Hệ thống pháp luật

TOÀ ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN KBANG

TỈNH GIA LAI

CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 30/2024/HNGĐ-ST.

Ngày: 12/9/2024.

“V/v: Ly hôn giữa bà Lan và ông Trí”

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN KBANG,TỈNH GIA LAI

-Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Lê Văn Nguyên.

Các Hội thẩm nhân dân:

  1. Ông Trần Xuân Tư.
  2. Bà Hoàng Thị Quế.

-Thư ký phiên toà:

Bà Phạm Thị Tố Uyên - Thư ký Toà án nhân dân (TAND) huyện Kbang, tỉnh Gia Lai.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân (VKSND) huyện Kbang, tỉnh Gia Lai tham gia phiên tòa:

Bà Nguyễn Thu Thuỳ - Kiểm sát viên (KSV).

Trong ngày 12/9/2024, tại trụ sở TAND huyện Kbang, tỉnh Gia Lai xét xử sơ thẩm công khai vụ án hôn nhân và gia đình (HN&GĐ) thụ lý số 99/2024/TLST-HNGĐ ngày 17/5/2024 về tranh chấp: “Kiện xin ly hôn” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 30/2024/QÐST-HNGĐ ngày 16/8/2024 và Quyết định hoãn phiên toà số: 20/2024/QÐST-HNGĐ ngày 30/8/2024, giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Bà Ngô Thị L, sinh năm 1972;

Địa chỉ: Thôn A, xã N, huyện K, tỉnh Gia Lai.

- Bị đơn: Ông Nguyễn Hữu T, sinh năm 1970;

Địa chỉ: Thôn A, xã N, huyện K, tỉnh Gia Lai.

Bà L vắng mặt nhưng có đơn xin xét xử vắng mặt, ông T lần thứ hai vắng mặt tại phiên tòa.

NỘI DUNG VỤ ÁN

1. Về quan hệ hôn nhân: Bà Ngô Thị L và ông Nguyễn Hữu T qua thời gian quen biết, tìm hiểu đã tự nguyện tiến tới hôn nhân, có đăng ký kết hôn (ĐKKH) tại Ủy ban nhân dân (UBND) xã N, huyện K, tỉnh Gia Lai vào ngày 09/3/1995.

Quá trình chung sống, vợ chồng ông bà đã phát sinh nhiều mâu thuẫn. Nguyên nhân mâu thuẫn theo bà L trình bày là do ông bà không hợp tính tình nhau, khác nhau về quan điểm sống, vợ chồng thường hay xảy ra cãi vã dẫn đến cuộc sống hôn nhân căng thẳng, không có hạnh phúc, vợ chồng không còn tình cảm với nhau nên bà L đề nghị Tòa án giải quyết cho bà được ly hôn với ông T.

Về phía bị đơn ông Nguyễn Hữu T đã không đồng ý ly hôn theo yêu cầu của bà L.

2. Về con chung: Bà L và ông T có 02 con chung tên Nguyễn Thị Diễm T1, sinh năm 1994 và Nguyễn Hoài L1, sinh năm 1999. Do 02 con chung đều đã thành niên, có khả năng lao động nên ông bà đều không yêu cầu Tòa án giải quyết.

3. Về tài sản chung: Bà L và ông T tự thỏa thuận giải quyết với nhau về tài sản chung nên đều không yêu cầu Tòa án giải quyết.

4. Về nợ chung: Bà L và ông T không có nợ chung nên đều không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Các tài liệu, chứng cứ được nguyên đơn giao nộp, gồm: 01 Trích lục kết hôn mang tên Ngô Thị L và Nguyễn Hữu T (bản sao), 01 Căn cước công dân mang tên Ngô Thị L (bản photo), 02 Giấy khai sinh mang tên Nguyễn Thị Diễm T1 và Nguyễn Hoài L1 (đều là bản sao).

Các tình tiết, sự kiện không phải chứng minh: Bà L và ông T tự nguyện tiến tới hôn nhân, có ĐKKH tại UBND xã N, huyện K, tỉnh Gia Lai vào ngày 09/3/1995; ông bà có 02 con chung tên Nguyễn Thị Diễm T1, sinh năm 1994 và Nguyễn Hoài L1, sinh năm 1999. Điều này được thể hiện qua chứng cứ do bà L giao nộp là Trích lục kết hôn mang tên Ngô Thị L và Nguyễn Hữu T (bản sao), 02 Giấy khai sinh mang tên Nguyễn Thị Diễm T1 và Nguyễn Hoài L1 (đều là bản sao).

Tại phiên tòa, KSV phát biểu quan điểm của VKSND huyện Kbang, tỉnh Gia Lai về việc giải quyết vụ án như sau:

Đề nghị Hội đồng xét xử (HĐXX) áp dụng các Điều 28, 35, 39, 93, 94, 143, 144, 147, 227, 228, 238 và 266 của BLTTDS năm 2015; các Điều 51, 56 và 57 của Luật HN&GĐ năm 2014; Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội;

Xử:

  • - Về quan hệ hôn nhân: Xử cho bà Ngô Thị L được ly hôn với ông Nguyễn Hữu T.
  • -Về án phí ly hôn sơ thẩm (LHST): Nguyên đơn bà Ngô Thị L phải chịu án phí theo quy định.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

[1] Về tố tụng dân sự: Bà Ngô Thị L có đơn khởi kiện đề nghị TAND huyện Kbang, tỉnh Gia Lai giải quyết tranh chấp hôn nhân và gia đình giữa bà và ông Nguyễn Hữu T. Theo quy định tại khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 của BLTTDS năm 2015 thì vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của TAND huyện Kbang, tỉnh Gia Lai.

Quá trình giải quyết vụ án, bị đơn ông Nguyễn Hữu T luôn vắng mặt trong các lần Tòa án triệu tập và không tham gia phiên hòa giải do Tòa án tổ chức. Tại phiên tòa lần thứ nhất mở vào ngày 30/8/2024, mặc dù đã được Tòa án tống đạt Quyết định đưa vụ án ra xét xử và Giấy triệu tập đương sự tham gia phiên tòa hợp lệ nhưng ông T đã vắng mặt. Tại phiên tòa hôm nay, ông lại tiếp tục vắng mặt nên HĐXX căn cứ vào quy định tại các Điều 227 và 228 của Bộ luật tố tụng dân sự (BLTTDS) năm 2015 để tiến hành xét xử vắng mặt bị đơn.

[2] Về quan hệ hôn nhân: Bà Ngô Thị L và ông Nguyễn Hữu T tự nguyện tiến tới hôn nhân, có ĐKKH tại UBND xã N, huyện K, tỉnh Gia Lai vào ngày 09/3/1995 nên quan hệ hôn nhân của ông bà được pháp luật công nhận.

Quá trình chung sống, vợ chồng ông bà đã phát sinh nhiều mâu thuẫn. Nguyên nhân mâu thuẫn theo bà L trình bày là do ông bà không hợp tính tình nhau, khác nhau về quan điểm sống, vợ chồng thường hay xảy ra cãi vã dẫn đến cuộc sống hôn nhân căng thẳng, không có hạnh phúc, vợ chồng không còn tình cảm với nhau nên bà đề nghị Tòa án giải quyết cho bà được ly hôn với ông T. Về phía bị đơn ông Nguyễn Hữu T, mặc dù không muốn ly hôn nhưng ông luôn vắng mặt trong các lần Tòa án tổ chức hòa giải nên việc hòa giải cho ông bà hàn gắn gia đình không thực hiện được. Vì vậy, xét mâu thuẫn vợ chồng giữa bà L và ông T đã thực sự trầm trọng, mục đích hôn nhân không đạt được nên cần căn cứ quy định tại các Điều 51 và 56 của Luật HN&GĐ năm 2014 để chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà L, xử cho bà L được ly hôn với ông T.

[3] Về con chung: Bà Ngô Thị L và ông Nguyễn Hữu T có 02 con chung tên Nguyễn Thị Diễm T1, sinh năm 1994 và Nguyễn Hoài L1, sinh năm 1999. Do hai con chung đều đã thành niên, có khả năng lao động nên ông bà không yêu cầu Tòa án giải quyết; vì vậy, HĐXX không xem xét.

[4] Về tài sản chung: Bà Ngô Thị L và ông Nguyễn Hữu T có tài sản chung nhưng tự thỏa thuận giải quyết với nhau nên ông bà không yêu cầu Tòa án giải quyết; vì vậy, HĐXX không xem xét.

[5] Về nợ chung: Bà Ngô Thị L và ông Nguyễn Hữu T không có nợ chung nên ông bà không yêu cầu Tòa án giải quyết; vì vậy, HĐXX không xem xét.

[6] Về án phí LHST: Bà L phải chịu theo quy định là 300.000 đồng.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

  • - Căn cứ vào các Điều 51, 56 và 57 của Luật HN&GĐ năm 2014;
  • - Căn cứ các Điều 28, 35, 39, 91, 93, 94, 95, 108, 143, 144, 147, 227, 228, 238, 266, 271 và 273 của BLTTDS năm 2015;
  • - Căn cứ vào Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội;

Xử:

  1. 1. Về quan hệ hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn bà Ngô Thị L, xử cho bà L được ly hôn với bị đơn ông Nguyễn Hữu T.
  2. 2. Về án phí: Bà Ngô Thị L phải chịu án phí LHST là 300.000 đồng nhưng được trừ vào số tiền tạm ứng án phí bà đã nộp là 300.000 đồng theo Biên lai thu tạm ứng phí, lệ phí Tòa án số: 0002173 ngày 17/5/2024 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Kbang, tỉnh Gia Lai; bà L đã nộp đủ án phí LHST.

Trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật, hai đương sự có quyền làm đơn kháng cáo để yêu cầu TAND tỉnh Gia Lai xét xử phúc thẩm./.

Nơi nhận:

  • -TAND tỉnh Gia Lai;
  • -VKSND huyện Kbang;
  • -Chi cục THADS huyện K;
  • -Các đương sự;
  • -UBND cấp xã nơi ĐKKH;
  • -Lưu HSVA, VPTA.

TM.HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN-CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Lê Văn Nguyên

4

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 30/2024/HNGĐ-ST ngày 12/09/2024 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN KBANG, TỈNH GIA LAI về ly hôn giữa bà lan và ông trí

  • Số bản án: 30/2024/HNGĐ-ST
  • Quan hệ pháp luật: Ly hôn giữa bà Lan và ông Trí
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 12/09/2024
  • Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
  • Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN KBANG, TỈNH GIA LAI
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Ly hôn giữa bà L và ông T
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger