|
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN PHONG ĐIỀN TỈNH THỪA THIÊN HUẾ |
CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
|
Bản án số: 30/2024/HS-ST Ngày 16-9-2024 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN PHONG ĐIỀN, TỈNH THỪA THIÊN HUẾ
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Văn Đạt.
Các Hội thẩm nhân dân:
- Ông Nguyễn Văn Lương.
- Ông Nguyễn Văn Dũng.
- Thư ký phiên tòa: Bà Bùi Thị Thanh Trúc, Thư ký Tòa án nhân dân huyện Phong Điền, tỉnh Thừa Thiên Huế.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Phong Điền, tỉnh Thừa Thiên Huế tham gia phiên tòa: Ông Trần Văn Tường, Kiểm sát viên.
Ngày 16 tháng 9 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Phong Điền, tỉnh Thừa Thiên Huế mở phiên tòa sơ thẩm xét sơ thẩm vụ án hình sự thụ lý số: 32/2024/TLST-HS ngày 08 tháng 8 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử sơ thẩm số: 29/2024/QĐXXST-HS ngày 04 tháng 9 năm 2024 đối với các bị cáo:
- Đặng Nhật M, sinh ngày 23/5/1974, tại Thừa Thiên Huế; số CCCD [...]; nơi cư trú: Thôn T, xã P, huyện P, tỉnh Thừa Thiên Huế; nghề nghiệp: Làm ruộng; trình độ học vấn: 10/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không có; quốc tịch: Việt Nam; con ông Đặng Văn K (đã chết) và bà Lê Thị T, sinh năm 1942; có vợ là Nguyễn Thị H, sinh năm 1974 và có 03 người con, lớn nhất sinh năm 1997 và nhỏ nhất sinh năm 2004; tiền án, tiền sự: Không có; bị cáo đang bị áp dụng biện pháp cấm đi khỏi nơi cư trú; có mặt.
- Lê Văn P, sinh ngày 18/8/1986, tại Quảng Trị; số CCCD [...]; nơi cư trú: Bản H, xã P, huyện P, tỉnh Thừa Thiên Huế; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ học vấn: 02/12; dân tộc: Vân Kiều; giới tính: Nam; tôn giáo: Không có; quốc tịch: Việt Nam; con ông Lê Văn Q (đã chết) và bà Hồ Thị N, sinh năm 1959; có vợ là Hồ Thị H1, sinh năm 1989 và có 03 người con, lớn nhất sinh năm 2010 và nhỏ nhất sinh năm 2018; tiền án, tiền sự: Không có; bị cáo đang bị áp dụng biện pháp cấm đi khỏi nơi cư trú; có mặt.
- Cao Thị T1, sinh ngày 28/8/1971, tại Thừa Thiên Huế; số CCCD [...]; nơi cư trú: Thôn T, xã P, huyện P, tỉnh Thừa Thiên Huế; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ học vấn: 01/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nữ; tôn giáo: Không có; quốc tịch: Việt Nam;; con ông Cao Văn T2 (đã chết) và bà Ngô Thị N1, sinh năm 1942; có chồng là Đặng Văn H2, sinh năm 1968 (đã ly dị) và có 01 người con sinh năm 1990; tiền án, tiền sự: Không có; bị cáo đang bị áp dụng biện pháp cấm đi khỏi nơi cư trú; có mặt.
- Hồ Thị T3, sinh ngày 01/01/1992, tại Quảng Trị; số CCCD [...];nơi cư trú: Bản H, xã P, huyện P, tỉnh Thừa Thiên Huế; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ học vấn: 09/12; dân tộc: Vân Kiều; giới tính: Nữ; tôn giáo: Không có; quốc tịch: Việt Nam; con ông Hồ Văn T4, sinh năm 1960 và bà Hồ Thị T5, sinh năm 1961; có chồng là Nguyễn Văn L, sinh năm 1983 và có 04 người con, lớn nhất sinh năm 2010 và nhỏ nhất sinh năm 2019; tiền án, tiền sự: Không có; bị cáo đang bị áp dụng biện pháp cấm đi khỏi nơi cư trú; có mặt.
- Hồ Vui, sinh ngày 04/01/1978, tại Thừa Thiên Huế; số CCCD [...]; nơi cư trú: Thôn T, xã P, huyện P, tỉnh Thừa Thiên Huế; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ học vấn: 04/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không có; quốc tịch: Việt Nam; con ông Hồ K1, sinh năm 1948 và bà Hồ Thị H3, sinh năm 1949; có vợ là Cao Thị N2, sinh năm 1979 và có 01 người con, sinh năm 2021; tiền án, tiền sự: Không có; bị cáo đang bị áp dụng biện pháp cấm đi khỏi nơi cư trú; có mặt.
- Hồ Thị L1, sinh ngày 06/7/1991, tại Quảng Trị; số CCCD [...]; nơi cư trú: Bản H, xã P, huyện P, tỉnh Thừa Thiên Huế; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ học vấn: 12/12; dân tộc: Vân Kiều; giới tính: Nữ; tôn giáo: Không có; quốc tịch: Việt Nam; con ông Hồ Văn L2, sinh năm 1958 và bà Hồ Thị T6, sinh năm 1960; có chồng là Hồ Xuân D, sinh năm 1991 và có 03 người con, lớn nhất sinh năm 2014 và nhỏ nhất sinh năm 2019; tiền án, tiền sự: Không có; bị cáo đang bị áp dụng biện pháp cấm đi khỏi nơi cư trú; có mặt.
- Nguyễn Thị H, sinh ngày 28/10/1974, tại Thừa Thiên Huế; số CCCD [...]; nơi cư trú: Thôn T, xã P, huyện P, tỉnh Thừa Thiên Huế; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ học vấn: 04/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nữ; tôn giáo: Không có; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Đình H4, sinh năm 1946 và bà Đặng Thị G (đã chết); có chồng là Đặng Nhật M, sinh năm 1974 và có 03 người con, lớn nhất sinh năm 1997 và nhỏ nhất sinh năm 2008; tiền án, tiền sự: Không có; bị cáo đang bị áp dụng biện pháp cấm đi khỏi nơi cư trú; có mặt.
- Hồ Thị H1, sinh ngày 05/7/1989, tại Quảng Trị; số CCCD [...]; nơi cư trú: Bản H, xã P, huyện P, tỉnh Thừa Thiên Huế; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ học vấn: 05/12; dân tộc: Vân Kiều; giới tính: Nữ; tôn giáo: Không có; quốc tịch: Việt Nam; con ông Hồ Văn D1, sinh năm 1964 và bà Hồ Thị Y; có chồng là Lê Văn P, sinh năm 1974 và có 03 người con, lớn nhất sinh năm 2010 và nhỏ nhất sinh năm 2018; tiền án, tiền sự: Không có; bị cáo đang bị áp dụng biện pháp cấm đi khỏi nơi cư trú; có mặt.
- Trần Thị Lệ H5, sinh ngày 01/01/1978, tại Thừa Thiên Huế; số CCCD [...]; nơi cư trú: Thôn T, xã P, huyện P, tỉnh Thừa Thiên Huế; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ học vấn: 05/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nữ; tôn giáo: Không có; quốc tịch: Việt Nam; con ông Trần Q1 (đã chết) và bà Thái Thị N3 (đã chết); có chồng là Trần Văn L3, sinh năm 1973 và có 04 người con, lớn nhất sinh năm 2001 và nhỏ nhất sinh năm 2011; tiền án, tiền sự: Không có; bị cáo đang bị áp dụng biện pháp cấm đi khỏi nơi cư trú; có mặt.
- Cao Thị N2, sinh ngày 07/9/1979, tại Thừa Thiên Huế; số CCCD [...]; nơi cư trú: Thôn T, xã P, huyện P, tỉnh Thừa Thiên Huế; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ học vấn: 05/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nữ; tôn giáo: Không có; quốc tịch: Việt Nam; con ông Cao Văn T2 (đã chết) và bà Ngô Thị N1, sinh năm 1942; có chồng là Hồ V, sinh năm 1978 và có 01 người con sinh năm 2021; tiền án, tiền sự: Không có; bị cáo đang bị áp dụng biện pháp cấm đi khỏi nơi cư trú; có mặt.
- Nguyên đơn dân sự: Ủy ban nhân dân xã P, huyện P, tỉnh Thừa Thiên Huế.
Người đại diện theo pháp luật: Ông Nguyễn Hữu C – Chủ tịch Ủy ban nhân dân xã P (có đơn xin xét xử vắng mặt).
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án:
- Anh Trần Hữu P1, sinh năm 1985; trú tại: Thôn L, xã P, huyện P, tỉnh Thừa Thiên Huế; có mặt.
- Người làm chứng:
- Anh Phan Văn H6, sinh năm 1972; trú tại: Thôn T, xã P, huyện P, tỉnh Thừa Thiên Huế; có mặt.
- Ông Nguyễn Q2, sinh năm 1959; trú tại: Thôn X, xã P, huyện P, tỉnh Thừa Thiên Huế; có mặt.
- Anh Lê Đình T7, sinh năm 1976; Thôn T, xã P, huyện P, tỉnh Thừa Thiên Huế; có mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng giữa tháng 12 năm 2023, Đặng Nhật M cùng nhóm thợ của mình gồm Lê Văn P, Cao Thị T1, Hồ Thị T3, Hồ V, Hồ Thị L1, Nguyễn Thị H, Hồ Thị H1, Trần Thị Lệ H5, Cao Thị N2 được anh Lê Đình T7 thuê khai thác diện tích rừng keo tràm của anh T7 tại tiểu khu D tiếp giáp với rừng phòng hộ H (thôn P, xã P, huyện P). Sau khi đã khai thác xong diện tích rừng do anh T7 thuê, nhóm của M thấy còn nhiều cây bị gãy, đổ không làm gỗ được, nên nhóm của M xin anh T7 khai thác để bán củi lấy tiền thì được anh T7 đồng ý. Sau khi đã khai thác hết số cây đã xin trên diện tích rừng trồng của anh T7, cả nhóm ngồi nghỉ ngơi và nói chuyện thì thấy rừng phòng hộ Hồ Q3 do Ủy ban nhân dân xã P quản lý, tiếp giáp với rừng trồng của anh T7 có nhiều cây bị gãy đổ nên cả nhóm cùng bàn bạc và thống nhất là tiếp tục đi lên rừng phòng hộ Hồ Quao khai thác cây gãy đổ đem bán củi lấy tiền chia nhau tiêu xài. Từ ngày 28/12/2023 đến ngày 31/12/2023, Đặng Nhật M cùng Lê Văn P, Cao Thị T1, Hồ Thị T3, Hồ V, Hồ Thị L1, Nguyễn Thị H, Hồ Thị H1, Trần Thị Lệ H5 và Cao Thị N2 đã 04 lần thực hiện hành vi khai thác trái phép cây gổ keo lai ở rừng phòng hộ H cụ thể như sau:
Lần 1: Vào khoảng 10 giờ ngày 28/12/2023, M mang theo 01 máy cưa xăng và 02 cái rựa rồi cùng nhóm thợ gồm 09 người nói trên đi đến khu vực rừng phòng hộ H để khai thác các cây keo lai. M là người trực tiếp cưa cây, P và V dùng rựa để chặt bỏ nhánh, những người còn lại T1, T3, L1, H, H1, H5 và N2 cùng bóc vỏ cây và vận chuyển cây gom lại một chỗ để chờ bốc lên xe. Khi ước lượng số gỗ đã đủ một chuyến xe thì M điện thoại thuê ông Nguyễn Q2 đưa xe máy cày đến chở số gỗ có được về bán củi cho anh Trần Hữu T8 chủ trạm cân “Phước Tài” với giá 730.000 đồng/01 tấn. Trong ngày 28/12/2023, nhóm của M đã bán cho anh T8 01 xe với trọng lượng 5,34 tấn được số tiền 3.898.200 đồng. Sau khi trả tiền thuê xe của ông Q2 là 600.000 đồng, trả tiền máy cưa xăng là 200.000 đồng. Đặng Nhật M đã chia đều cho 10 người, mỗi người được 300.000 đồng, số tiền còn lại nhóm của M thống nhất dùng để mua nước uống.
Lần 2: Ngày 29/12/2023 M cùng nhóm thợ gồm 09 người tiếp tục đi đến rừng phòng hộ H, dùng máy cưa, rựa khai thác các cây keo lai thu gom lại được 02 xe, M điện thoại thuê xe máy cày của ông Nguyễn Q2 đến chở về trạm cân “Phước Tài” cân được 9,820 tấn rồi bán cho anh Trần Hữu T8 được số tiền 7.168.000 đồng. Sau khi trả tiền thuê xe là 1.200.000 đồng và tiền cưa máy, M chia đều cho mỗi người được số tiền 550.000 đồng, số tiền còn lại cả nhóm dùng mua nước uống.
Lần 3: Ngày 30/12/2023 M cùng cùng nhóm thợ gồm 09 người tiếp tục đi đến rừng phòng hộ H, dùng máy cưa, rựa khai thác các cây keo lai thu gom lại được 02 xe, M điện thoại thuê xe máy cày của ông Nguyễn Q2 đến chở về trạm cân “Phước Tài” cân được 10,17 tấn rồi bán cho anh Trần Hữu T8 được số tiền 7.424.000 đồng. Sau khi trả tiền thuê xe là 1.200.000 đồng và tiền cưa máy, M chia đều cho mỗi người được số tiền 580.000 đồng, số tiền còn lại cả nhóm dùng mua nước uống.
Lần 4: Ngày 31/12/2023 M cùng cùng nhóm thợ gồm 09 người tiếp tục đi đến rừng phòng hộ H, dùng máy cưa, rựa khai thác các cây keo lai thu gom lại được 01 xe, M điện thoại thuê xe máy cày của ông Nguyễn Q2 đến chở. Trên đường đưa đi tiêu thụ thì lực lượng công an phát hiện bắt giữ quả tang.
Như vậy, từ ngày 28/12/2023 đến ngày 31/12/2023 Đặng Nhật M, Lê Văn P, Cao Thị T1, Hồ Thị T3, Hồ V, Hồ Thị L1, Nguyễn Thị H, Hồ Thị H1, Trần Thị Lệ H5 và Cao Thị N2 đã đến rừng phòng hộ Hồ Q3, khai thác trái phép tại lô A, khoảnh 5, tiểu khu D tổng cộng 06 (sáu) xe gỗ cây keo lai, đã bán được 05 xe với tổng khối lượng 25,33 tấn, được số tiền là 18.490.900 đồng. Số tiền có được M dùng để trả tiền xe cho ông Q2 là 3.000.000 đồng, tiền máy cưa của M hết 1.000.000 đồng, còn lại chia đều cho 10 người, mỗi người được 1.430.000 đồng và dùng để mua nước
Kết quả khám nghiệm hiện trường đã xác định tổng số lượng các cây keo lai bị Đặng Nhật M, Lê Văn P, Cao Thị T1, Hồ Thị T3, Hồ V, Hồ Thị L1, Nguyễn Thị H, Hồ Thị H1, Trần Thị Lệ H5 và Cao Thị N2 khai thác trái phép là 174 (một trăm bảy mươi bốn cây).
* Các vật chứng đã thu giữ: 01 (một) xe máy cày nhãn hiệu ISEKI-TL3210 kéo theo rơ moóc màu đen. Xe có kích thước dài 2,5m, rộng 1,8m (đã qua sử dụng); 01 (một) máy cưa xăng nhãn hiệu STIEL dài 80cm, lưỡi cưa làm bằng kim loại dài 50cm (đã qua sử dụng); 02 cái rựa đã qua sử dụng cùng có đặc điểm dài 75cm, cán làm bằng gỗ dài 25cm, lưỡi bằng kim loại dài 50cm; 83 (tám mươi ba) khúc gỗ (loại keo) có khối lượng là 1,753m3 và 3,024m3 ster củi; Tiền Ngân hàng N4: 25.016.000 đồng (hai mươi lăm triệu không trăm mười sáu ngàn đồng).
*Tại Bản kết luận giám định ngày 15/03/2024 của Sở Nông nghiệp và phát triển Nông thôn tỉnh T kết luận:
Vị trí 174 (một trăm bảy mươi bốn) cây rừng khai thác trái pháp luật thuộc lô A, khoảnh 5, tiểu khu D, xã P, huyện P được chuyển giao từ Công ty TNHH N5 cho UBND huyện P để giao cho các xã quản lý, bảo vệ và sử dụng theo quyết định số 1461/QĐ-UBND ngày 30/7/2015 và Quyết định số 1681/QĐ-UBND ngày 11/7/2019 của UBND tỉnh T.
Trạng thái rừng: gỗ trồng núi đất (RTG), chức năng rừng phòng hộ.
Tên loài (chủng loại) của 174 cây rừng bị khai thác được giám định đều là keo lai; gỗ nhóm VI, thuộc loài thực vật thông thường.
Diện tích cây rừng bị cưa hạ trái phép từ gốc cây số 01 đến cây số 174 : Do vị trí các cây rừng bị khai thác phân bố theo từng đám nhỏ rải rác hoặc đơn lẻ theo cây, rừng chưa vỡ tán nên Tổ giám định không xác định diện tích bị thiệt hại.
Tổng khối lượng gỗ cây đứng của 174 (một trăm bảy mươi bốn) cây gỗ bị khai thác là 38,180m³, gồm có: 7,677m³ khối lượng gỗ cây đứng của 39 (ba mươi chín), cây chết và 30,503m³ khối lượng gỗ cây đứng của 135 (một trăm ba mươi lăm) còn sống hoặc nghiêng ngả.
Tổng khối lượng gỗ tròn của 174 (một trăm bảy mươi bốn) cây gỗ bị khai thác là 29,781m3, gồm có 3,849m3 khối lượng gỗ tròn của 39 (ba mươi chín) cây chết và 25,932m3 khối lượng gỗ tròn của 135 (một trăm ba mươi lăm) còn sống hoặc nghiêng ngả.
Khu vực rừng bị các đối tượng khai thác tại lô A, khoảnh 5, tiểu khu D không thuộc dối tượng bị cấm khai thác. Tuy nhiên, việc thực hiện khai thác Lâm sản trong khu vực rừng này phải đảm bảo theo đúng quy định tại khoản 3 Điều 55 Luật Lâm nghiệp; Khoản 3, 4 Điều 20 Nghị định 156/2018/NĐ-CP ngày 16/11/2018 của Chính phủ quy định chi tiết thi hành một số điều của Luật Lâm nghiệp và Khoản 4, 8 Điều 2 Thông tư số 22/2023/TT-BNNPTNT ngày 15/12/2023 của Bộ N6 sửa đổi, bổ sung một số diều của các Thông tư trong lĩnh vực Lâm nghiệp.
* Tại Bản kết luận định giá số 11/KL-HĐĐGTS ngày 30/3/2024 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng huyện P, kết luận 174 cây keo lai; gỗ nhóm VI, thuộc loài thực vật thông thường. Khối lượng gốc cây đứng 38,180m3, khối lượng gỗ quy tròn 29,781m3 có giá trị 25.016.000 đồng (hai mươi lăm triệu không trăm mười sáu ngàn đồng).
* Tại Công văn số 3096/UBND-HKL ngày 20/5/2022 của Ủy ban nhân dân huyện P trả lời việc xác minh thông tin khu vực rừng tại tại lô A, khoảnh E, tiểu khu D thôn P, xã P, huyện P, tỉnh Thừa Thiên Huế như sau: rừng trồng do Công ty TNHH N5 chuyển giao cho UBND huyện P theo Quyết định số 1461/QĐ-UBND ngày 30/7/2015 của UBND tỉnh về việc chuyển giao diện tích rừng và đất rừng cho UBND huyện P để giao cho người dân các xã quản lý, sử dụng như vậy diện tích rừng trồng nêu trên là tài sản thuộc sở hữu Nhà nước, được UBND tỉnh giao cho UBND huyện P; bên cạnh đó, vị trí diện tích rừng nêu trên thuộc quy hoạch rừng phòng hộ theo Quyết định số 944/QĐ-UBND ngày 19/5/2016 về phê duyệt điều chỉnh quy hoạch bảo vệ phát triển rừng tỉnh Thừa Thiên Huế giai đoạn 2009- 2020. Ngày 20/5/2022 Ủy ban nhân dân huyện P đã ban hành công văn số 1919/UBND-HKL về việc tăng cường quản lý, bảo vệ 385,36 ha diện tích rừng và đất rừng quy hoạch phòng hộ trên địa bàn xã P và P; theo đó, UBND huyện đã chỉ đạo UBND các xã P, P quản lý về mặt Nhà nước đối với diện tích rừng nêu trên theo quy định của Pháp luật.
*Về xử lý vật chứng:
Ngày 13/7/2024, Cơ quan điều tra ra quyết định xử lý vật chứng trả lại cho chủ rừng là Ủy ban nhân dân xã P (tám mươi ba) khúc gỗ (loại keo) có khối lượng là 1,753m³ và 3,024m³ ster củi (loại keo).
Trả lại 01 (một) xe máy cày nhãn hiệu ISEKI-TL3210 kéo theo rơ moóc màu đen có kích thước dài 2,5m, rộng 1,8m (đã qua sử dụng) cho ông Nguyễn Quang . Riêng 01 (một) máy cưa xăng nhãn hiệu STIEL, 02 cái rựa và số tiền 25.016.000 đồng (hai mươi lăm triệu không trăm mười sáu ngàn đồng) do các bị cáo Đặng Nhật M, Lê Văn P, Cao Thị T1, Hồ Thị T3, Hồ V, Hồ Thị L1, Nguyễn Thị H, Hồ Thị H1, Trần Thị Lệ H5 và Cao Thị N2 tự nguyện nộp lại để khắc phục hậu quả, cần được tạm giữ để bảo đảm việc xét xử, thi hành án.
Tại Bản cáo trạng số: 32/CT-VKSPĐ ngày 06/8/2024, Viện kiểm sát nhân dân huyện Phong Điền, tỉnh Thừa Thiên Huế quyết định truy tố Đặng Nhật M và đồng phạm về tội “Vi phạm quy định về khai thác, bảo vệ rừng và lâm sản” quy định tại điểm c khoản 1 Điều 232 Bộ luật hình sự của Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017
Đại diện Viện kiểm sát thực hành quyền công tố tại phiên tòa giữ nguyên quyết định truy tố.
Về hình sự: Đề nghị áp dụng điểm c khoản 1 Điều 232; các tình tiết giảm nhẹ như: Người phạm tội tự nguyện bồi thường thiệt hại hoặc khắc phục hậu quả, phạm tội lần đầu thuộc trường hợp ít nghiêm trọng, người phạm tội thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải theo các điểm b, i, s khoản 1 Điều 51; Các bị cáo Đặng Nhật M, Lê Văn P, Hồ Thị T3, Hồ Thị L1, Hồ Thị H1 và Trần Thị Lệ H5 được áp dụng thêm khoản 2 Điều 51 của Bộ luật hình sự. Áp dụng Điều 65 của Bộ luật Hình sự năm 2015 để xử phạt các bị cáo M từ 09 tháng đến 12 tháng tù, cho hưởng án treo, thời gian thử thách từ 18 tháng đến 24 tháng. Đối với các bị cáo Lê Văn P, Cao Thị T1, Hồ Thị H7, Hồ V, Hồ Thị L1, Nguyễn Thị H, Hồ Thị H1, Trần Thị Lệ H5 và Cao Thị N2 xử phạt các bị cáo từ 06 tháng đến 09 tháng cải tạo không giam giữ.
Về vật chứng: Đề nghị căn cứ Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình và khoản 1 Điều 47 của Bộ luật Hình sự năm 2015. Tuyên trả lại cho UBND xã P số tiền là 25.016.000 đồng số tiền các bị cáo đã nộp để khắc phục hậu quả; tịch thu sung công 01 máy cưa xăng nhãn hiệu STIEL dài 80cm, lưỡi cưa làm bằng kim loại dài 50cm (đã qua sử dụng) là công cụ phạm tội, còn giá trị sử dụng; tịch thu tiêu hủy 02 cái rựa đã qua sử dụng cùng có đặc điểm dài 75cm, cán làm bằng gỗ dài 25cm, lưỡi bằng kim loại dài 50cm đã qua sử dụng, không còn giá trị sử dụng.
Người bào chữa của bị cáo Hồ Thị T3 trình bày: Cáo trạng truy tố bị cáo T3 là có căn cứ. Các tình tiết giảm nhẹ mà đại diện Viện kiểm sát đề nghị đối với bị cáo là có cơ sở. Đề nghị xem xét, giảm nhẹ cho bị cáo T3 với mức hình phạt từ 06 tháng đến 09 tháng cải tạo không giam giữ; miễn khấu trừ thu nhập và không xử phạt bổ sung là hình phạt tiền do bị cáo là người dân tộc, hoàn cảnh khó khăn. Đề nghị xem xét miễn án phí hình sự sơ thẩm cho bị cáo.
Tại phiên tòa, các bị cáo đều khai nhận hành vi phạm tội; không có ý kiến gì về hành vi, tội danh, chỉ đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về quyết định, hành vi tố tụng: Quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa, các bị cáo và người tham gia tố tụng khác đều không có ý kiến hay khiếu nại gì về các quyết định, hành vi tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người có thẩm quyền tiến hành tố tụng. Các quyết định, hành vi tố tụng đã thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định. Do đó, các quyết định, hành vi tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng và người tiến hành tố tụng là hợp pháp.
[2] Về hành vi phạm tội: Lời khai nhận tội của các bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai trong quá trình điều tra, kết luận giám định, lời khai người tham gia tố tụng khác, các vật chứng và tài liệu, chứng cứ có tại hồ sơ vụ án, do đó có đủ cơ sở kết luận:
Vào các ngày ngày 28/12/2023 đến ngày 31/12/2023, Đặng Nhật M, Lê Văn P, Cao Thị T1,Hồ Thị T3, Hồ V, Hồ Thị L1, Nguyễn Thị H, Hồ Thị H1, Trần Thị Lệ H5 và Cao Thị N2 đã có hành vi đi đến khu rừng phòng hộ Hồ Quao do Ủy ban nhân dân xã P quản lý ở tại lô A, khoảnh E, tiểu khu D, thuộc địa phân thôn P, xã P, huyện P, tỉnh Thừa Thiên Huế để cùng nhau khai thác trái phép 174 cây keo lai có tổng khối lượng gổ tròn là 29,781m³ (hai chín phẩy bảy tám một) mét khối gổ thuộc nhóm nhóm VI, gỗ loài thực vật thông thường (có tổng giá trị 25.016.000 đồng), sau đó đưa đi bán củi được tổng số tiền 18.490.200 đồng chia nhau tiêu xài.
Hành vi của các bị cáo đã cấu thành tội “Vi phạm quy định về khai thác, bảo vệ rừng và lâm sản” quy định tại điểm c khoản 1 Điều 232 Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017,
Cáo trạng của Viện kiểm sát truy tố bị cáo là có căn cứ, đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.
[3] Về tính chất, mức độ của hành vi phạm tội, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, biện pháp chấp hành hình phạt:
Trong vụ án này các bị cáo cùng nhau thực hiện tội phạm nên đồng phạm, nhưng không có sự câu kết, bàn bạc, phân công trách nhiệm chặt chẽ nên mang tính đồng phạm đơn giản. Bị cáo Đặng Nhật M là người thực hành tích cực, trực tiếp dùng cưa khai thác, gọi điện thoại thuê xe và trực tiếp bán gỗ chia tiền cho các người khác nên chịu trách nhiệm hình sự cao hơn các bị cáo khác. Các bị cáo còn lại: Hồ V, Cao Thị T1, Nguyễn Thị H, Cao Thị N2, Lê Văn P, Hồ Thị T3, Hồ Thị L1, Hồ Thị H1 và Trần Thị Lệ H5 cùng tham gia hưởng ứng thực hiện hành vi khai thác cùng được chia số tiền ngang nhau nên chịu trách nhiệm hình sự tương ứng.
Các bị cáo là người có đủ nhận thức về xã hội và đủ năng lực trách nhiệm hình sự. Các bị cáo không phạm vào tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.
Khi xem xét về mức hình phạt cũng cần cân nhắc về nhân thân, điều kiện điều kiện và nguyên nhân dẫn đến hành vi phạm tội. Các bị cáo đều “Phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng”; “quá trình điều tra và tại phiên toà đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải” và “đã tự nguyện bồi thường thiệt hại, khắc phục hậu quả”. nên áp dụng quy định tại điểm b, i, s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự 2015. Ngoài những tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự trên xét thấy, bị cáo Đặng Nhật M đã từng tham gia nghĩa vụ quân sự và được Chủ tịch Ủy ban nhân dân huyện T10 giấy khen trong công tác phòng chống dịch Covid 19. Bị cáo Lê Văn P có bố và mẹ là người có công với cách mạng đã được Chủ tịch nước tặng Huân chương kháng chiến hạng Nhì và hạng Ba. Bị cáo Trần Thị Lệ H5 có mẹ là người có công với cách mạng đã được Chủ tịch nước tặng Huy chương kháng chiến hạng Nhất; các bị cáo Lê Văn P, Hồ Thị T3, Hồ Thị L1 và Hồ Thị H1 đều là người dân tộc ít người nên sự nhận thức, hiểu biết pháp luật có phần hạn chế, nên áp dụng thêm tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự theo quy định tại Khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự 2015.
Xét thấy, các bị cáo đều có nhân thân tốt, có nơi cư trú rõ ràng, có nhiều tình tiết giảm nhẹ. Tuy nhiên cũng cần phải phân hóa vai trò trách nhiệm hình sự và các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của từng bị cáo để xử phạt đảm bảo tính nghiêm minh của pháp luật. Do đó, áp dụng Điều 65 của Bộ luật hình sự đối với bị cáo Đặng Nhật M xử phạt tù nhưng cho bị cáo được hưởng án treo; các bị cáo còn lại là Hồ V, Cao Thị T1, Nguyễn Thị H, Cao Thị N2, Lê Văn P, Hồ Thị T3, Hồ Thị L1, Hồ Thị H1 và Trần Thị Lệ H5 áp dụng Điều 36 của Bộ luật hình sự xử phạt cải tạo không giam giữ cũng đủ tác dụng giáo dục răn đe và phòng ngừa chung. Xét thấy, điều kiện của các bị cáo lao động nông nghiệp, không có thu nhập ổn định nên miễn khấu trừ thu nhập cho các bị cáo Hồ V, Cao Thị T1, Nguyễn Thị H, Cao Thị N2, Lê Văn P, Hồ Thị T3, Hồ Thị L1, Hồ Thị H1 và Trần Thị Lệ H5.
[4] Về trách nhiệm dân sự: Các bị cáo Đặng Nhật M, Hồ V, Cao Thị T1, Nguyễn Thị H, Cao Thị N2, Lê Văn P, Hồ Thị T3, Hồ Thị L1, Hồ Thị H1 và Trần Thị Lệ H5 đã tự nguyện nộp lại số tiền 25.016.000 đồng để khắc phục hậu quả, nên giao lại cho Ủy ban nhân dân xã P để sung vào Ngân sách Nhà nước (theo Uỷ nhiệm chi ngày 13/8/2024 tại tài khoản số 3949.0.1054083.00000 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Phong Điền).
[5] Về xử lý vật chứng:
- 01 máy cưa xăng nhãn hiệu STIEL dài 80cm, lưỡi cưa làm bằng kim loại dài 50cm (đã qua sử dụng) là công cụ phạm tội, còn giá trị sử dụng nên tịch thu sung vào ngân sách Nhà nước.
- 02 cái rựa đã qua sử dụng cùng có đặc điểm dài 75cm, cán làm bằng gỗ dài 25cm, lưỡi bằng kim loại dài 50cm đã qua sử dụng là công cụ phạm tội, không có giá trị nên tịch thu tiêu hủy.
[6] Về án phí: Các bị cáo Đặng Nhật M, Hồ V, Cao Thị T1, Nguyễn Thị H, Cao Thị N2, Lê Văn P, Hồ Thị T3, Hồ Thị L1, Hồ Thị H1 và Trần Thị Lệ H5 phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo luật định.
Bị cáo Hồ Thị T3 có đơn đề nghị miễn án phí hình sự sơ thẩm với lý do là hộ cận nghèo. Căn cứ điểm đ khoản 1 Điều 12, khoản 6 Điều 15 Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án, Hội đồng xét xử chấp nhận miễn nộp tiền án phí hình sự sơ thẩm cho bị cáo.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
-
Tuyên bố: Các bị cáo Đặng Nhật M, Hồ V, Cao Thị T1, Nguyễn Thị H, Cao Thị N2, Lê Văn P, Hồ Thị T3, Hồ Thị L1, Hồ Thị H1 và Trần Thị Lệ H5 phạm tội “Vi phạm quy định về khai thác, bảo vệ rừng và lâm sản” quy định tại điểm c khoản 1 Điều 232 của Bộ luật Hình sự năm 2015, được sửa đổi bổ sung năm 2017.
Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 232; điểm b, i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 và Điều 65 của Bộ luật Hình sự năm 2015, được sửa đổi bổ sung năm 2017.
- Xử phạt bị cáo Đặng Nhật M: 10 (Mười) tháng tù cho hưởng án treo, thời gian thử thách là 01 (Một) năm 08 (T9) tháng. Tính từ ngày tuyên án sơ thẩm.
Giao bị cáo Đặng Nhật M cho Ủy ban nhân dân xã P, huyện P, tỉnh Thừa Thiên Huế giám sát, giáo dục. Gia đình bị cáo có trách nhiệm phối hợp với chính quyền địa phương trong việc giám sát, giáo dục bị cáo.
Trong thời gian thử thách, người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ 02 lần trở lên thì Tòa án có thể quyết định buộc người được hưởng án treo phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo.
Trường hợp người được hưởng án treo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo qui định tại khoản 3 Điều 92 Luật thi hành án hình sự.
Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 232; điểm b, i, s khoản 1 Điều 51 và Điều 36 của Bộ luật Hình sự năm 2015, được sửa đổi bổ sung năm 2017, đối với các bị cáo Hồ V, Cao Thị T1, Nguyễn Thị H và Cao Thị N2.
- Xử phạt bị cáo Hồ V: 09 (Chín) tháng cải tạo không giam giữ. Thời hạn chấp hành án phạt cải tạo không giam giữ tính từ ngày cơ quan thi hành án hình sự Công an cấp huyện nhận được quyết định thi hành án.
- Xử phạt bị cáo Cao Thị T1: 09 (Chín) tháng cải tạo không giam giữ. Thời hạn chấp hành án phạt cải tạo không giam giữ tính từ ngày cơ quan thi hành án hình sự Công an cấp huyện nhận được quyết định thi hành án.
- Xử phạt bị cáo Nguyễn Thị H: 09 (Chín) tháng cải tạo không giam giữ. Thời hạn chấp hành án phạt cải tạo không giam giữ tính từ ngày cơ quan thi hành án hình sự Công an cấp huyện nhận được quyết định thi hành án.
- Xử phạt bị cáo Cao Thị N2: 09 (Chín) tháng cải tạo không giam giữ. Thời hạn chấp hành án phạt cải tạo không giam giữ tính từ ngày cơ quan thi hành án hình sự Công an cấp huyện nhận được quyết định thi hành án.
Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 232; điểm b, i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 và Điều 36 của Bộ luật Hình sự năm 2015, được sửa đổi bổ sung năm 2017, đối với các bị cáo Lê Văn P, Hồ Thị T3, Hồ Thị L1, Hồ Thị H1 và Trần Thị H5.
- Xử phạt bị cáo Lê Văn P: 06 (Sáu) tháng cải tạo không giam giữ. Thời hạn chấp hành án phạt cải tạo không giam giữ tính từ ngày cơ quan thi hành án hình sự Công an cấp huyện nhận được quyết định thi hành án.
- Xử phạt bị cáo Hồ Thị T3: 06 (Sáu) tháng cải tạo không giam giữ. Thời hạn chấp hành án phạt cải tạo không giam giữ tính từ ngày cơ quan thi hành án hình sự Công an cấp huyện nhận được quyết định thi hành án.
- Xử phạt bị cáo Hồ Thị L1: 06 (Sáu) tháng cải tạo không giam giữ. Thời hạn chấp hành án phạt cải tạo không giam giữ tính từ ngày cơ quan thi hành án hình sự Công an cấp huyện nhận được quyết định thi hành án.
- Xử phạt bị cáo Hồ Thị H1: 06 (Sáu) tháng cải tạo không giam giữ. Thời hạn chấp hành án phạt cải tạo không giam giữ tính từ ngày cơ quan thi hành án hình sự Công an cấp huyện nhận được quyết định thi hành án.
- Xử phạt bị cáo Trần Thị Lệ H5: 06 (Sáu) tháng cải tạo không giam giữ. Thời hạn chấp hành án phạt cải tạo không giam giữ tính từ ngày cơ quan thi hành án hình sự Công an cấp huyện nhận được quyết định thi hành án.
Giao các bị cáo Hồ V, Cao Thị T1, Nguyễn Thị H, Cao Thị N2, Lê Văn P, Hồ Thị T3, Hồ Thị L1, Hồ Thị H1 và Trần Thị Lệ H5 cho Ủy ban nhân dân xã P, huyện P, tỉnh Thừa Thiên Huế giám sát, giáo dục. Gia đình bị cáo có trách nhiệm phối hợp với chính quyền địa phương trong việc giám sát, giáo dục bị cáo.
Trường hợp vắng mặt, thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định tại Điều 100 của Luật Thi hành án hình sự năm 2019.
- Về trách nhiệm dân sự: Các bị cáo Đặng Nhật M, Hồ V, Cao Thị T1, Nguyễn Thị H, Cao Thị N2, Lê Văn P, Hồ Thị T3, Hồ Thị L1, Hồ Thị H1 và Trần Thị Lệ H5 đã tự nguyện nộp lại số tiền 25.016.000 đồng để khắc phục hậu quả, nên giao lại cho Ủy ban nhân dân xã P để sung vào Ngân sách Nhà nước (theo Uỷ nhiệm chi ngày 13/8/2024 tại tài khoản số 3949.0.1054083.00000 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Phong Điền).
-
Về xử lý vật chứng: Căn cứ vào Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự; khoản 1 Điều 47 của Bộ luật Hình sự năm 2015,
Tịch thu thu sung vào ngân sách Nhà nước 01 máy cưa xăng nhãn hiệu STIEL dài 80cm, lưỡi cưa làm bằng kim loại dài 50cm (đã qua sử dụng).
Tịch thu tiêu hủy 02 cái rựa đã qua sử dụng cùng có đặc điểm dài 75cm, cán làm bằng gỗ dài 25cm, lưỡi bằng kim loại dài 50cm đã qua sử dụng.
(Theo mô tả tại Biên bản giao, nhận đồ vật, tài liệu, vật chứng ngày 13/8/2024. Tất cả vật chứng đang tạm giữ tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Phong Điền).
-
Về án phí: Căn cứ khoản 2 Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự; điểm đ khoản 1 Điều 12, khoản 6 Điều 15; Điều 23 Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
- Buộc các bị cáo Đặng Nhật M, Lê Văn P, Cao Thị T1, Hồ V, Hồ Thị L1, Nguyễn Thị H, Hồ Thị H1, Trần Thị Lệ H5 và Cao Thị N2 mỗi bị cáo phải chịu 200.000 đồng (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.
- Miễn án phí hình sự sơ thẩm cho bị cáo Hồ Thị T3.
- Về quyền kháng cáo: Bị cáo, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan có mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án này trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Nguyên đơn dân sự vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo phần liên quan trực tiếp đến quyền lợi, nghĩa vụ của mình trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết./.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN-CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Văn Đạt |
Bản án số 30/2024/HS-ST ngày 16/09/2024 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN PHONG ĐIỀN, TỈNH THỪA THIÊN HUẾ về hình sự sơ thẩm về tội vi phạm quy định về khai thác, bảo vệ rừng và lâm sản
- Số bản án: 30/2024/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Hình sự sơ thẩm về tội Vi phạm quy định về khai thác, bảo vệ rừng và lâm sản
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 16/09/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN PHONG ĐIỀN, TỈNH THỪA THIÊN HUẾ
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Đặng Nhật M và đồng phạm bị truy tố về tội Vi phạm quy định về khai thác, bảo vệ rừng và lâm sản
