Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN ND HUYỆN NGA SƠN

TỈNH THANH HÓA

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 30/2024/HSST

Ngày: 26-9-2024

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN NGA SƠN, TỈNH THANH HÓA

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Trịnh Thị Thủy

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Trần Văn Hà; ông Phạm Bá Luyến.

Thư ký phiên tòa: Bà Phạm Thị Yến Nhi – Thư ký Tòa án nhân dân huyện Nga Sơn, tỉnh Thanh Hóa.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Nga Sơn, tỉnh Thanh Hóa tham gia phiên tòa: Bà Mai Thị Tâm - Kiểm sát viên.

Ngày 26/9/2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Nga Sơn, mở phiên tòa để xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 24/2024/TLST-HS ngày 08/8/2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 29/2024/QĐXXST-HS ngày 13/9/2024 đối với bị cáo:

Mai Văn H - Sinh năm 1987, tại xã N, huyện N, tỉnh Thanh Hóa; KHTT: Thôn H, xã N, huyện N, tỉnh Thanh Hóa; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ học vấn: 9/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Mai Phạm H1 (đã chết) và bà Đồng Thị H2; có vợ là Đỗ Thị H3 và có 02 người con; tiền án, tiền sự: Không; bị cáo bị tạm giữ từ ngày 27/5/2024 đến ngày 02/6/2024, sau đó được áp dụng biện pháp ngăn chặn “Cấm đi khỏi nơi cư trú” từ ngày 02/6/2024 đến nay - Có mặt.

- Bị hại: Anh Mai Chấn M - sinh năm 1990; địa chỉ: thôn F, xã N, huyện N, tỉnh Thanh Hóa - Có mặt.

  • - Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Chị Đỗ Thị H3 - sinh năm 1989; địa chỉ: Thôn H, xã N, huyện N, tỉnh Thanh Hóa - Có mặt.
  • - Người bào chữa cho bị cáo: Bà Nguyễn Thị Nữ H4 - Trợ giúp viên pháp lý thuộc Trung tâm trợ giúp pháp lý Nhà nước tỉnh T; địa chỉ: Số C, đại lộ L, phường Đ, TP ., tỉnh Thanh Hóa - Có mặt.
  • - Người tham gia tố tụng khác: Người làm chứng: Anh Đỗ Văn L - sinh năm 1984; địa chỉ: Thôn E, xã N, huyện N, tỉnh Thanh Hóa - Vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Mai Văn H là người khuyết tật nặng, làm nghề đánh lú (đánh bắt hải sản). Khoảng 00 giờ 15 phút ngày 25/5/2024, H uống bia và hát karaoke cùng với anh

Đỗ Văn N (sinh năm 1990, trú tại thôn H, xã N, huyện N), anh Đỗ Văn L (sinh năm 1984, ở thôn E, xã N) và anh Đỗ Văn M1 (sinh năm 1987, trú tại xã Đ, huyện H) tại khu đầm nuôi tôm (thuộc thôn H, xã N, huyện N) của gia đình anh Nguyễn Văn V (sinh năm 1971, trú tại thôn Đ, xã N). Trong lúc uống rượu, Mai Văn H nhớ đến việc khoảng 02 năm trước, H và ông Bùi Quang N1 (ở xã N) cùng đánh lú tại khu vực bãi vẹt ở cửa sông L. Sau đó, ông N1 chết nên chỉ còn một mình H đánh lú tại khu vực này. Đến năm 2022, vợ ông N1 bán lại thuyền, lú và lốt đánh lú tại khu vực bãi vẹt cho anh Mai Chấn M (sinh năm 1990, trú tại thôn F, xã N, huyện N). Tuy nhiên, sau khi mua và đánh lú ở khu vực này, M không nói gì với H mà tự ý mang lú đến đánh nên H bực tức, nảy sinh ý định đốt thuyền và lú của anh M.

Để thực hiện ý định của mình, khi ra về, H nói với anh Đỗ Văn L, xe máy của mình sắp hết xăng muốn xin anh L một ít xăng. Khi anh L nói còn một ít xăng đang đựng trong chai Coca cola thì H đã lấy chai xăng treo vào móc bên phải hông xe mô tô của mình rồi điều khiển xe đi dọc đê sông L đến cống C, đê N, thuộc địa phận xã N, nơi anh M đậu thuyền. H đứng trên miệng cống, gọi mấy tiếng không thấy anh M lên tiếng, Hợp đoán anh M không ngủ lại thuyền nên H nhặt một mẩu giấy ăn cầm trên tay, bước sang dốc bên trái miệng cống thì nhìn thấy 01 chiếc thuyền lớn nhãn hiệu Composite có kích thước (6,5x1,8) và 01 thuyền nhỏ nhãn hiệu Composite có kích thước (4x1,2)m của anh M đậu và che gần kín miệng cống nên H mở nắp chai xăng, tẩm một ít xăng vào đầu mẩu giấy ăn rồi đổ một phần xăng trong chai xuống phần mũi thuyền. Tiếp đó, H lấy từ trong túi quần chiếc bật lửa màu vàng, đốt tờ giấy ăn ném xuống phần mũi thuyền làm bùng lửa rồi đổ nốt phần xăng còn lại trong chai nhựa xuống thuyền. Sau đó, H đi ra chỗ xe mô tô, cầm theo chai nhựa đựng xăng đi về nhà, treo ở trên cây trong vườn của gia đình.

Khoảng 01 giờ 52 phút ngày 25/5/2024, anh Đồng Văn X (trú tại thôn H, xã N, huyện N) đi đánh cá gần khu vực anh M neo đậu thuyền, phát hiện thấy thuyền của anh M bị cháy nên đã gọi điện thoại báo tin cho anh M. Nhận được thông tin, anh M cùng vợ điều khiển xe mô tô từ nhà mình đến khu vực thuyền của gia đình neo đậu thì thấy 02 chiếc thuyền và tài sản trên thuyền gồm 01 bình ắc quy và 84 chiếc lú đang bị cháy nên đã dùng nước để dập lửa, ngăn chặn thiệt hại. Sau khi dập tắt đám cháy, anh M đã đến Công an xã N trình báo sự việc. Tài sản theo báo cáo của anh M mua năm 2023 có giá trị là 55.920.000đ (Năm mươi lăm triệu chín trăm hai mươi nghìn đồng).

Đến 10 giờ 00 phút ngày 27/5/2024, nhận thấy hành vi đốt thuyền của anh M là vi phạm pháp luật, Mai Văn H đã đến Công an xã N tự thú, đồng thời giao nộp 01 (một) chiếc xe mô tô nhãn hiệu ENGLE, màu đen, biển kiểm soát 36B2-037.50, số khung: RLGM11LHCH005292, số máy: VMVDAEH005292, đã qua sử dụng và 01 (một) bật lửa ga màu vàng – đỏ, kích thước (8x0,8x2,2)cm, phần kim loại trên nắp bật lửa có dòng chữ H-VIET, H sử dụng làm công cụ, phương tiện đi đốt thuyền của anh M.

Quá trình điều tra, chị Đỗ Thị H3 (vợ H) giao nộp 01 (một) chai nhựa, nắp màu đỏ, bên ngoài có ghi nhãn hiệu Coca cola loại 1,5 lít, H trình bày là chiếc chai

đựng xăng H sử dụng ngày 25/5/2024.

Ngày 30/5/2024, Cơ quan CSĐT đã ra Yêu cầu định giá số 522/YC-CSĐT đề nghị Hội đồng định giá huyện N tiến hành định giá tài sản đối với: 01 thuyền Composite có kích thước (6,5x1,8), có cả máy động cơ, đã qua sử dụng; 01 thuyền Composite có kích thước (4x1,2)m, đã qua sử dụng; 01 bình ắc quy nhãn hiệu “Đồng Nai” loại 100A, đã qua sử dụng; 84 chiếc lú có kích thước (31x19)cm, có chiều dài 7,8m, đã qua sử dụng, là tài sản bị thiệt hại trong vụ hủy hoại tài sản, xảy ra ngày 25/5/2024 tại cống C2 Đê N, xã N, huyện N,

Tại bản Kết luận định giá số 05/HĐ ĐGTS ngày 31/5/2024 của Hội đồng định giá tài sản huyện N kết luận: 01 thuyền Composite có kích thước (6,5x1,8), có cả máy động cơ, đã qua sử dụng tại thời điểm định giá có giá trị 6.000.000đ; 01 thuyền Composite có kích thước (4x1,2)m, đã qua sử dụng, có giá trị 4.000.000đ; 01 bình ắc quy nhãn hiệu “Đồng Nai” loại 100A, đã qua sử dụng có giá trị 1.300.000đ; 84 chiếc lú có kích thước (31x19)cm, có chiều dài 7,8m, đã qua sử dụng có giá trị 9.240.000đ. Tổng giá trị tài sản bị thiệt hại trong vụ Hủy hoại tài sản xảy ra ngày 25/5/2024 tại cống C2 Đê N, xã N, huyện N là: 20.740.000₫ (Hai mươi triệu bảy trăm bốn mươi nghìn đồng).

Ngày 03/6/2024, Cơ quan CSĐT đã ra Quyết định số 218/QĐ-ĐCSHS trưng cầu Phòng K Công an tỉnh T giám định các hình ảnh trong đoạn clip lưu giữ trong các USB do chị Đỗ Thị H3, anh Nguyễn Văn V và anh Vũ Văn Q giao nộp. Tại Kết luận giám định số 2627/KL-KTHS ngày 17/7/2024, Phòng KTHS kết luận: Không phát hiện dấu vết chỉnh sửa, cắt ghép nội dung hình ảnh trong 36 (ba mươi sáu) tệp video của 03 (ba) USB gửi giám định. (Có trích xuất 07 ảnh từ các tệp video gửi giám định).

Ngày 05/6/2024, Cơ quan CSĐT ra Quyết định số 221/QĐ-ĐCSHS trưngcầu V1 Bộ C giám định chất lỏng đựng trong 01 (một) chai nhựa, nắp màu đỏ, bên ngoài có ghi nhãn hiệu Coca cola loại 1,5 lít thu giữ tại nhà của Mai Văn H. Tại Kết luận giám định số 4267/KL-KTHS ngày17/6/2024, V1 Bộ C kết luận: chất lỏng đựng trong chai nhựa gửi giám định là xăng.

Về vật chứng: Cơ quan CSĐT Công an huyện N đang bảo quản chờ xử lý gồm: 01 chiếc xe mô tô BKS 36B2-037.50, 01 chiếc bật lửa và 01 chai nhựa nhãn hiệu Coca cola loại 1,5 lít.

Về bồi thường dân sự: Mai Văn H đã tác động gia đình bồi thường thiệt hại cho gia đình anh M số tiền 58.000.000đ (Năm mươi tám triệu đồng). Anh M không yêu cầu gì thêm đồng thời có đơn xin giảm nhẹ hình phạt cho Mai Văn H.

Từ những hành vi trên, Cáo trạng số 29/CT-VKSNS ngày 07/8/2024 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Nga Sơn, tỉnh Thanh Hóa đã truy tố Mai Văn H phạm tội “Hủy hoại tài sản” theo điểm d khoản 2 Điều 178 của BLHS. Tại phiên toà, đại diện Viện kiểm sát giữ nguyên quyết định truy tố, đồng thời đề nghị HĐXX: Áp dụng điểm d khoản 2 Điều 178; điểm b, p, r, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51; Điều 65 BLHS: Tuyên bố bị cáo Mai Văn H phạm tội “Hủy hoại tài sản”. Xử phạt Mai Văn H từ 24 tháng đến 27 tháng tù, cho hưởng án treo, thời gian thử thách từ 48 tháng đến 54 tháng, tính từ ngày tuyên án sơ thẩm. Không áp dụng hình phạt bổ

sung đối với bị cáo. Về TNDS: Bị cáo đã bồi thường cho bị hại, bị hại không có yêu cầu gì thêm nên miễn xét. Xử lý vật chứng: Áp dụng khoản 1 Điều 47 BLHS; điểm a khoản 2 Điều 106 BLTTHS: Trả lại cho chị Đỗ Thị H3: 01 xe mô tô nhãn hiệu ENGLE, màu đen, BKS 36B2-037.50; tịch thu tiêu hủy: 01 bật lửa và 01 chai nhựa nhãn hiệu Coca cola loại 1,5 lít.

Bị cáo không có ý kiến tranh luận gì, đề nghị HĐXX xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.

Trợ giúp viên pháp lý bà Nguyễn Thị Nữ H4 - Người bào chữa cho bị cáo Mai Văn H, đồng ý với bản luận tội của đại diện viện kiểm sát đã đề nghị về hành vi phạm tội, các tình tiết giảm nhẹ TNHS đối với bị cáo H nhưng đề nghị HĐXX xem xét xử phạt bị cáo dưới mức án thấp nhất của khung hình phạt và được hưởng án treo, không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo, đồng thời đề nghị miễn án phí cho bị cáo vì bị cáo là người khuyết tật nặng.

Bị hại không yêu cầu gì về phần bồi thường thiệt hại và đề nghị HĐXX giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo ở mức thấp nhất.

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đề nghị nhận lại 01 xe mô tô nhãn hiệu ENGLE, màu đen, BKS 36B2-037.50.

Căn cứ vào các chứng cứ và tài liệu đã được thẩm tra tại phiên tòa; căn cứ vào kết quả tranh luận, trên cơ sở xem xét đầy đủ toàn diện chứng cứ, ý kiến của KSV, của bị cáo và những người tham gia tố tụng.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về thủ tục tố tụng: Các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thu thập đúng trình tự quy định của pháp luật tố tụng hình sự. Cơ quan Cảnh sát điều tra, Viện Kiểm sát nhân dân huyện Nga Sơn, Điều tra viên cũng như Kiểm sát viên đã thực hiện đúng chức năng, nhiệm vụ mà pháp luật quy định. Các hành vi, quyết định tố tụng của các cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng trong giai đoạn điều tra, truy tố là hợp pháp được chấp nhận để làm cơ sở giải quyết vụ án.

[2] Về tội danh:

Do mâu thuẫn trong cuộc sống với anh Mai Chấn M nên khoảng 00 giờ 15 phút ngày 25/5/2024, tại cống C đê N, thôn H, xã N, huyện N, Mai Văn H đã có hành vi dùng xăng, là chất cháy, nguy hiểm về cháy, nổ đốt thuyền và tài sản trên thuyền của anh Mai Chấn M, gây thiệt hại 20.740.000₫ (Hai mươi triệu bảy trăm bốn mươi nghìn đồng).

Do đó, hành vi của bị cáo đã phạm vào tội “Hủy hoại tài sản” theo quy định tại điểm d khoản 2 Điều 178 BLHS như nội dung cáo trạng Viện kiểm sát nhân dân huyện Nga Sơn truy tố là đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.

[3] Về tính chất vụ án và hậu quả đối với xã hội mà hành vi phạm tội của bị cáo gây ra:

Hành vi của bị cáo là rất nguy hiểm cho xã hội, đã trực tiếp xâm phạm

quyền sở hữu tài sản của công dân được pháp luật bảo vệ, xâm phạm trật tự an toàn xã hội, gây tâm lý hoang mang và dư luận xấu trong quần chúng nhân dân địa phương. Để pháp luật được tôn trọng, trật tự an toàn xã hội được bảo đảm và duy trì, để giáo dục người phạm tội, đấu tranh phòng ngừa tội phạm, hành vi phạm tội của bị cáo cần được xử lý nghiêm theo quy định của Bộ luật hình sự.

[4] Về nhân thân và các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự (TNHS):

Về nhân thân: Bị cáo có nhân thân tốt; không có tiền án, tiền sự; không bị xử lý hành chính.

Về tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ TNHS: Bị cáo phạm tội không có tình tiết tăng nặng TNHS. Bị cáo được hưởng các tình tiết giảm nhẹ TNHS đó là: tự nguyện bồi thường thiệt hại; là người khuyết tật nặng; tự thú; thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải và được bị hại có đơn xin giảm nhẹ hình phạt; đây là các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự theo quy định tại điểm b, p, r, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự.

[5] Về hình phạt:

Đánh giá tính chất mức độ nguy hiểm của hành vi phạm tội, xem xét yếu tố nhân thân và các tình tiết giảm nhẹ TNHS như đã phân tích, HĐXX xét thấy cần lên cho bị cáo mức án tương xứng với vai trò, tính chất, mức độ phạm tội mà bị cáo phạm phải. Bị cáo không có tình tiết tăng nặng TNHS, phạm tội lần đầu, chưa từng bị xử lý vi phạm hành chính, có nhiều tình tiết giảm nhẹ TNHS, có nơi cư trú rõ ràng ổn định. Vì vậy, cần áp dụng Điều 65 BLHS để xử phạt tù cho hưởng án treo, cũng đủ điều kiện cải tạo, giáo dục bị cáo thành công dân chấp hành pháp luật tốt.

Về hình phạt bổ sung: Bị cáo lao động tự do, thu nhập không ổn định; là người khuyết tật nặng, đang được hưởng chế độ nên không áp dụng hình phạt bổ sung theo khoản 5 Điều 178 BLHS.

[6] Về trách nhiệm dân sự: Quá trình điều tra, bị cáo đã tác động gia đình bồi thường thiệt hại cho gia đình anh Mai Chấn M số tiền 58.000.000đ (Năm mươi tám triệu đồng), anh M không yêu cầu gì thêm, nên miễn xét.

[7] Về xử lý vật chứng:

01 xe mô tô nhãn hiệu ENGLE, màu đen, BKS 36B2-037.50 là tài sản của chị Đỗ Thị H3 (vợ bị cáo) mua, bị cáo dùng xe đi đốt thuyền của anh Mai Chấn M nhưng chị H3 không biết và chị H3 đề nghị được nhận lại, cần trả lại cho chị H3.

01 bật lửa và 01 chai nhựa nhãn hiệu Coca cola loại 1,5 lít, là công cụ phạm tội không có giá trị, cần tịch thu tiêu hủy.

[8] Tình tiết khác của vụ án: Đối với anh Đỗ Văn L là người cho Mai Văn H chai xăng, nhưng anh L không biết mục đích của H dùng để đốt thuyền của anh M, do đó, anh L không đồng phạm với Mai Văn H về hành vi Hủy hoại tài sản.

[9] Về án phí: Bị cáo là người khuyết tật nặng và có đơn đề nghị nên được miễn nộp tiền án phí HSST.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào: Điểm d khoản 2 Điều 178, điểm b, p, r, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51, Điều 38, Điều 65 BLHS.

1. Tuyên bố: Bị cáo Mai Văn H phạm tội “Hủy hoại tài sản”.

2. Xử phạt: Bị cáo Mai Văn H 27 (hai mươi bảy) tháng tù cho hưởng án treo. Thời gian thử thách 54 (năm mươi tư) tháng, tính từ ngày tuyên án sơ thẩm.

Giao bị cáo cho UBND xã N, huyện N, tỉnh Thanh Hóa giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách. Trường hợp người được hưởng án treo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định tại khoản 3 Điều 92 Luật thi hành án hình sự. Trong thời gian thử thách, người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ 02 lần trở lên thì Tòa án có thể quyết định buộc người được hưởng án treo phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo.

3. Về xử lý vật chứng: Căn cứ khoản 1, 2 Điều 47 BLHS; điểm a, c khoản 2, điểm a khoản 3 Điều 106 BLTTHS:

  • - Trả lại cho chị Đỗ Thị H3: 01 xe mô tô nhãn hiệu ENGLE, màu đen, BKS 36B2-037.50.
  • - Tịch thu tiêu hủy: 01 bật lửa và 01 chai nhựa nhãn hiệu Coca cola loại 1,5 lít.

(Theo biên bản giao, nhận đồ vật, tài liệu, vật chứng ngày 13/8/2024 giữa Cơ quan CSĐT Công an huyện N và Chi cục Thi hành án dân sự huyện Nga Sơn).

4. Về án phí: Căn cứ vào điểm đ khoản 1 Điều 12 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án: Bị cáo Mai Văn H được miễn nộp tiền án phí HSST.

5. Về quyền kháng cáo: Căn cứ vào Điều 331; Điều 333 BLTTHS: Bị cáo, bị hại có quyền kháng cáo bản án này trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án; người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có quyền kháng cáo bản án, quyết định của Tòa án về những vấn đề trực tiếp liên quan đến quyền lợi, nghĩa vụ của mình trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.

Nơi nhận:

  • - TAND tỉnh Thanh Hóa;
  • - VKSND tỉnh Thanh Hóa;
  • - VKSND huyện Nga Sơn;
  • - Cơ quan CSĐT Công an huyện Nga Sơn;
  • - Cơ quan THAHS Công an huyện Nga Sơn;
  • - Chi cục THADS huyện Nga Sơn;
  • - Bị cáo; Bị hại;
  • - Người có QLNVLQ (bản sao);
  • - Lưu.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Trịnh Thị Thủy

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 30/2024/HSST ngày 26/09/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN NGA SƠN, TỈNH THANH HÓA về hình sự (hủy hoại tài sản)

  • Số bản án: 30/2024/HSST
  • Quan hệ pháp luật: Hình sự (Hủy hoại tài sản)
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 26/09/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN NGA SƠN, TỈNH THANH HÓA
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Mai Văn Hợp bị xử phạt 27 tháng tù cho hưởng án treo về tội "Hủy hoại tài sản" theo điểm d khoản 2 Điều 178 BLHS
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger