|
TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN 11 THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
|
Bản án số: 30/2024/KDTM-ST Ngày 27 - 8 - 2024 V/v tranh chấp hợp đồng tín dụng. |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN 11, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Trần Cơ Dũng
Các Hội thẩm nhân dân:
- 1. Ông Huỳnh Lý Chung
- 2. Bà Nguyễn Lê Thu
- Thư ký phiên tòa: Bà Lương Diệu Thu - Thư ký Tòa án nhân dân Quận 11, Thành phố Hồ Chí Minh
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Quận 11, Thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên tòa: Bà Trần Thị Thanh Thúy - Kiểm sát viên.
Ngày 27 tháng 8 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân Quận 11, Thành phố Hồ Chí Minh (số A Ông Í, Phường E, Quận A, Thành phố Hồ Chí Minh), xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 24/2023/TLST-KDTM ngày 05 tháng 6 năm 2023 về “Tranh chấp về hợp đồng tín dụng” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 94/2024/QĐXXST-KDTM ngày 05 tháng 7 năm 2024 và Quyết định hoãn phiên tòa số 84/2024/QĐST-KDTM ngày 30 tháng 7 năm 2024, giữa các đương sự:
II. Những người tham gia phiên họp
1. Nguyên đơn: Ngân hàng Thương mại cổ phần X1; địa chỉ: Tầng H, Văn phòng số L + 16 Tòa nhà V, số G L, phường B, Quận A, Thành phố Hồ Chí Minh;
Người đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn: Ông Vũ Hải Đ và ông Vũ Công V; địa chỉ: F Đường C, Phường A, Quận A, Thành phố Hồ Chí Minh (theo Giấy ủy quyền số 143/2024/EIBQ10/UQ-GĐ và số 144/2024/EIBQ10/UQ-GÐ ngày 05/3/2024); ông Đ vắng mặt, ông V có mặt.
2. Bị đơn: Công ty Cổ phần T4; địa chỉ: 1 Đường C, Phường A, Quận A, Thành phố Hồ Chí Minh;
Người đại diện theo pháp luật của bị đơn: Ông Bùi Văn B; địa chỉ: 1 Đường C, Phường A, Quận A, Thành phố Hồ Chí Minh; vắng mặt.
1
3. Đồng bị đơn: Ông Bùi Văn B; địa chỉ: 1 Đường C, Phường A, Quận A, Thành phố Hồ Chí Minh; vắng mặt.
4. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
- 4.1. Ông Bùi Văn H và bà Ngô Thị X; địa chỉ: 2 M, phường B, quận B, Thành phố Hồ Chí Minh; vắng mặt.
- 4.2. Bà Bùi Thị Kim N; địa chỉ: 5 L, Phường A, Quận E, Thành phố Hồ Chí Minh; vắng mặt.
- 4.3. Ông Lại Đình Đ1 – Chủ hộ kinh doanh Ngân Ký; địa chỉ: 5 L, Phường A, Quận E, Thành phố Hồ Chí Minh; vắng mặt.
- 4.4. Bà Đặng Thị H1 - Chủ hộ kinh doanh K1; địa chỉ: 5 L, Phường A, Quận E, Thành phố Hồ Chí Minh; vắng mặt.
- 4.5. Bà Trương Thị Ngọc D, bà Lê Gia H2, bà Ung Ngọc Phương T, bà Phan Nguyễn Ngọc T1, bà Phan Nguyễn Ngọc T2, ông Phan Đoàn K, bà Phạm Thùy Lan A, bà Phạm Thùy Vân A1, bà Nguyễn Võ Lệ H3, bà Trần Thị Như Q, ông Trịnh Võ Minh Q1, ông Trịnh Phát Đ2, ông Nguyễn Minh N1, bà Ngô Lương Minh U, bà Nguyễn Khánh H4, ông Nguyễn Hữu N2, bà Võ Thị Phương N3, bà Võ Bảo H5, bà Trần Thị Thanh T3, ông Trần Quang Đ3 và bà Huỳnh Thị Thảo L; địa chỉ: 5 L, Phường A, Quận E, Thành phố Hồ Chí Minh; vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
* Theo đơn khởi kiện, bản tự khai và các biên bản hòa giải, người đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn trình bày:
Công ty Cổ phần T4 (gọi tắt là Công ty T4) và Ngân hàng TMCP X1 (gọi tắt là E) có ký kết Hợp đồng tín dụng LAV210055654/1012 ngày 08/7/2021. Theo đó, E cấp cho Công ty T4 hạn mức vay là 4.000.000.000 đồng. E đã giải ngân nhiều lần cho Công ty T4 theo các khế ước nhận nợ. Tính đến ngày 27/8/2024, Công ty T4 còn nợ E số tiền cụ thể như sau:
- - Nợ vốn gốc: 4.000.000.000 đồng.
- - Nợ lãi: 815.505.190 đồng. Trong đó:
- + Nợ lãi trong hạn: 19.337.261 đồng.
- + Nợ lãi quá hạn: 823.148.219 đồng.
- + Nợ lãi phạt chậm trả lãi: 3.019.710 đồng.
- Tổng cộng: 4.845.505.190 đồng.
E đề nghị Tòa án giải quyết buộc Công ty T4 có trách nhiệm thanh toán ngay số nợ trên ngay khi bản án, quyết định có hiệu lực pháp luật.
Công ty T4 còn phải tiếp tục chịu lãi theo lãi suất thỏa thuận trong hợp đồng tín dụng và các hợp đồng tín dụng kiêm khế ước nhận nợ kể từ ngày 28/8/2024 cho đến khi thanh toán xong nợ.
Trường hợp Công ty T4 không trả được nợ hoặc trả không đủ thì Ngân hàng
2
được quyền phát mại tài sản thế chấp là căn nhà và đất tọa lạc tại địa chỉ số E L, Phường A, Quận E thuộc sở hữu của ông Bùi Văn H và bà Ngô Thị X, theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số GCN-CH13149 do Ủy ban nhân dân Quận E1 cấp ngày 25/8/2017, theo hai hợp đồng thế chấp gồm Hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất, tài sản gắn liền với đất số 152/2017/EIB-Q10/TC/KHDN đã được công chứng số 24128 ngày 03/10/2017 tại Phòng Công chứng số 2 Thành phố H; đã đăng ký giao dịch đảm bảo ngày 03/10/2017 và Hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất, tài sản gắn liền với đất số 09/2018/EIB-Q10/TC/KHDN đã được công chứng số 02788 ngày 10/01/2018 tại Phòng Công chứng số 2 Thành phố H; đã đăng ký giao dịch đảm bảo ngày 30/01/2018.
Trường hợp sau khi phát mại tài sản thế chấp vẫn không đủ để thanh toán nợ thì Công ty T4 có trách nhiệm tiếp tục thực hiện việc hoàn trả các khoản tiền nợ gốc và nợ lãi phát sinh bằng các tài sản khác cho đến khi thanh toán xong nợ cho Ngân hàng.
Về cá nhân, ông Bùi Văn B có ký Hợp đồng tín dụng số LAV190017290/1012 ngày 06/3/2019 và Hợp đồng tín dụng số LAV200079517/1012 ngày 11/9/2020 để vay tổng số tiền là 5.300.000.000 đồng tại E. Ông B vi phạm nghĩa vụ thanh toán nên E đề nghị Tòa án giải quyết như sau:
Buộc ông Bùi Văn B thanh toán số nợ tạm tính đến ngày 27/8/2024 cụ thể như sau:
- - Nợ vốn gốc: 1.971.622.000 đồng.
- - Nợ lãi trong hạn: 323.225.464 đồng.
- - Nợ lãi quá hạn: 114.516.615 đồng.
- - Nợ lãi phạt chậm trả lãi: 26.366.116 đồng.
- Tổng cộng: 2.435.730.195 đồng.
Ông Bùi Văn B có tránh nhiệm thanh toán một lần số tiền nợ trên.
Ông Bùi Văn B còn phải tiếp tục chịu lãi theo lãi suất thỏa thuận trong hợp đồng tín dụng và các hợp đồng tín dụng kiêm khế ước nhận nợ kể từ ngày 28/8/2024 cho đến khi thanh toán xong nợ.
Trường hợp ông Bùi Văn B không trả được nợ thì E được quyền yêu cầu cơ quan thi hành án có thẩm quyền phát mại tài sản thế chấp là căn nhà và đất tọa lạc tại địa chỉ số E L, Phường A, Quận E thuộc sở hữu của ông Bùi Văn H và bà Ngô Thị X, theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số GCN-CH13149 do Ủy ban nhân dân Quận E1 cấp ngày 25/8/2017, theo Hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất, tài sản gắn liền với đất số 58/2019/EIB-Q10/TC/KHCN đã được công chứng số 04432 ngày 06/3/2019 tại Phòng Công chứng số 2 Thành phố H; đã đăng ký giao dịch đảm bảo ngày 06/3/2019 và Hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất, tài sản gắn liền với đất số 132/2020/EIB-Q10/TC/KHCN đã được công chứng số 16147 ngày 11/9/2020 tại Phòng Công chứng số 2 Thành phố H; đã đăng ký giao dịch đảm bảo ngày
3
11/9/2020.
Tại phiên tòa, người đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn trình bày bổ sung: Đối với kết quả xem xét thẩm định tại chỗ ngày 28/11/2023 xác định căn nhà và đất tại địa chỉ số E L, Phường A, Quận E thuộc sở hữu của ông Bùi Văn H và bà Ngô Thị X có phần xây dựng sai phạm, có thay đổi so với Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số GCN-CH13149, không được nhà nước công nhận do đã tồn tại trước khi các bên ký kết hợp đồng thế chấp và được các bên thống nhất là thuộc tài sản thế chấp, được xử lý chung với tài sản; quá trình giải quyết thì các bên không có ý kiến gì về phần tài sản này nên nguyên đơn đề nghị Hội đồng xét xử xem xét chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn về quyền được yêu cầu cơ quan thi hành án dân sự có thẩm quyền xử lý tài sản thế chấp trong trường hợp bị đơn không thanh toán được nợ. Đối với các yêu cầu khác thì người đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn giữ nguyên yêu cầu khởi kiện.
* Bị đơn - Công ty Cổ phần T4 – do ông Bùi Văn B đại diện theo pháp luật trình bày:
Tại các biên bản hòa giải, ông Bùi Văn B trình bày:
Phía bị đơn xác nhận có ký kết Hợp đồng tín dụng LAV210055654/1012 ngày 08/7/2021 với hạn mức vay là 4.000.000.000 đồng và hiện còn nợ phía nguyên đơn số tiền như phía nguyên đơn trình bày.
Phía bị đơn xác nhận tài sản thế chấp là căn nhà và đất tọa lạc tại địa chỉ số E L, Phường A, Quận E thuộc sở hữu của ông Bùi Văn H và bà Ngô Thị X có xây dựng sửa chữa phát sinh không có giấy phép nên phía bị đơn không thể phối hợp cùng với phía nguyên đơn xử lý tài sản để giải quyết công nợ. Đồng thời, do tình hình kinh doanh khó khăn nên phía bị đơn chưa thể có ngay nguồn tiền để thanh toán trả cho phía nguyên đơn; vì vậy, phía bị đơn đề nghị phía nguyên đơn cho lùi thời hạn thanh toán số nợ trên.
Phía bị đơn vắng mặt tại phiên tòa nên không có lời trình bày bổ sung.
* Đồng bị đơn – ông Bùi Văn B trình bày:
Tại các biên bản hòa giải, ông Bùi Văn B trình bày:
Ông Bùi Văn B với tư cách là đồng bị đơn trong vụ án xác nhận có ký kết Hợp đồng tín dụng số LAV190017290/1012 ngày 06/3/2019 và Hợp đồng tín dụng số LAV200079517/1012 ngày 11/9/2020 để vay tổng số tiền là 5.300.000.000 đồng tại E và hiện còn nợ phía nguyên đơn số tiền như phía nguyên đơn trình bày.
Ông Bùi Văn B xác nhận hiện nay chưa có khả năng thanh toán số nợ trên cho phía nguyên đơn.
Phía bị đơn vắng mặt tại phiên tòa nên không có lời trình bày bổ sung.
* Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan – ông Bùi Văn H và bà Ngô Thị X trình bày:
Quá trình giải quyết vụ án, bà Ngô Thị X vắng mặt; ông Bùi Văn H trình bày
4
ý kiến tại các biên bản hòa giải như sau:
Ông Bùi Văn H xác nhận vợ chồng ông có ký kết các hợp đồng thế chấp với Ngân hàng Thương mại cổ phần X1 để bảo đảm các khoản vay của Công ty Cổ phần T4 và của cá nhân ông Bùi Văn B, bao gồm: Hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất, tài sản gắn liền với đất số 152/2017/EIB-Q10/TC/KHDN đã được công chứng số 24128 ngày 03/10/2017 tại Phòng Công chứng số 2 Thành phố H; Hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất, tài sản gắn liền với đất số 09/2018/EIB-Q10/TC/KHDN đã được công chứng số 02788 ngày 10/01/2018 tại Phòng Công chứng số 2 Thành phố H; đã đăng ký giao dịch đảm bảo ngày 30/01/2018; Hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất, tài sản gắn liền với đất số 58/2019/EIB-Q10/TC/KHCN đã được công chứng số 04432 ngày 06/3/2019 tại Phòng Công chứng số 2 Thành phố H; đã đăng ký giao dịch đảm bảo ngày 06/3/2019 và Hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất, tài sản gắn liền với đất số 132/2020/EIB-Q10/TC/KHCN đã được công chứng số 16147 ngày 11/9/2020 tại Phòng Công chứng số 2 Thành phố H.
Ông Bùi Văn H xác nhận căn nhà và đất tại địa chỉ số E L, Phường A, Quận E có xây dựng sửa chữa phát sinh không có giấy phép nên không thể phối hợp cùng với phía nguyên đơn xử lý tài sản để giải quyết công nợ. Đồng thời, do tình hình kinh doanh khó khăn nên phía bị đơn chưa thể có ngay nguồn tiền để thanh toán trả cho phía nguyên đơn; vì vậy, ông Bùi Văn H đề nghị phía nguyên đơn xem xét tạo điều kiện cho bị đơn lùi thời gian thanh toán số nợ trên.
Ông Bùi Văn H và bà Ngô Thị X vắng mặt tại phiên tòa nên không có lời trình bày bổ sung.
* Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan – bà Bùi Thị Kim N trình bày:
Bà Bùi Thị Kim N đã được triệu tập hợp lệ nhưng vắng mặt nên không có lời trình bày.
* Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan – ông Lại Đình Đ1 – Chủ hộ kinh doanh Ngân Ký trình bày:
Ông Lại Đình Đ1 đã được triệu tập hợp lệ nhưng vắng mặt nên không có lời trình bày.
* Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan – bà Đặng Thị H1 - Chủ hộ kinh doanh Kim C trình bày:
Bà Đặng Thị H1 đã được triệu tập hợp lệ nhưng vắng mặt nên không có lời trình bày.
* Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan – bà Trương Thị Ngọc D, bà Lê Gia H2, bà Ung Ngọc Phương T, bà Phan Nguyễn Ngọc T1, bà Phan Nguyễn Ngọc T2, ông Phan Đoàn K, bà Phạm Thùy Lan A, bà Phạm Thùy Vân A1, bà Nguyễn Võ Lệ H3, bà Trần Thị Như Q, ông Trịnh Võ Minh Q1, ông Trịnh Phát Đ2, ông Nguyễn Minh N1, bà Ngô Lương Minh U, bà Nguyễn Khánh H4, ông Nguyễn Hữu N2, bà Võ Thị Phương N3, bà Võ Bảo H5, bà Trần Thị Thanh T3, ông Trần Quang Đ3 và bà Huỳnh Thị Thảo L trình bày:
5
Phía người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đã được triệu tập hợp lệ nhưng vắng mặt nên không có lời trình bày.
* Trong quá trình giải quyết vụ án, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan gồm có bà Ngô Thị X, bà Bùi Thị Kim N, ông Lại Đình Đ1, bà Đặng Thị H1, bà Trương Thị Ngọc D, bà Lê Gia H2, bà Ung Ngọc Phương T, bà Phan Nguyễn Ngọc T1, bà Phan Nguyễn Ngọc T2, ông Phan Đoàn K, bà Phạm Thùy Lan A, bà Phạm Thùy Vân A1, bà Nguyễn Võ Lệ H3, bà Trần Thị Như Q, ông Trịnh Võ Minh Q1, ông Trịnh Phát Đ2, ông Nguyễn Minh N1, bà Ngô Lương Minh U, bà Nguyễn Khánh H4, ông Nguyễn Hữu N2, bà Võ Thị Phương N3, bà Võ Bảo H5, bà Trần Thị Thanh T3, ông Trần Quang Đ3 và bà Huỳnh Thị Thảo L không có yêu cầu độc lập. Tòa án đã thực hiện việc cấp, tống đạt, thông báo văn bản tố tụng như thông báo thụ lý vụ án, giấy triệu tập, thông báo mở phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải, thông báo kết quả phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ, quyết định đưa vụ án ra xét xử và quyết định hoãn phiên tòa nhưng người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt, không đến Tòa án để giải quyết. Do đó, Tòa án không thể tiến hành ghi nhận ý kiến của người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan.
* Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Quận 11, Thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên tòa có ý kiến như sau:
- Về thủ tục tố tụng: Trong quá trình giải quyết vụ án, Thẩm phán được phân công giải quyết vụ án đã thực hiện đúng quy định của Bộ luật tố tụng dân sự trong việc xác định nội dung tranh chấp, thẩm quyền giải quyết tranh chấp, tư cách người tham gia tố tụng; tiến hành thu thập chứng cứ đầy đủ, tiến hành mở phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải đúng quy định. Tuy nhiên, Tòa án còn chậm đưa vụ án ra xét xử. Tại phiên tòa, Hội đồng xét xử và Thư ký phiên tòa đã tuân theo đúng các quy định của Bộ luật tố tụng dân sự về việc xét xử sơ thẩm vụ án dân sự; thủ tục tố tụng tại phiên tòa đúng trình tự luật định. Nguyên đơn thực hiện đầy đủ quyền và nghĩa vụ tố tụng; bị đơn và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan chưa thực hiện đầy đủ quyền và nghĩa vụ tố tụng.
- Về nội dung vụ án: Đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn về việc buộc bị đơn trả số tiền nợ vốn gốc, nợ lãi, nợ lãi chậm trả và yêu cầu xử lý tài sản thế chấp.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:
[1] Về quan hệ tranh chấp và thẩm quyền giải quyết:
Về quan hệ tranh chấp:
E và Công ty T4 có ký kết Hợp đồng tín dụng LAV210055654/1012 ngày 08/7/2021. Các bên ký kết và thực hiện hợp đồng nhằm mục đích lợi nhuận, bổ sung vốn kinh doanh. Căn cứ khoản 3 Điều 4 Luật Thương mại năm 2005; khoản 1
6
Điều 30 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015; Điều 1 Nghị quyết 01/2019/NQ-HĐTP ngày 11/01/2019 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao về hướng dẫn áp dụng một số quy định của pháp luật về lãi, lãi suất, phạt vi phạm, Hội đồng xét xử xác định quan hệ tranh chấp giữa hai bên là “tranh chấp hợp đồng tín dụng”, là tranh chấp về kinh doanh, thương mại.
E và ông Bùi Văn B có ký kết Hợp đồng tín dụng số LAV190017290/1012 ngày 06/3/2019 và Hợp đồng tín dụng số LAV200079517/1012 ngày 11/9/2020. Các bên ký kết và thực hiện hợp đồng nhằm mục đích sửa chữa nhà và hoàn trả tiền cho người thân, không nhằm mục đích lợi nhuận. Căn cứ khoản 3 Điều 26 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015; Điều 1 Nghị quyết 01/2019/NQ-HĐTP ngày 11/01/2019 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao về hướng dẫn áp dụng một số quy định của pháp luật về lãi, lãi suất, phạt vi phạm, Hội đồng xét xử xác định quan hệ tranh chấp giữa hai bên là “tranh chấp hợp đồng tín dụng”, là tranh chấp về dân sự.
Về thẩm quyền giải quyết:
Công ty T4 có trụ sở tại địa chỉ 1 Đường C, Phường A, Quận A, Thành phố Hồ Chí Minh. Căn cứ điểm b khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự, Hội đồng xét xử xác định vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân Quận 11, Thành phố Hồ Chí Minh.
Đồng bị đơn là ông Bùi Văn B cư trú tại địa chỉ 1 Đường C, Phường A, Quận A, Thành phố Hồ Chí Minh. Căn cứ điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự, Hội đồng xét xử xác định vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân Quận 11, Thành phố Hồ Chí Minh.
[2] Về pháp luật nội dung được áp dụng:
Hợp đồng gồm Hợp đồng tín dụng LAV210055654/1012 ngày 08/7/2021 được ký kết giữa E và Công ty T4 có xác định mục đích vay là để bổ sung vốn kinh doanh và do các bên đều là chủ thể của quan hệ kinh doanh, thương mại; quan hệ tranh chấp giữa hai bên được xác định là quan hệ tranh chấp hợp đồng tín dụng, là quan hệ tranh chấp về kinh doanh, thương mại; vì vậy, Hội đồng xét xử áp dụng các quy định của Luật Thương mại và Luật các tổ chức tín dụng để giải quyết tranh chấp giữa các bên.
Hợp đồng tín dụng số LAV190017290/1012 ngày 06/3/2019 và Hợp đồng tín dụng số LAV200079517/1012 ngày 11/9/2020 được ký kết giữa E và ông Bùi Văn B có xác định mục đích vay là để sửa chữa nhà và hoàn trả tiền cho người thân, không nhằm mục đích lợi nhuận; quan hệ tranh chấp giữa hai bên được xác định lại là quan hệ tranh chấp hợp đồng tín dụng, là quan hệ tranh chấp về dân sự; vì vậy, Hội đồng xét xử áp dụng các quy định của Bộ luật Dân sự và Luật các tổ chức tín dụng để giải quyết tranh chấp giữa các bên.
[3] Về thủ tục tố tụng:
Tranh chấp giữa E và Công ty T4 được xác định là quan hệ tranh chấp hợp đồng tín dụng, là quan hệ tranh chấp về kinh doanh, thương mại; còn tranh chấp
7
giữa E và ông Bùi Văn B được xác định lại là quan hệ tranh chấp hợp đồng tín dụng, là quan hệ tranh chấp về dân sự. Hai quan hệ tranh chấp trên được xác định là khác nhau, có hai bị đơn độc lập nhau. Do đó, việc Chánh án ban hành quyết định nhập vụ án số 231/2023/QĐST-DS ngày 20/11/2023 để nhập Vụ án dân sự sơ thẩm thụ lý số 165/2023/TLST-DS ngày 03/10/2023 do Thẩm phán Trần Thị Ánh L1 giải quyết vào Vụ án kinh doanh thương mại sơ thẩm thụ lý số 24/2023/TLST-KDTM ngày 05/3/2023 và phân công cho Thẩm phán Trần Cơ D1 giải quyết trong cùng một vụ án là chưa đúng theo quy định tại khoản 1 Điều 42 của Bộ luật Tố tụng dân sự. Tuy nhiên, việc đề nghị Chánh án ra quyết định tách vụ án sẽ dẫn đến kéo dài thời gian giải quyết vụ án không cần thiết, do đó, Hội đồng xét xử áp dụng các quy định pháp luật riêng đối với từng quan hệ tranh chấp hợp đồng riêng giữa các bên để giải quyết trong cùng vụ án.
Đối với các cá nhân đang thuê, kinh doanh, cư trú, sinh sống tại tài sản thế chấp tại địa chỉ số E L, Phường A, Quận E được Tòa án xác định là người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan trong vụ án. Tòa án đã tống đạt giấy triệu tập và quyết định đưa vụ án ra xét xử hợp lệ lần thứ nhất cho các đương sự nhưng tại ngày mở phiên tòa 30/7/2024, các đương sự vắng mặt. Tòa án tiếp tục tống đạt giấy triệu tập hợp lệ lần thứ hai cho các đương sự nhưng tại ngày mở phiên tòa 27/8/2024, các đương sự tiếp tục vắng mặt. Do vậy, việc xét xử vắng mặt người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan là phù hợp với quy định tại điểm b khoản 2 Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự.
Đối với bà Ngô Thị X và ông Bùi Văn H là chủ sở hữu, chủ sử dụng tài sản thế chấp là nhà và đất tại địa chỉ số E L, Phường A, Quận E, đã ký kết các Hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất, tài sản gắn liền với đất để bảo lãnh nghĩa vụ thanh toán nợ cho bị đơn, được Tòa án xác định là người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan trong vụ án. Tòa án đã tống đạt giấy triệu tập và quyết định đưa vụ án ra xét xử hợp lệ lần thứ nhất cho các đương sự nhưng tại ngày mở phiên tòa 30/7/2024, ông Bùi Văn H có mặt, bà Ngô Thị X vắng mặt. Tòa án tiếp tục tống đạt giấy triệu tập hợp lệ lần thứ hai cho các đương sự nhưng tại ngày mở phiên tòa 27/8/2024, ông Bùi Văn H và bà Ngô Thị X tiếp tục vắng mặt. Do vậy, việc xét xử vắng mặt người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan là phù hợp với quy định tại điểm b khoản 2 Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự.
Đối với bị đơn là Công ty T4 do ông Bùi Văn B đại diện theo pháp luật và đồng bị đơn là ông Bùi Văn B đã được Tòa án tống đạt giấy triệu tập và quyết định đưa vụ án ra xét xử hợp lệ lần thứ nhất cho đương sự. Tại ngày mở phiên tòa 30/7/2024, ông Bùi Văn B có mặt nhưng do người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt nên Tòa án phải hoãn phiên tòa. Tòa án tiếp tục tống đạt giấy triệu tập hợp lệ lần thứ hai cho các đương sự nhưng tại ngày mở phiên tòa 27/8/2024, ông Bùi Văn B vắng mặt. Do vậy, việc xét xử vắng mặt bị đơn là phù hợp với quy định tại điểm b khoản 2 Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự.
[4] Về việc xem xét các chứng cứ:
Tòa án nhân dân Quận 11 đã tiến hành phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và tiến hành phiên hòa giải. Tại các lần tiến hành phiên họp và phiên hòa giải, đương sự có mặt thừa nhận và không có ý kiến phản đối các
8
chứng cứ do đương sự cung cấp và do Tòa án thu thập; các đương sự vắng mặt không có văn bản phản đối các chứng cứ có trong hồ sơ vụ án nên các chứng cứ có trong hồ sơ vụ án được sử dụng làm căn cứ để giải quyết vụ án.
[5] Xét yêu cầu của nguyên đơn:
5.1. Xét yêu cầu thanh toán nợ gốc và lãi:
Xét Hợp đồng tín dụng LAV210055654/1012 ngày 08/7/2021, Hợp đồng tín dụng số LAV190017290/1012 ngày 06/3/2019 và Hợp đồng tín dụng số LAV200079517/1012 ngày 11/9/2020 được các bên đương sự ký kết trên cơ sở tự nguyện, có mục đích và nội dung không vi phạm điều cấm của pháp luật, không trái đạo đức xã hội, phù hợp với các quy định của Luật Các tổ chức tín dụng. E đã giải ngân đầy đủ số tiền vay gốc cho Công ty T4 và cá nhân ông Bùi Văn B. Quá trình thực hiện hợp đồng, Công ty T4 và ông Bùi Văn B đã vi phạm nghĩa vụ trả nợ theo thỏa thuận giữa các bên trong hợp đồng tín dụng, E khởi kiện yêu cầu Công ty T4 và cá nhân ông Bùi Văn B thực hiện nghĩa vụ trả nợ theo hợp đồng tín dụng.
Tại khoản 1 Điều 466 Bộ luật Dân sự quy định: “Bên vay tài sản là tiền thì phải trả đủ tiền khi đến hạn; nếu tài sản là vật thì phải trả vật cùng loại đúng số lượng, chất lượng, trừ trường hợp có thoả thuận khác.”
Tại khoản 2 Điều 91 Luật các tổ chức tín dụng quy định: “Tổ chức tín dụng và khách hàng có quyền thỏa thuận về lãi suất, phí cấp tín dụng trong hoạt động ngân hàng của tổ chức tín dụng theo quy định của pháp luật”.
Tại khoản 1 Điều 95 Luật các tổ chức tín dụng quy định: “Tổ chức tín dụng có quyền chấm dứt việc cấp tín dụng, thu hồi nợ trước hạn khi phát hiện khách hàng cung cấp thông tin sai sự thật, vi phạm các quy định trong hợp đồng cấp tín dụng.”
Tại Điều 13 Thông tư số 39/2016/TT-NHNN ngày 30/12/2016 của Ngân hàng N4 quy định: “Tổ chức tín dụng và khách hàng thỏa thuận về lãi suất cho vay theo cung cầu vốn thị trường, nhu cầu vay vốn và mức độ tín nhiệm của khách hàng, trừ trường hợp Ngân hàng N4 có quy định về lãi suất cho vay tối đa tại khoản 2 Điều này.”.
Phía bị đơn đã thừa nhận còn nợ số tiền theo như lời trình bày của nguyên đơn, phù hợp với các chứng cứ có trong hồ sơ vụ án nêu Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.
Công ty T4 phải thanh toán cho E nợ gốc và nợ lãi tính đến ngày xét xử 27/8/2024, cụ thể như sau:
- - Nợ gốc: 4.000.000.000 đồng.
- - Nợ lãi trong hạn: 19.337.261 đồng.
- - Nợ lãi quá hạn: 823.148.219 đồng.
- - Lãi phạt chậm trả lãi: 3.019.710 đồng.
- Tổng cộng: 4.845.505.190 đồng.
9
Ông Bùi Văn B phải thanh toán cho E nợ gốc và nợ lãi tính đến ngày xét xử 27/8/2024, cụ thể như sau:
- - Nợ gốc: 1.971.622.000 đồng.
- - Nợ lãi trong hạn: 323.225.464 đồng.
- - Nợ lãi quá hạn: 114.516.615 đồng.
- - Nợ lãi chậm trả lãi: 26.366.116 đồng
- Tổng cộng: 2.435.730.195 đồng.
5.2. Xét yêu cầu xử lý tài sản thế chấp:
Ông Bùi Văn H và bà Ngô Thị X có thế chấp tài sản đảm bảo trả nợ vay cho Công ty T4 và cá nhân ông Bùi Văn B theo các hợp đồng thế chấp gồm: Hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất, tài sản gắn liền với đất số 152/2017/EIB-Q10/TC/KHDN đã được công chứng số 24128 ngày 03/10/2017 tại Phòng Công chứng số 2 Thành phố H; đã đăng ký giao dịch đảm bảo ngày 03/10/2017; Hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất, tài sản gắn liền với đất số 09/2018/EIB-Q10/TC/KHDN đã được công chứng số 02788 ngày 10/01/2018 tại Phòng Công chứng số 2 Thành phố H; đã đăng ký giao dịch đảm bảo ngày 30/01/2018; Hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất, tài sản gắn liền với đất số 58/2019/EIB-Q10/TC/KHCN đã được công chứng số 04432 ngày 06/3/2019 tại Phòng Công chứng số 2 Thành phố H; đã đăng ký giao dịch đảm bảo ngày 06/3/2019 và Hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất, tài sản gắn liền với đất số 132/2020/EIB-Q10/TC/KHCN đã được công chứng số 16147 ngày 11/9/2020 tại Phòng Công chứng số 2 Thành phố H; đã đăng ký giao dịch đảm bảo ngày 11/9/2020.
Quá trình Tòa án giải quyết vụ án không có thông tin hay khiếu nại về việc tài sản đã chuyển giao cho người thứ ba hay tài sản tiếp tục được thế chấp cho cá nhân, tổ chức khác; việc thế chấp đã được đăng ký giao dịch bảo đảm đúng quy định pháp luật, vì vậy, Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn về việc xử lý tài sản bảo đảm trong trường hợp bị đơn không trả nợ.
Trong quá trình chuẩn bị xét xử, Tòa án đã tiến hành xem xét thẩm định tại chỗ đối với tình trạng sử dụng tài sản thế chấp vào ngày 28/11/2023. Tại phiên xem xet, thẩm định tại chỗ, Tòa án đã xác định được hiên trạng căn nhà tại địa chỉ số E L, Phường A, Quận E, Thành phố Hồ Chí Minh có thay đổi so với Giấy chứng nhận, không phù hợp với hiện trạng nhà đã được nhà nước công nhận quyền sở hữu. Hiện trạng sử dụng nhà thì chủ sở hữu nhà đang cho những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan thuê ở và kinh doanh. Tuy nhiên, không có tổ chức, cá nhân nào có tranh chấp quyền sở hữu nhà, quyền sử dụng đất với ông Bùi Văn H và bà Ngô Thị X. Do đó, Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn về việc yêu cầu xử lý tài sản trong trường hợp bị đơn không thanh toán được nợ.
Trong trường hợp bị đơn không thực hiện hoặc thực hiện không đúng nghĩa vụ trả nợ theo Hợp đồng, nguyên đơn có quyền yêu cầu Cơ quan thi hành dân sự có thẩm quyền kê biên và phát mại tài sản bảo đảm là căn nhà và đất tọa lạc tại địa chỉ số E L, Phường A, Quận E, thuộc quyền sở hữu, sử dụng của ông Bùi Văn H và bà
10
Ngô Thị X, theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số GCN-CH13149 do Ủy ban nhân dân Quận E1 cấp ngày 25/8/2017, theo các hợp đồng thế chấp gồm: Hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất, tài sản gắn liền với đất số 152/2017/EIB-Q10/TC/KHDN đã được công chứng số 24128 ngày 03/10/2017 tại Phòng Công chứng số 2 Thành phố H; đã đăng ký giao dịch đảm bảo ngày 03/10/2017; Hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất, tài sản gắn liền với đất số 09/2018/EIB-Q10/TC/KHDN đã được công chứng số 02788 ngày 10/01/2018 tại Phòng Công chứng số 2 Thành phố H; đã đăng ký giao dịch đảm bảo ngày 30/01/2018; Hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất, tài sản gắn liền với đất số 58/2019/EIB-Q10/TC/KHCN đã được công chứng số 04432 ngày 06/3/2019 tại Phòng Công chứng số 2 Thành phố H; đã đăng ký giao dịch đảm bảo ngày 06/3/2019 và Hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất, tài sản gắn liền với đất số 132/2020/EIB-Q10/TC/KHCN đã được công chứng số 16147 ngày 11/9/2020 tại Phòng Công chứng số 2 Thành phố H; đã đăng ký giao dịch đảm bảo ngày 11/9/2020.
Trường hợp, sau khi phát mại tài sản thế chấp sau khi thanh toán các nghĩa vụ trả nợ và các chi phí khác mà còn dư tiền thì số tiền còn dư sẽ được trả lại cho chủ sở hữu có tài sản thế chấp trên.
Trường hợp sau khi phát mại tài sản thế chấp không đủ thanh toán hết khoản nợ thì Công ty T4 và ông Bùi Văn B vẫn phải có nghĩa vụ trả tiếp cho đến khi thanh toán hết khoản nợ trên.
Trong trường hợp Công ty T4 và ông Bùi Văn B hoặc người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan là ông Bùi Văn H và bà Ngô Thị X thanh toán xong tất cả các khoản nợ trước khi cơ quan thi hành án dân sự có thẩm quyền xử lý tài sản thế chấp thì E có nghĩa vụ tiến hành ngay thủ tục giải chấp và trả lại toàn bộ giấy tờ đã giữ của ông Bùi Văn H và bà Ngô Thị X liên quan đến tài sản thế chấp thửa đất nêu trên, trừ trường hợp ông Bùi Văn H và bà Ngô Thị X còn có nghĩa vụ khác đối với E.
Đối với phần xây dựng sai phạm của căn nhà số E L, Phường A, Quận E, do các bên đương sự đã thống nhất xác định phần xây dựng, sửa chữa của căn nhà là một phần gắn liền với tài sản thế chấp, các bên đương sự không có ý kiến và yêu cầu nên Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết. Quá trình xử lý tài sản để thu hồi nợ cho ngân hàng được thực hiện theo thỏa thuận tại Hợp đồng thế chấp và theo quy định chung của pháp luật về đất đai.
[6] Xét ý kiến của bị đơn:
Trong quá trình giải quyết vụ án, Tòa án đã tống đạt hợp lệ cho bị đơn các văn bản tố tụng bao gồm: Giấy triệu tập, Thông báo về việc thụ lý vụ án, Thông báo về phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải, Thông báo kết quả phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ, Quyết định đưa vụ án ra xét xử và Quyết định hoãn phiên tòa. Thông báo về việc thụ lý vụ án đã ghi rõ nội dung sự việc, yêu cầu của nguyên đơn và các tài liệu chứng minh cho yêu cầu của nguyên đơn, phía bị đơn đã có lời khai thừa nhận nợ
11
và đề nghị phía nguyên đơn cho lùi thời hạn thanh toán nợ nhưng không được nguyên đơn chấp nhận nên Hội đồng xét xử không có cơ sở xem xét.
[7] Xét ý kiến của người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan – ông Bùi Văn H và bà Ngô Thị X:
Trong quá trình giải quyết vụ án, Tòa án đã tống đạt hợp lệ cho bị đơn các văn bản tố tụng bao gồm: Giấy triệu tập, Thông báo về việc thụ lý vụ án, Thông báo về phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải, Thông báo kết quả phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ, Quyết định đưa vụ án ra xét xử và Quyết định hoãn phiên tòa. Thông báo về việc thụ lý vụ án đã ghi rõ nội dung sự việc, yêu cầu của nguyên đơn và các tài liệu chứng minh cho yêu cầu của nguyên đơn, phía người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan là ông Bùi Văn H đã có lời khai thừa nhận việc thế chấp tài sản để bảo đảm trả nợ cho bị đơn và đề nghị phía nguyên đơn cho lùi thời hạn để bị đơn thanh toán nợ nhưng không được nguyên đơn chấp nhận nên Hội đồng xét xử không có cơ sở xem xét.
[8] Xét ý kiến của người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan – bà Bùi Thị Kim N, ông Lại Đình Đ1, bà Đặng Thị H1, bà Trương Thị Ngọc D, bà Lê Gia H2, bà Ung Ngọc Phương T, bà Phan Nguyễn Ngọc T1, bà Phan Nguyễn Ngọc T2, ông Phan Đoàn K, bà Phạm Thùy Lan A, bà Phạm Thùy Vân A1, bà Nguyễn Võ Lệ H3, bà Trần Thị Như Q, ông Trịnh Võ Minh Q1, ông Trịnh Phát Đ2, ông Nguyễn Minh N1, bà Ngô Lương Minh U, bà Nguyễn Khánh H4, ông Nguyễn Hữu N2, bà Võ Thị Phương N3, bà Võ Bảo H5, bà Trần Thị Thanh T3, ông Trần Quang Đ3 và bà Huỳnh Thị Thảo L:
Trong quá trình giải quyết vụ án, Tòa án đã tống đạt hợp lệ cho người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan các văn bản tố tụng bao gồm: Giấy triệu tập, Thông báo về việc thụ lý vụ án, Thông báo về phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải, Thông báo kết quả phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ, Quyết định đưa vụ án ra xét xử và Quyết định hoãn phiên tòa. Thông báo về việc thụ lý vụ án đã ghi rõ nội dung sự việc, yêu cầu của nguyên đơn và các tài liệu chứng minh cho yêu cầu của nguyên đơn, phía người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt và không có văn bản trình bày ý kiến nên Hội đồng xét xử không có cơ sở xem xét.
[9] Về quan điểm giải quyết vụ án của Kiểm sát viên phát biểu tại phiên tòa:
Hội đồng xét xử thống nhất với quan điểm của Kiểm sát viên về việc Tòa án còn có khuyết điểm là chậm đưa vụ án ra xét xử.
Hội đồng xét xử thống nhất với quan điểm của Kiểm sát viên đã phát biểu tại phiên tòa về việc buộc bị đơn phải trả nợ cho nguyên đơn.
[10] Về án phí:
Nguyên đơn yêu cầu bị đơn là Công ty T4 thanh toán số nợ là 4.845.505.190 đồng (bốn tỷ tám trăm bốn mươi lăm triệu năm trăm lẻ năm nghìn một trăm chín mươi đồng) và được Tòa án chấp nhận. Căn cứ theo quy định tại Điều 147 Bộ luật
12
Tố tụng dân sự; khoản 2 Điều 26 Nghị Quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án nguyên đơn không phải chịu án phí, bị đơn phải chịu án phí kinh doanh thương mại sơ thẩm là 112.845.505 đồng (một trảm mười hai triệu tám trăm bốn mươi lăm nghìn năm trăm lẻ năm đồng).
Nguyên đơn yêu cầu bị đơn là ông Bùi Văn B thanh toán số nợ là 2.435.730.195 đồng (hai tỷ bốn trăm ba mươi lăm triệu bảy trăm ba mươi nghìn một trăm chín mươi lăm đồng) và được Tòa án chấp nhận. Căn cứ theo quy định tại Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; khoản 2 Điều 26 Nghị Quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án nguyên đơn không phải chịu án phí, bị đơn phải chịu án phí dân sự sơ thẩm là 80.714.604 đồng (tám mươi triệu bảy trăm mười bốn nghìn sáu trăm lẻ bốn đồng).
[11] Về xem xét nghĩa vụ chịu chi phí xem xét, thẩm định tại chỗ:
Ngày 30/10/2023, Tòa án đã ra Quyết định xem xét thẩm định tại chỗ đối với tài sản thế chấp. Ngày 28/11/2023, Tòa án đã phối hợp cùng với các cơ quan địa phương tiến hành xem xét thẩm định tại chỗ đối với các tài sản thế chấp tại địa chỉ số E L, Phường A, Quận E, Thành phố Hồ Chí Minh. Nguyên đơn đã đóng tạm ứng tiền chi phí xem xét, thẩm định tại chỗ là 6.000.000 đồng. Yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn về tranh chấp hợp đồng tín dụng được Tòa án chấp nhận. Căn cứ khoản 1 Điều 157 Bộ luật Tố tụng dân sự, Hội đồng xét xử giải quyết buộc bị đơn là Công ty T4 phải gánh chịu chi phí xem xét, thẩm định tại chỗ, hoàn trả cho nguyên đơn số tiền chi phí xem xét, thẩm định tại chỗ là 6.000.000 đồng.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ khoản 3 Điều 26; khoản 1 Điều 30, điểm a, b khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39; khoản 4 Điều 96; Điều 147; Điều 157; Điều 227; Điều 271; Điều 273; Điều 278 và Điều 280 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015;
Căn cứ Điều 298, Điều 317, Điều 319, Điều 463; khoản 1 Điều 466 Bộ Luật Dân sự 2015;
Căn cứ khoản 3 Điều 4 Luật Thương mại năm 2005;
Căn cứ khoản 2 Điều 91; khoản 2 Điều 95 Luật các tổ chức tín dụng năm 2010, được sửa đổi, bổ sung năm 2017;
Căn cứ Điều 26 Luật Thi hành án dân sự năm 2008, được sửa đổi, bổ sung năm 2014;
Căn cứ Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;
Tuyên xử:
13
1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn – Ngân hàng Thương mại cổ phần X1 về việc buộc Công ty Cổ phần T4 và ông Bùi Văn B có nghĩa vụ trả nợ cho nguyên đơn và yêu cầu xử lý tài sản thế chấp.
Buộc Công ty Cổ phần T4 có nghĩa vụ trả cho Ngân hàng Thương mại cổ phần X1 tạm tính đến ngày xét xử sơ thẩm 27/8/2024 số tiền là 4.845.505.190 đồng (bốn tỷ tám trăm bốn mươi lăm triệu năm trăm lẻ năm nghìn một trăm chín mươi đồng), (bao gồm tiền nợ gốc là 4.000.000.000 đồng; nợ lãi trong hạn là 19.337.261 đồng; nợ lãi quá hạn là 823.148.219 đồng; lãi phạt chậm trả lãi là 3.019.710 đồng).
Buộc ông Bùi Văn B có nghĩa vụ trả cho Ngân hàng Thương mại cổ phần X1 tạm tính đến ngày xét xử sơ thẩm 27/8/2024 số tiền là 2.435.730.195 đồng (hai tỷ bốn trăm ba mươi lăm triệu bảy trăm ba mươi nghìn một trăm chín mươi lăm đồng), (bao gồm tiền nợ gốc là 1.971.622.000 đồng; nợ lãi trong hạn là 323.225.464 đồng; nợ lãi quá hạn là 114.516.615 đồng; lãi phạt chậm trả lãi là 26.366.116 đồng).
Kể từ ngày tiếp theo của ngày xét xử sơ thẩm, Công ty Cổ phần T4 và ông Bùi Văn B còn phải tiếp tục chịu khoản tiền lãi quá hạn của số tiền nợ chưa thanh toán, theo mức lãi suất mà các bên thỏa thuận trong hợp đồng cho đến khi thanh toán xong khoản nợ này. Trường hợp trong hợp đông tín dụng, các bên có thỏa thuận về việc điều chỉnh lãi suất cho vay theo từng thời kỳ của Ngân hàng Thương mại cổ phần X1 thì lãi suất mà Công ty Cổ phần T4 và ông Bùi Văn B phải tiếp tục thanh toán cho Ngân hàng Thương mại cổ phần X1 theo quyết định của Tòa án cũng sẽ được điều chỉnh cho phù hợp với sự điều chỉnh lãi suất của Ngân hàng Thương mại cổ phần X1.
Trong trường hợp bị đơn không thực hiện hoặc thực hiện không đúng nghĩa vụ trả nợ theo Hợp đồng, nguyên đơn có quyền yêu cầu Cơ quan thi hành dân sự có thẩm quyền kê biên và phát mại tài sản bảo đảm là căn nhà và đất tọa lạc tại địa chỉ số E L, Phường A, Quận E, thuộc quyền sở hữu, sử dụng của ông Bùi Văn H và bà Ngô Thị X, theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số GCN-CH13149 do Ủy ban nhân dân Quận E1 cấp ngày 25/8/2017, theo các hợp đồng thế chấp gồm: Hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất, tài sản gắn liền với đất số 152/2017/EIB-Q10/TC/KHDN đã được công chứng số 24128 ngày 03/10/2017 tại Phòng Công chứng số 2 Thành phố H; đã đăng ký giao dịch đảm bảo ngày 03/10/2017; Hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất, tài sản gắn liền với đất số 09/2018/EIB-Q10/TC/KHDN đã được công chứng số 02788 ngày 10/01/2018 tại Phòng Công chứng số 2 Thành phố H; đã đăng ký giao dịch đảm bảo ngày 30/01/2018; Hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất, tài sản gắn liền với đất số 58/2019/EIB-Q10/TC/KHCN đã được công chứng số 04432 ngày 06/3/2019 tại Phòng Công chứng số 2 Thành phố H; đã đăng ký giao dịch đảm bảo ngày 06/3/2019 và Hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất, tài sản gắn liền với đất số 132/2020/EIB-Q10/TC/KHCN đã được công chứng số 16147 ngày 11/9/2020 tại Phòng Công chứng số 2 Thành phố H; đã đăng ký giao dịch đảm bảo ngày 11/9/2020.
14
Trường hợp sau khi phát mại tài sản thế chấp sau khi thanh toán các nghĩa vụ trả nợ và các chi phí khác mà còn dư tiền thì số tiền còn dư sẽ được trả lại cho chủ sở hữu có tài sản thế chấp trên là ông Bùi Văn H và bà Ngô Thị X.
Trường hợp sau khi phát mại tài sản thế chấp không đủ thanh toán hết khoản nợ thì Công ty T4 và ông Bùi Văn B vẫn phải có nghĩa vụ trả tiếp cho đến khi thanh toán hết khoản nợ trên.
Trong trường hợp Công ty Cổ phần T4 và ông Bùi Văn B hoặc người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan là ông Bùi Văn H và bà Ngô Thị X thanh toán xong tất cả các khoản nợ trước khi cơ quan thi hành án dân sự có thẩm quyền xử lý tài sản thế chấp thì Ngân hàng Thương mại cổ phần X1 có nghĩa vụ tiến hành ngay thủ tục giải chấp và trả lại toàn bộ giấy tờ đã giữ của ông Bùi Văn H và bà Ngô Thị X liên quan đến tài sản thế chấp thửa đất nêu trên, trừ trường hợp ông Bùi Văn H và bà Ngô Thị X còn có nghĩa vụ khác đối với Ngân hàng Thương mại cổ phần X1.
2. Về án phí:
Công ty Cổ phần T4 phải chịu án phí kinh doanh thương mại sơ thẩm số tiền là 112.845.505 đồng (một trảm mười hai triệu tám trăm bốn mươi lăm nghìn năm trăm lẻ năm đồng).
Ông Bùi Văn B phải chịu án phí dân sự sơ thẩm số tiền là 80.714.604 đồng (tám mươi triệu bảy trăm mười bốn nghìn sáu trăm lẻ bốn đồng).
H6 lại cho Ngân hàng Thương mại cổ phần X1 số tiền tạm ứng án phí đã nộp là 56.077.705 đồng (năm mươi sáu triệu không trăm bảy mươi bảy nghìn bảy trăm lẻ năm đồng) theo Biên Lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số AA/2021/0021178 ngày 01/6/2023 và số tiền tạm ứng án phí đã nộp là 37.180.978 đồng (ba mươi bảy triệu một trăm tám mươi nghìn chín trăm bảy mươi tám đồng) theo Biên Lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số AA/2021/0021534 ngày 25/9/2023 của Chi cục Thi hành án dân sự Quận 11.
3. Về chi phí tố tụng khác:
Buộc Công ty Cổ phần T4 phải hoàn trả cho Ngân hàng Thương mại cổ phần X1 số tiền chi phí xem xét, thẩm định tại chỗ do Ngân hàng Thương mại cổ phần X1 đã thanh toán trước số tiền là 6.000.000 đồng (sáu triệu đồng).
4. Các quyền và nghĩa vụ của các đương sự được thực hiện tại cơ quan thi hành án dân sự có thẩm quyền.
Trong trường hợp bản án, được thi hành theo Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu yêu cầu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
5. Về quyền kháng cáo:
15
Đương sự có mặt tại phiên tòa có quyền làm đơn kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Đương sự vắng mặt tại phiên tòa thì thời hạn kháng cáo tính từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết.
6. Về quyền kháng nghị:
Thời hạn kháng nghị đối với bản án của Tòa án cấp sơ thẩm của Viện kiểm sát cùng cấp là 15 ngày, của Viện kiểm sát cấp trên trực tiếp là 01 tháng, kể từ ngày tuyên án./.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Trần Cơ Dũng |
16
Bản án số 30/2024/KDTM-ST ngày 27/08/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN 11, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH về tranh chấp hợp đồng tín dụng
- Số bản án: 30/2024/KDTM-ST
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp hợp đồng tín dụng
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 27/08/2024
- Loại vụ/việc: Kinh doanh thương mại
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN 11, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Tranh chấp hợp đồng tín dụng
