Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN HÀ TRUNG

TỈNH THANH HÓA

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 30/2024/DS-ST

Ngày: 30 - 09 - 2024

V/v yêu cầu thực hiện nghĩa vụ trả tiền

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN HÀ TRUNG, TỈNH THANH HÓA

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: ông Đào Văn Nam.

Các Hội thẩm nhân dân: ông Đoàn Thân và bà Nguyễn Thị Chung.

- Thư ký phiên tòa: bà Lê Thị Hằng - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Hà Trung, tỉnh Thanh Hóa.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Hà Trung, tỉnh Thanh Hóa tham gia phiên tòa: bà Doãn Thị Luyến - Kiểm sát viên.

Ngày 30 tháng 09 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Hà Trung, tỉnh Thanh Hóa xét xử công khai sơ thẩm vụ án dân sự thụ lý số 15/2024/TLST-DS ngày 05 tháng 04 năm 2024 về “Yêu cầu thực hiện nghĩa vụ trả tiền”, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 07/2024/QĐXXST-DS ngày 14 tháng 08 năm 2024, giữa các đương sự:

  1. Nguyên đơn: Công ty Trách nhiệm hữu hạn D (viết tắt là Công ty D); địa chỉ: số H, đường N, phường P, thành phố T; Người đại diện theo ủy quyền (theo văn bản ủy quyền ngày 12/10/2023 của Công ty D): ông Nguyễn Văn Q – Chức vụ: Chủ tịch kiêm Tổng giám đốc Công ty TNHH D. Vắng mặt.
  2. Bị đơn: Công ty Cổ phần T1 (viết tắt là Công ty T1); Người đại diện theo pháp luật: ông Bùi Văn T – Chức vụ: Tổng Giám đốc. Vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

  1. Theo đơn khởi kiện đề ngày 01/04/2024 của Công ty D và quá trình giải quyết vụ án, người đại diện theo ủy quyền của Công ty D trình bày:

Ngày 19/12/2021, Công ty Cổ phần L (nay là Công ty cổ phận tập đoàn T1) có ký hợp đồng bảo với Công Ty D. Trong thời gian hợp đồng, Công ty D đã thực hiện đầy đủ các điều khoản trong hợp đồng và tuân thủ theo đúng quy định của pháp luật. Nhưng bên Công ty T1 đã không tuân thủ theo hợp đồng và đã vi phạm trong việc thanh toán tiền lương của nhân viên bảo vệ nên Công ty D đã dựng hợp đồng bảo vệ với Công ty T1 từ ngày 11/03/2023.

Công ty T1 đã xác nhận công nợ từ ngày 20/12/2021 đến ngày 31/07/2022 là 95.000.000 đồng. Biên bản làm việc ngày 18/08/2022, Công ty T1 đã xác nhận công nợ tính đến ngày 31/08/2022 là 107.600.000 đồng.

Ngày 03/10/2022, Công ty T1 có đề nghị hỗ trợ việc chậm thanh toán tiền lương bảo vệ, mong muốn Công ty D tạo mọi điều kiện để thanh toán tiền lương bảo vệ vào ngày 30/10/2022.

Ngày 06/12/2022, Công ty T1 đã viết giấy cam kết trả nợ cho Công ty D số tiền 50.000.000 đồng vào ngày 15/12/2022 nhưng đến ngày cam kết đã không thanh toán.

Tính đến ngày 28/02/2023, Công ty T1 đã xác nhận công nợ với Công ty D với tổng số tiền là 185.200.000 đồng. Dù đã cam kết và hứa thanh toán nhiều lần nhưng Công ty T1 vẫn không chịu thanh toán tiền lương bảo vệ cho Công ty D. Việc Công ty T1 không trả nợ đã ảnh hưởng đến quyền lợi hợp pháp của Công ty D. Vì vậy, Công ty D yêu cầu Tòa án giải quyết: buộc Công ty T1 phải trả lương bảo vệ cho Công ty D từ ngày 19/12/2021 đến ngày 28/02/2023 với tổng số tiền là 185.200.000 đồng.

  1. Tòa án đã tống đạt hợp lệ thông báo về việc thụ lý vụ án và triệu tập người đại diện theo pháp luật của Công ty T1 đến Tòa án để trình bày ý kiến đối với yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn nhưng người đại diện không có mặt mà không có lý do nên Tòa án không có bản khai trình bày ý kiến của người đại diện của Công ty T1.
  2. Kiểm sát viên tham gia phiên tòa phát biểu quan điểm: quá trình nhận đơn khởi kiện, thụ lý, giải quyết, quyết định đưa vụ án ra xét xử và tại phiên tòa, Thẩm phán, Hội đồng xét xử và Thư ký đã chấp hành đúng theo quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự. Đương sự đã được thực hiện các quyền của mình theo quy định của Bộ luật tố tụng dân sự. Đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng Điều 513, khoản 2 Điều 515, Điều 516, Điều 518, Điều 519, Điều 357, khoản 2 Điều 468 của Bộ luật Dân sự; hoản 3 Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 35 và điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 6, khoản 2 Điều 26 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc Hội. Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của Công ty D. Buộc Công ty T1 phải trả số tiền 185.200.000 đồng cho Công ty D phát sinh từ Hợp đồng dịch vụ bảo vệ số 13-2021/HĐ/DVBV ngày 19/12/2021 đã được ký kết giữa các bên.

Kể từ ngày bản án có hiệu lực pháp luật và có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án cho đến khi thi hành án xong, bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại khoản 2 Điều 468 của Bộ luật Dân sự. Buộc Công ty T1 phải chịu tiền án phí dân sự sơ thẩm là 9.260.000 đồng và trả lại cho Công ty D 4.630.000 đồng tiền tạm ứng án phí dân sự sơ thẩm đã nộp tại Chi cục thi hành án huyện Hà Trung, tỉnh Thanh Hóa.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ đã được xem xét tại phiên tòa, kết quả tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

  1. [1]. Về tố tụng:

    Nguyên đơn khởi kiện yêu cầu Tòa án giải quyết buộc bị đơn thực hiện nghĩa vụ trả tiền phát sinh từ “Hợp đồng dịch vụ bảo vệ” đã được ký kết giữa các bên; bị đơn có trụ sở tại thôn B, xã H, huyện H, tỉnh Thanh Hóa nên vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Hà Trung theo quy định tại khoản 3 Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 35 và điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự.

    Đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn đề nghị không tiến hành hòa giải vụ án nên Tòa án không tiến hành hòa giải được vụ án, thuộc trường hợp quy định tại khoản 4 Điều 207 của Bộ luật Tố tụng dân sự.

    Đại diện theo pháp luật của bị đơn đã được Tòa án triệu tập hợp lệ đến lần thứ hai để tham gia phiên tòa nhưng vẫn vắng mặt mà không có lý do, Đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn vắng mặt tại phiên tòa nhưng có đơn đề nghị xét xử vắng mặt. Vì vậy, Hội đồng xét xử quyết định xét xử vắng mặt các đương sự là phù hợp với quy định tại khoản 2 Điều 227 và khoản 3 Điều 228 của Bộ luật tố tụng dân sự.

  2. [2]. Xét nội dung Hợp đồng dịch vụ bảo: Hợp đồng dịch vụ bảo vệ số 13-2021/HĐ/DVBV do Công ty T1 và Công ty D thỏa thuận ký kết ngày 19/12/2021 là loại hợp đồng dịch vụ, trong đó các bên thỏa thuận về đối tượng của hợp đồng, quyền và nghĩa vụ của bên sử dụng dịch vụ, quyền và nghĩa vụ của bên cung ứng dịch vụ, trả tiền dịch vụ và đơn phương chấm dứt hợp đồng. Hợp đồng không vi phạm điều cấm của luật, không trái đạo đức xã hội, phù hợp với quy định tại các điều 513, 514, 515, 516, 517, 518, 519 và 520 của Bộ luật Dân sự. Do đó, buộc các bên phải thực hiện theo sự thỏa thuận được quy định tại các điều khoản trong hợp đồng.
  3. [3]. Xét yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn:

    Căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án do đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn cung cấp, đủ cơ sở khẳng định: ngày 19/12/2021, Công ty T1 và Công ty D ký kết Hợp đồng dịch vụ bảo vệ số 13-2021/HĐ/DVBV. Nội dung của hợp đồng thể hiện Công ty D cung cấp cho Công ty T1 02 nhân viên bảo vệ cho Công ty T1, thời gian làm việc 24/24, 12 giờ/01 nhân viên, trực tất cả các ngày kể cả thứ bảy, chủ nhật và ngày lễ tết; phí dịch vụ bảo vệ mà Công ty X cho Công ty D là 6.000.000 đồng/01 nhân viên/01 tháng, tổng 02 nhân viên là 12.000.000 đồng/tháng; mức phí dịch vụ bảo vệ trong các ngày lễ, tết theo quy định của pháp luật là 300%; việc thanh toán được thực hiện bằng tiền mặt hoặc chuyển khoản vào tài khoản của Công ty D; Công ty T1 có trách nhiệm thanh toán cho Công ty D vào ngày 05 – 10 của tháng kế tiếp và kèm theo biên bản xác nhận của Công ty T1. Mặc dù đã thỏa ký kết hợp đồng dịch vụ và nhiều lần cam kết trả phí dịch vụ bảo vệ cho Công ty D nhưng từ ngày 19/12/2021 đến ngày 28/02/2023, Công ty T1 đã không trả phí dịch vụ cho Công ty D là vi phạm Điều 9 của hợp đồng nên Công ty D đã chấm dứt hợp đồng với Công ty T1. Tính từ ngày 19/12/2021 đến ngày 28/02/2023, Công ty T1 còn nợ của Công ty D số tiền 185.200.000 đồng phí dịch vụ bảo vệ nên yêu cầu khởi kiện của Công ty D là có căn cứ nên được chấp nhận. Vì vậy, buộc Công ty T1 phải có trách nhiệm thanh toán số tiền 185.200.000 đồng cho Công ty D.

    Công ty D không yêu cầu tính lãi đối với số tiền mà Công ty T1 còn nợ. Mặt khác, nội dung trong Hợp đồng dịch vụ bảo vệ không thể hiện sự thỏa thuận về lãi nên miễn xét.

  4. [4]. Về án phí: do yêu cầu của Công ty D được chấp nhận nên Công ty T1 phải chịu án phí dân sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật. Trả lại số tiền tạm ứng án phí mà Công ty D đã nộp tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Hà Trung, tỉnh Thanh Hóa.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào: Điều 513, khoản 2 Điều 515, khoản 2 Điều 516, khoản 3 Điều 518, các khoản 1 và 3 Điều 519, Điều 357, khoản 2 Điều 468 của Bộ luật Dân sự.

Căn cứ vào: khoản 3 Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 35 và điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 6, khoản 6 Điều 19, khoản 2 Điều 26 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc Hội.

  1. Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của Công ty Trách nhiệm hữu hạn D.

    Buộc Công ty Cổ phần T1 phải trả số tiền 185.200.000đ (một trăm tám mươi lăm triệu, hai trăm nghìn đồng) cho Công ty Trách nhiệm hữu hạn D phát sinh từ Hợp đồng dịch vụ bảo vệ số 13-2021/HĐ/DVBV ngày 19/12/2021 đã được các bên thỏa thuận ký kết.

    Kể từ ngày bản án có hiệu lực pháp luật và có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án cho đến khi thi hành án xong, bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại khoản 2 Điều 468 của Bộ luật Dân sự.

  2. Án phí: Công ty Cổ phần T1 phải chịu 9.260.000đ (chín triệu, hai trăm sáu mươi nghìn đồng) tiền án phí dân sự sơ thẩm.

    Trả lại cho Công ty Trách nhiệm hữu hạn D 4.630.000đ (bốn triệu sáu trăm ba mươi nghìn đồng) tiền tạm ứng án phí dân sự sơ thẩm đã nộp theo biên lai thu số 0006825 ngày 05/04/2024 tại Chi cục thi hành án huyện Hà Trung, tỉnh Thanh Hóa.

  3. Quyền kháng cáo: các đương sự có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận được bản án hoặc ngày bản án được tống đạt hợp lệ.

    Trường hợp quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sựngười được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

Nơi nhận:

  • - Các đương sự;
  • - VKSND huyện Hà Trung;
  • - Chi cục THADS huyện Hà Trung;
  • - Lưu hồ sơ vụ án.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

(Đã ký)

Đào Văn Nam

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 30/2024/DS-ST ngày 30/09/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN HÀ TRUNG, TỈNH THANH HÓA về yêu cầu thực hiện nghĩa vụ trả tiền

  • Số bản án: 30/2024/DS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Yêu cầu thực hiện nghĩa vụ trả tiền
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 30/09/2024
  • Loại vụ/việc: Dân sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN HÀ TRUNG, TỈNH THANH HÓA
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: ngày 19/12/2021, Công ty T1 và Công ty D ký kết Hợp đồng dịch vụ bảo vệ số 13-2021/HĐ/DVBV. Nội dung của hợp đồng thể hiện Công ty D cung cấp cho Công ty T1 02 nhân viên bảo vệ cho Công ty T1, thời gian làm việc 24/24, 12 giờ/01 nhân viên, trực tất cả các ngày kể cả thứ bảy, chủ nhật và ngày lễ tết; phí dịch vụ bảo vệ mà Công ty X cho Công ty D là 6.000.000 đồng/01 nhân viên/01 tháng, tổng 02 nhân viên là 12.000.000 đồng/tháng; mức phí dịch vụ bảo vệ trong các ngày lễ, tết theo quy định của pháp luật là 300%; việc thanh toán được thực hiện bằng tiền mặt hoặc chuyển khoản vào tài khoản của Công ty D; Công ty T1 có trách nhiệm thanh toán cho Công ty D vào ngày 05 – 10 của tháng kế tiếp và kèm theo biên bản xác nhận của Công ty T1. Mặc dù đã thỏa ký kết hợp đồng dịch vụ và nhiều lần cam kết trả phí dịch vụ bảo vệ cho Công ty D nhưng từ ngày 19/12/2021 đến ngày 28/02/2023, Công ty T1 đã không trả phí dịch vụ cho Công ty D là vi phạm Điều 9 của hợp đồng nên Công ty D đã chấm dứt hợp đồng với Công ty T1. Tính từ ngày 19/12/2021 đến ngày 28/02/2023, Công ty T1 còn nợ của Công ty D số tiền 185.200.000 đồng phí dịch vụ bảo vệ.
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger