Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN PHƯỚC LONG

TỈNH BẠC LIÊU

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 30/2024/HS-ST

Ngày 14/9/2024

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN PHƯỚC LONG – TỈNH BẠC LIÊU

-

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

- Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Ông Lê Văn Đẹp

Các Hội thẩm nhân dân:

  1. Ông Trần Thanh Tuấn
  2. Bà Dương Thị Tú Phương

- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Ngân – Thư ký Tòa án nhân dân huyện Phước Long, tỉnh Bạc Liêu.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Phước Long, tỉnh Bạc Liêu tham gia phiên tòa: Ông Trần Tấn Trung – Kiểm sát viên.

Ngày 14 tháng 9 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Phước Long, tỉnh Bạc Liêu, xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 30/2024/TLST-HS ngày 28 tháng 8 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 30/2024/QĐXXST-HS ngày 30 tháng 8 năm 2024 đối với:

- Bị cáo: Phạm Hoàng P (Tên gọi khác: Không có tên gọi khác), sinh ngày 27/4/2003; tại huyện P, tỉnh Bạc Liêu. Nơi đăng ký hộ khẩu thường trú và chỗ ở hiện nay: ấp L, thị trấn P, huyện P, tỉnh Bạc Liêu; nghề nghiệp: Làm thuê; trình độ học vấn: 5/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; quốc tịch: Việt Nam; tôn giáo: Không; con ông Phạm Văn K, sinh năm 1974 và bà Nguyễn Thị T (Không rõ năm sinh); vợ, con: Chưa có; Bị cáo bị khởi tố cấm đi khỏi nơi cư trú từ ngày 20/5/2024 đến nay. (Bị cáo có mặt tại phiên toà).

- Bị hại: Ông Nguyễn Văn D, sinh ngày 01 tháng 01 năm 1983 (Tử vong). Địa chỉ: ấp L, thị trấn P, huyện P, tỉnh Bạc Liêu.

- Người đại diện hợp pháp của bị hại:

  1. Phạm Ngọc Đ, sinh ngày 01 tháng 01 năm 1956. (Mẹ ruột của bị hại). Địa chỉ: Ấp T, xã M, huyện H, tỉnh Bạc Liêu.
  2. Chị Âu Tuyết T1, sinh năm 1990. (Vợ của bị hại, có mặt tại phiên tòa)
  3. Cháu Nguyễn Âu Tuyết A, sinh ngày 21 tháng 01 năm 2012 (Con của bị hại; người đại diện hợp pháp cho cháu Nguyễn Âu Tuyết A là chị Âu Tuyết T1 – Mẹ ruột của cháu Nguyễn Âu Tuyết A).
  4. Ông Âu Quang K1, sinh năm 1973 (Cha vợ của bị hại, có mặt tại phiên tòa).
  5. Nguyễn Thị T2, sinh năm 1975 (Mẹ vợ của bị hại, vắng mặt tại phiên tòa)

Cùng địa chỉ: Ấp L, thị trấn P, huyện P, tỉnh Bạc Liêu.

Người đại diện theo ủy quyền của chị Âu Tuyết T1 và bà Phạm Ngọc Đ là ông Nguyễn Văn T3, sinh ngày 01/01/1985. Địa chỉ: ấp T, xã A, huyện Đ, tỉnh Bạc Liêu. (Có mặt tại phiên tòa)

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau: Ngày 19/01/2024, sau khi đi làm phụ hồ cho công trình xây dựng Trường tiểu học B, xã P, huyện P, bị cáo Phạm Hoàng P uống rượu cùng với những người làm chung đến khoảng hơn 21 giờ thì nghỉ uống rượu, bị cáo P một mình điều khiển xe mô tô biển số 94F6-9480 (do mình làm chủ) về nhà thuộc ấp L, thị trấn P, huyện P, tỉnh Bạc Liêu. Sau đó bị cáo Phạm Hoàng P điều khiển xe đến nhà anh Nguyễn Văn T4, ngụ ấp L, thị trấn P, huyện P, tỉnh Bạc Liêu nhờ anh T4 nói với người quản lý công trình cho bị cáo Phúc ứng tiền chi xài cá nhân nhưng không gặp. Đến khoảng 00 giờ 50 phút ngày 20/01/2024, bị cáo Phạm Hoàng P điều khiển xe mô tô (trong khi không có giấy phép lái xe, trong người có nồng độ cồn) quay về nhà, khi đến cầu P thuộc địa phận ấp L, thị trấn P, huyện P, bị cáo Phạm Hoàng P điều khiển xe lấn sang làn đường phía bên trái theo hướng di chuyển (ấp L đến ấp L) thì xảy ra va chạm với xe mô tô biển số 94F5-9018 do Nguyễn Văn D đều khiển lưu thông theo chiều ngược lại. Hậu quả làm ông Nguyễn Văn D tử vong tại tại chổ, bị cáo Phạm Hoàng P bị thương nặng được người dân đưa đi cấp cứu tại Trung tâm y tế huyện P, hai xe bị hư hỏng nặng.

