Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

TỈNH THÁI NGUYÊN

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 30/2024/HNGĐ-ST

Ngày: 30 - 7- 2024

V/v: Ly hôn

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH THÁI NGUYÊN

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Bà Lê Thị Hồng Phương.

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Đinh Thanh Hải

Bà Hà Thị Dung

- Thư ký phiên tòa: Bà Trần Thùy Dương - Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Thái Nguyên.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Thái Nguyên tham gia phiên tòa: Bà Lê Ngọc Kim Loan– Kiểm sát viên

Ngày 30 tháng 7 năm 2024, tại Hội trường Tòa án nhân dân tỉnh Thái Nguyên, xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 15/2024/TLST-HNGĐ ngày 25 tháng 3 năm 2024 về ly hôn, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 30/2024/QĐXX-ST ngày 15 tháng 7 năm 2024 giữa các đương sự:

  1. Nguyên đơn: Anh Phạm Văn T, sinh năm 1985

    Nơi thường trú: Xóm P, xã P, thành phố T, tỉnh Thái Nguyên (Có mặt)

    Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của nguyên đơn: Bà Nguyễn Thị Lan A- Công ty L, Đoàn Luật sư thành phố H. Có mặt.

  2. Bị đơn: Chị Đỗ Thị T1, sinh năm 1990

    Nơi thường trú: Xóm P, xã P, thành phố T, tỉnh Thái Nguyên

    Hiện đang ở số A, ngõ A đường L, quận S, thành phố T, Đài Loan. Xin vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Tại đơn xin ly hôn, bản tự khai nguyên đơn anh Phạm Văn T trình bày:

Về quan hệ hôn nhân: Anh và chị T1 kết hôn năm 2012 trên cơ sở tự nguyện, có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã P, thành phố T, tỉnh Thái Nguyên. Thời gian đầu sau khi kết hôn, vợ chồng chung sống hòa thuận, hạnh phúc. Từ năm 2016, anh và chị T1 thường xuyên bất đồng quan điểm sống dẫn đến cuộc sống gia đình luôn căng thẳng, không ai quan tâm tới ai nên đã sống ly thân từ đó đến nay. Hiện nay chị T1 đã xuất cảnh sang Đài Loan làm việc, đến nay chưa trở về Việt Nam. Anh T xác định tình cảm vợ chồng không còn, đề nghị Toà án giải quyết cho anh được ly hôn chị Đỗ Thị T1.

Về con chung: Vợ chồng có 01 con chung là Phạm Châu G, sinh ngày 11/02/2013. Khi ly hôn, anh T và chị T1 thống nhất để chị T1 được trực tiếp nuôi dưỡng cháu G.

Về cấp dưỡng nuôi con chung: Anh T sẽ thực hiện theo quy định pháp luật

Về tài sản chung, nợ chung: Anh T không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Tại bản tự khai bị đơn Đỗ Thị T1 gửi về Tòa án nhân dân tỉnh Thái Nguyên trình bày:

Về quan hệ hôn nhân, thời gian kết hôn, con chung, tài sản chung, nợ chung đúng như anh T trình bày. Đối với việc anh T làm đơn ly hôn, chị T1 xác định tình cảm vợ chồng không còn và nhất trí ly hôn với anh Phạm Văn T.

Về con chung: Vợ chồng có 01 con chung là Phạm Châu G, sinh ngày 11/02/2013. Khi ly hôn, chị T1 đề nghị được trực tiếp nuôi dưỡng cháu G. Trong thời gian làm việc tại Đài Loan, chị T1 đề nghị giao cháu G cho mẹ đẻ của chị là bà Nguyễn Thị T2, sinh ngày 30/5/1969, địa chỉ tại thôn T, xã Đ, huyện L, tỉnh Vĩnh Phúc trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng cho đến khi chị trở về Việt Nam

Về cấp dưỡng nuôi con chung: Chị T1 không yêu cầu anh T cấp dưỡng.

Về tài sản chung, nợ chung: Không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Hiện nay, chị T1 đang ở nước ngoài, không thể trở về Việt Nam. Chị T1 đề nghị được xét xử vắng mặt tại phiên tòa.

Tại đơn trình bày của bà Nguyễn Thị T2, sinh năm 1969, là mẹ đẻ của chị T1 đồng ý trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng cháu G cho đến khi chị T1 trở về Việt Nam. Cháu G có văn bản ghi ý kiến xin được ở với chị T1, trong khi chị T1 ở nước ngoài, cháu xin được ở với bà ngoại là bà T2.

Tại phiên toà, anh T xác định, cháu G về ở với bà T2 tại thôn T, xã Đ, huyện L, tỉnh Vĩnh Phúc từ khi cháu G 4 tuổi cho đến nay, anh T nhất trí để bà Nguyễn Thị T2 trực tiếp chăm sóc cháu G đến khi chị T1 trở về nước.

Về chi phí lệ phí giám định, anh T tự nguyện chịu.

Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của anh T trình bày quan điểm bảo vệ và đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện xin ly hôn của anh Phạm Văn T, cho anh T được ly hôn với chị Đỗ Thị T1. Về con chung, đề nghị Hội đồng xét xử giao cho chị T1 trực tiếp chăm sóc.

Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát phát biểu ý kiến về việc tuân theo pháp luật tố tụng trong quá trình thụ lý, giải quyết vụ án. Về đường lối giải quyết vụ án, đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện của anh Phạm Văn T, cho anh T được ly hôn với chị Đỗ Thị T1. Về con chung: Anh T và chị T1 có 01 con chung là Phạm Châu G, sinh ngày 11/02/2013; cháu G có nguyện vọng được ở với mẹ, đề nghị Hội đồng xét xử giao cháu G cho chị T1 trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng. Trong thời gian chị T1 ở nước ngoài, bà Nguyễn Thị T2, sinh ngày 30/5/1969, địa chỉ tại thôn T, xã Đ, huyện L, tỉnh Vĩnh Phúc trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc cháu G cho đến khi chị T1 về nước. Về cấp dưỡng nuôi con: Tạm hoãn cấp dưỡng nuôi con cho anh T do chị T1 không yêu cầu.

Về Tài sản chung và nợ chung: Các đương sự không yêu cầu giải quyết.

Anh T phải chịu án phí và lệ phí theo quy định của pháp luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án, sau khi nghe ý kiến phát biểu của đại diện Viện kiểm sát, Hội đồng xét xử nhận định:

[1] Về tố tụng: Anh Phạm Văn T là nguyên đơn có nơi thường trú: Xóm P, xã P, thành phố T, tỉnh Thái Nguyên. Chị Đỗ Thị T1 là bị đơn có nơi thường trú: Xóm P, xã P, thành phố T, tỉnh Thái Nguyên. Hiện đang sinh sống tại Đài Loan. Quá trình giải quyết chị T1 đã gửi về Việt Nam gồm bản tự khai thể hiện quan điểm của chị T1 về việc ly hôn với anh T. Tại kết luận giám định số 708/KL-KTHS ngày 17/6/2024 của Phòng K Công an tỉnh T kết luận chữ ký, chữ viết tại bản tự khai và chữ ký tại Giấy chứng nhận kết hôn của Đỗ Thị T1 là do cùng một người ký, viết ra. Do vậy, có đủ cơ sở xác định nội dung văn bản của chị Đỗ Thị T1 nộp gửi cho Toà án nhân dân tỉnh Thái Nguyên, Việt Nam là đúng ý chí, nguyện vọng của chị Đỗ Thị T1.

Theo quy định tại khoản 1 Điều 28; Điều 37 và Điều 39 của Bộ luật tố tụng dân sự, Việt Nam. Vụ án ly hôn thuộc thẩm quyền giải quyết của Toà án nhân dân tỉnh Thái Nguyên, Việt Nam.

Chị Đỗ Thị T1 đề nghị giải quyết vắng mặt, căn cứ khoản 1 Điều 228 và khoản 5 Điều 477 của Bộ luật tố tụng Dân sự, Việt Nam, Hội đồng xét xử vắng mặt bị đơn.

[2].Về nội dung vụ án:

[2.1] Hôn nhân giữa anh Phạm Văn T và chị Đỗ Thị T1 trên cơ sở tự nguyện, có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã P, thành phố T, tỉnh Thái Nguyên, Việt Nam là hôn nhân hợp pháp.

Nguyên nhân phát sinh mâu thuẫn vợ chồng, anh T và chị T1 đều xác định là do trong cuộc sống vợ chồng bất đồng quan điểm sống, vợ chồng đã sống ly thân nhau, không còn quan tâm chăm sóc lẫn nhau và không còn tình cảm vợ chồng. Anh T xin ly hôn, chị T1 nhất trí. Như vậy, Hội đồng xét xử có đủ căn cứ xác định mâu thuẫn vợ chồng giữa anh Phạm Văn T và chị Đỗ Thị T1 đã trầm trọng, mục đích hôn nhân không đạt được, cả hai anh chị đều nhất trí ly hôn nên cần chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của anh T, cho anh T được ly hôn với chị Đỗ Thị T1 là phù hợp thực tế và Điều 51, Điều 56 của Luật Hôn nhân và Gia đình Việt Nam.

[2.2]. Về con chung: Anh Phạm Văn T và chị Đỗ Thị T1 có 01 con chung là Phạm Châu G, sinh ngày 11/02/2013. Khi ly hôn, anh T và chị T1 đề nghị chị T1 nuôi cháu G. Xét thấy, cháu G hiện đang sinh sống cùng mẹ đẻ của chị T1 là bà Nguyễn Thị T2 đang học tập tại xã Đ, huyện L, tỉnh Vĩnh Phúc, cháu có nguyện vọng được ở với mẹ, bà T2 đồng ý trực tiếp nuôi dưỡng cháu G đến khi chị T1 về nước. Tại phiên toà anh T nhất trí. Hội đồng xét xử thấy, để đảm bảo điều kiện tốt nhất của trẻ và sự ổn định cho con khi cha mẹ ly hôn, Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu xin trực tiếp chăm sóc nuôi dưỡng con chung của chị Đỗ Thị T1 là phù hợp với thực tế và phù hợp với nguyện vọng của cháu G, đảm bảo

đúng các quy định của pháp luật tại Điều 81, 82, 83 Luật Hôn nhân và Gia đình Việt Nam.

Về nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con: Anh T đề nghị giải quyết theo quy định, chị T1 không yêu cầu, Hội đồng xét xử không xem xét.

[2.3]. Về tài sản chung, nợ chung: Anh T, chị T1 không yêu cầu Tòa án giải quyết, Hội đồng xét xử không giải quyết về tài sản chung, nợ chung. Các bên đương sự cũng có quyền khởi kiện bằng vụ kiện dân sự khác khi có đủ căn cứ và có yêu cầu.

[2.4]. Án phí Hôn nhân gia đình sơ thẩm: Anh T phải chịu 300.000₫ (Ba trăm nghìn đồng) án phí ly hôn sơ thẩm.

Về lệ phí: Anh T chịu 3.000.000 đồng lệ phí giám định (đã thực hiện xong)

[2.5]. Về quyền kháng cáo: Các đương sự được quyền kháng cáo theo quy định tại Điều 273 và Điều 479 của Bộ luật tố tụng dân sự.

[3]. Xét đề nghị của đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Thái Nguyên và đề nghị của người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của nguyên đơn tại phiên toà là có căn cứ chấp nhận.

Bởi các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH

Áp dụng Điều 28; 37; khoản 2 Điều 38; Điều 39; Điều 147; Điều 207; Điều 273; Khoản 1 Điều 228 và khoản 5 Điều 477 và Điều 479 của Bộ luật tố tụng Dân sự; Điều 51; 56; 81; 82; 83; Điều 127 Luật hôn nhân và Gia đình; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;

Tuyên xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện xin ly hôn của anh Phạm Văn T đối với chị Đỗ Thị T1.

  1. Về hôn nhân: Cho anh Phạm Văn T được ly hôn chị Đỗ Thị T1.

  2. Về con chung: Giao con chung là Phạm Châu G, sinh ngày 11/02/2013 cho chị T1 trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng và giáo dục con chung đến khi con chung đủ 18 tuổi hoặc có sự thay đổi khác (người được uỷ quyền là bà Nguyễn Thị T2, sinh ngày 30/5/1969, địa chỉ tại thôn T, xã Đ, huyện L, tỉnh Vĩnh Phúc trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc cháu G cho đến khi chị T1 về nước). Anh T có quyền đi lại thăm nom con chung mà không ai được cản trở.

  3. Về cấp dưỡng nuôi con: Tạm hoãn cấp dưỡng nuôi con chung cho anh T do chị T1 không yêu cầu.

  4. Tài sản chung, nợ chung: Các đương sự không yêu cầu Tòa án giải quyết.

  5. Án phí: Anh Phạm Văn T phải chịu 300.000đ (ba trăm nghìn đồng) án phí ly hôn sơ thẩm. Được trừ vào số tiền 300.000đ tạm ứng án phí ly hôn đã nộp, biên lai số 0000157 ngày 25/03/2024 tại Cục thi hành án dân sự tỉnh Thái Nguyên.

  6. Về lệ phí : Anh T phải chịu 3.000.000 đồng lệ phí giám định (đã thực hiện xong)

Anh Phạm Văn T được quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Chị Đỗ Thị T1 được quyền kháng cáo trong hạn một tháng kể từ ngày nhận được bản sao bản án hoặc được niêm yết.

Nơi nhận:

  • - VKSND tỉnh;
  • - Cục THADS tỉnh;
  • - UBND xã P, thành phố T;
  • - Các đương sự;
  • - Lưu hồ sơ vụ án.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TOÀ

Lê Thị Hồng Phương

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 30/2024/HNGĐ-ST ngày 30/07/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH THÁI NGUYÊN về ly hôn

  • Số bản án: 30/2024/HNGĐ-ST
  • Quan hệ pháp luật: Ly hôn
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 30/07/2024
  • Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH THÁI NGUYÊN
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Ly hôn Phạm Văn T và Đỗ Thị T
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger