án xử sơ thẩm công khai trực tiếp. Có mặt bị cáo, người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan anh Lê Anh T2; vắng mặt các bị hại, nhưng người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan khác. Bị cáo, người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan có mặt có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm. Các bị hại, những người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan vắng mặt có quyền kháng cáo Bản án trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận được Bản án hoặc Bản án được niêm yết công khai./.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA (Đã ký) Ngô Công Tuấn |
Bản án số 30/2024/HS-ST ngày 23/10/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN NHƯ XUÂN, TỈNH THANH HÓA về cướp giật tài sản
- Số bản án: 30/2024/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Cướp giật tài sản
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 23/10/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN NHƯ XUÂN, TỈNH THANH HÓA
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Lê Văn T, phạm tội "Cướp giật tài sản"