Tại Bản kết luận giám định tử thi số 02/KL-GĐTT-PC09, ngày 20 tháng 02 năm 2024 của Phòng K2 Công an tỉnh B kết luận: Vùng đầu, mặt có nhiều vết trầy xước, rách, bầm tụ máu, bờ mép nham nhở. Sụp lún, lạo xạo xương gò má phải, lạo xạo xương mũi. Gãy cung hàm dưới bên phải. Lỗ tai phải có dịch màu nâu đỏ; Vùng ngực, bụng có nhiều vết trầy xước da bầm tụ máu (kiểm tra áo có nhiều vết rách tua vải ở vùng thân áo trước bên phải); Hai bên đầu gối và cẳng chân có nhiều vết trầy xước, rách da bầm tụ máu. Có dấu hiệu gãy 1/3 giữa xương cẳng chân trái.; Dưới da đầu vùng thái dương trái bầm tụ máu; Xương hộp sọ vùng thái dương trái có đường nứt. Kết luận Nguyễn Văn D chết do chấn thương sọ não.

Tại Bản kết luận định giá tài sản số: 20/KL-HĐĐGTS, ngày 06 tháng 5 năm 2024 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự huyện P kết luận: Phụ tùng xe mô tô nhãn hiệu Hon Da, biển số kiểm soát 94F5-9018. Tổng tài sản bị thiệt hại đưa ra định giá là 1.352.332 đồng.

Tại Bản kết luận định giá tài sản số 21/KL-HĐĐGTS, ngày 07 tháng 5 năm 2024 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự huyện P kết luận: Phụ tùng xe mô tô nhãn hiệu Hon Da, biển số kiểm soát 94F6-9480. Tổng tài sản bị thiệt hại đưa ra định giá là 2.954.000 đồng.

Tại phiếu chỉ định và kết quả xét nghiệm hóa sinh ngày 20/01/2024 của Bệnh viện đa khoa tỉnh B thể hiện nồng độ cồn trong máu của bị cáo Phạm Hoàng P là 1.6mg/ml.

Tại bản cáo trạng số 29/CT-VKS-HS ngày 27 tháng 8 năm 2024 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Phước Long truy tố bị cáo Phạm Hoàng P về tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ” theo quy định tại điểm a, b khoản 2 Điều 260 Bộ luật Hình sự.

Tại phiên tòa, Kiểm sát viên đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Phước Long giữ nguyên quan điểm truy tố bị cáo Phạm Hoàng P về tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ” theo quy định tại điểm a, b khoản 2 Điều 260 của Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017.

Sau khi phân tích chất, mức độ hành vi phạm tội, các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với bị cáo, bị cáo không có tình tiết tăng nặng. Qua đó đề nghị Hội đồng xét xử:

Áp dụng điểm a, b khoản 2 Điều 260; điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017 xử phạt bị cáo Phạm Hoàng P từ 03 năm đến 03 năm, 06 tháng tù.

Ngoài ra còn đề nghị xử lý vật chứng, trách nhiệm dân sự và án phí theo quy định.

Bị cáo không có ý kiến tranh luận với luận tội của Viện kiểm sát.

Đại diện bị hại có ý kiến: Về hình sự yêu cầu xử lý theo quy định pháp luật; Về dân sự yêu cầu bồi thường tổng số tiền là 234.800.000 đồng.

Bị cáo nói lời sau cùng: Bị cáo thừa nhận hành vi phạm tội và xin Hội đồng xét xử giảm án.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện P, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Phước Long, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điểu tra và tại phiên toà bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đúng theo quy định của pháp luật.

[2] Tại phiên tòa, bị cáo Phạm Hoàng P thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội như cáo trạng đã truy tố. Lời khai nhận của bị cáo tại phiên tòa là thống nhất và

phù hợp với lời khai của bị cáo trong quá trình điều tra, phù hợp với các chứng cứ, tài liệu khác có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, làm rõ tại phiên tòa. Do đó, Hội đồng xét xử có đủ căn cứ xác định, vào khoảng 00 giờ 50 phút, ngày 20/01/2024 bị cáo Phạm Hoàng P điều khiển xe mô tô biển số 94F6-9480 vi phạm quy định về an toàn giao thông đường bộ như đi không đúng phần đường; trong tình trạng có sử dụng rượu (nồng độ cồn trong máu là 1.6mg/ml) và điều khiển xe mô tô hai bánh có dung tích xi lanh từ 50cm3 đến dưới 175cm3 mà không có giấy phép lái xe được quy định tại khoản 1 Điều 9 Luật giao thông đường bộ; khoản 1 Điều 35 Luật phòng, chống tác hại của rượu, bia và điểm b khoản 2 Điều 58 Luật giao thông đường bộ dẫn đến va chạm với xe mô tô biển số 94F5-9018 do bị hại Nguyễn Văn D điều khiển lưu thông theo hướng ngược lại thuộc ấp L, thị trấn P, huyện P, tỉnh Bạc Liêu. Hậu quả làm bị hại Nguyễn Văn D tử vong tại chổ. Hành vi nêu trên của bị cáo Phạm Hoàng P đã đủ yếu tố cấu thành tội “Vi phạm quy định về giao thông đường bộ” theo quy định tại điểm a, b khoản 2 Điều 260 của Bộ luật hình sự. Do đó, Viện kiểm sát nhân dân huyện Phước Long truy tố bị cáo về tội “Vi phạm quy định về giao thông đường bộ” theo điểm a, b khoản 2 Điều 260 của Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi bô sung năm 2017 và đưa ra mức hình phạt là có căn cứ đúng người, đúng tội, đúng quy định pháp luật nên được Hội đồng xét xử chấp nhận.

[3] Xét thấy hành vi thực hiện tội phạm nêu trên của bị cáo đã gây thiệt hại đến tính mạng của anh Nguyễn Văn D được pháp luật bảo vệ. Mặc dù bị cáo không mong muốn, nhưng bị cáo là người đủ năng lực chịu mọi trách nhiệm về việc mình đã gây ra. Vì vậy, Hội đồng xét xử, xét thấy cần phải xử phạt bị cáo mức án nghiêm, áp dụng hình phạt tù có thời hạn, cách ly bị cáo khỏi xã hội một thời gian cần thiết nhằm trừng trị răn đe, giáo dục bị cáo và phòng ngừa chung cho xã hội.

[4] Tuy nhiên, trong quá trình điều tra cũng như tại phiên tòa sơ thẩm bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải đây là tình tiết giảm nhẹ được quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017. Bị cáo không có tình tiết tăng nặng.

[5] Về trách nhiệm dân sự: Tại phiên tòa người đại diện hợp pháp của bị hại Nguyễn Văn D yêu cầu bị cáo Phạm Hoàng P bồi thường về dân sự gồm: Tiền mai táng phí 75.000.000 đồng, tiền tổn thất tinh thần 90.000.000 đồng, tiền sửa chữa xe mô tô hai bánh biển số 94F5-9018 là 5.000.000 đồng, tiền cấp dưỡng nuôi Nguyễn Âu Tuyết A, sinh ngày 21/01/2012 (con bị hại Nguyễn Văn D) đến 18 tuổi là 64.800.000 đồng. Tổng số tiền yêu cầu là 234.800.000 đồng; Bị cáo cũng đồng ý bồi thường và không trái với quy định của pháp luật nên cần được ghi nhận.

[6] Về vật chứng: Cơ quan đang tạm giữ một mũ bảo hiểm màu xanh dương, bên trong lòng mũ bảo hiểm có mũ mềm (dạng mũ tai bèo); Một chiếc dép màu đen có chữ adaids (dép bên phải); Các mảnh nhựa vỡ; Một mũ bảo hiểm màu trắng; Một mũ mềm (dạng mũ lưỡi trai) có dòng chữ TOYOTA NINH KIEU; Cụm đèn hậu, chắn bùn và biển số 94F6-9480; Bốn mảnh thủy tinh (phát hiện thu trên tử thi Nguyễn Văn D); Một quần tây màu xám có nhiều vết rách tưa vải ở vùng gối phải và kheo trái (Nguyễn Văn D mặc trên người); Một áo sơ mi dài tay màu trắng

có nhiều vết rách tưa vải ở mặt trước bên phải thân áo và dính chất màu nâu đỏ (Nguyễn Văn D mặc trên người) bị cáo và đại diện bị hại không có yêu cầu nhận lại và cũng không có giá trị nên áp dụng điểm c khoản 2 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự tịch thu tiêu hủy:

Đối với 01 xe mô tô nhãn hiệu Honda có dòng chữ Wave ZX, không có biển số, số máy VLKZS1P50FMH00057206, số khung VLKPCH022LK057206 là của bị cáo nên áp dụng điểm b khoản 3 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự trả cho bị cáo nhưng để đảm bảo thi hành nên Đề nghị thi hành án giữ lại để thi hành án.

[7] Về án phí: Áp dụng khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự, Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án. Buộc bị cáo Phạm Hoàng P phải nộp 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm và án phí dân sự sơ thẩm có giá ngạch là 11.740.000 đồng.

Từ những phân tích nêu trên, xét lời luận tội của kiểm sát viên tham gia phiên tòa về mức hình phạt đối với bị cáo và xử lý vật chứng là phù hợp với quy định của pháp luật nên được Hội đồng xét xử chấp nhận.

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào điểm a, b khoản 2 Điều 260; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38 Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017.

1. Tuyên bố bị cáo Phạm Hoàng P phạm tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ”.

Xử phạt bị cáo Phạm Hoàng P 03 (Ba) năm, 06 (Sáu) tháng tù. Thời hạn tù được tính kể từ ngày bị cáo bị bắt đi chấp hành án.

2. Về trách nhiệm dân sự: Căn cứ Điều 48 Bộ luật Hình sự, Điều 591 Bộ luật Dân sự; Ghi nhận ý chí tự nguyện giữa bị cáo Phạm Hoàng P với đại diện hợp pháp của bị hại yêu cầu bồi thường tổng số tiền là 234.800.000 đồng. Buộc bị cáo Phạm Hoàng P phải có trách nhiệm bồi thường cho đại diện bị hại bà Phạm Ngọc Đ; Chị Âu Tuyết T1; Ông Âu Quang K1; Bà Nguyễn Thị T2 tổng số tiền là 234.800.000 đồng (Hai trăm, ba mươi bốn triệu, tám trăm nghìn đồng).

“Kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án (đối với các khoản tiền phải trả cho người được thi hành án) cho đến khi thi hành án xong tất cả các khoản tiền, hàng tháng bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại khoản 2 Điều 357 và Điều 468 Bộ luật dân sự 2015”.

3. Về xử lý vật chứng: Áp dụng điểm c khoản 2, điểm b khoản 3 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự tịch thu tiêu hủy: Một mũ bảo hiểm màu xanh dương, bên trong lòng mũ bảo hiểm có mũ mềm (dạng mũ tai bèo); Một chiếc dép màu đen có chữ adaids (dép bên phải); Các mảnh nhựa vỡ; Một mũ bảo hiểm màu trắng; Một mũ mềm (dạng mũ lưỡi trai) có dòng chữ TOYOTA NINH KIEU; Cụm đèn hậu, chắn bùn và biển số 94F6-9480; Bốn mảnh thủy tinh (phát hiện thu trên tử thi

Nguyễn Văn D); Một quần tây màu xám có nhiều vết rách tưa vải ở vùng gối phải và kheo trái (Nguyễn Văn D mặc trên người); Một áo sơ mi dài tay màu trắng có nhiều vết rách tưa vải ở mặt trước bên phải thân áo và dính chất màu nâu đỏ (Nguyễn Văn D mặc trên người).

Trả cho bị cáo 01 xe mô tô nhãn hiệu Honda có dòng chữ Wave ZX, không có biển số, số máy VLKZS1P50FMH00057206, số khung VLKPCH022LK057206 nhưng để đảm bảo thi hành nên Đề nghị thi hành án giữ lại để thi hành án.

(Các vật chứng trên do Chi cục Thi hành án dân sự huyện Phước Long dạng quản lý theo biên bản về việc giao nhận vật chứng, tài sản ngày 28/8/2024).

4. Về án phí hình sự sơ thẩm: Áp dụng khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự, Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Buộc bị cáo Phạm Hoàng P phải nộp 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm và án phí dân sự sơ thẩm có giá ngạch 11.740.000 đồng.

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, 7, 7a và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

Bị cáo, người đại diện hợp pháp cho bị hại có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày, Viện kiểm sát cùng cấp có quyền kháng nghị trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án./.

Nơi nhận:

  • - TAND tỉnh Bạc Liêu;
  • - VKSND tỉnh Bạc Liêu;
  • - Sở Tư pháp tỉnh Bạc Liêu;
  • - VKSND huyện Phước Long;
  • - CQCSĐT Công an huyện Phước Long;
  • - Chi cục THADS huyện Phước Long;
  • - Bị cáo, bị hại;
  • - Người tham gia tố tụng khác;
  • - Lưu hồ sơ vụ án.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN – CHỦ TOẠ PHIÊN TOÀ

Lê Văn Đẹp

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 30/2024/HS-ST ngày 14/09/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN PHƯỚC LONG – TỈNH BẠC LIÊU về vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ

  • Số bản án: 30/2024/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 14/09/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN PHƯỚC LONG – TỈNH BẠC LIÊU
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Tuyên xử 03 (ba) năm, 6 (sáu) tháng tù
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger