Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN MANG THÍT

TỈNH VĨNH LONG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 30/2024/DS-ST

Ngày: 29/7/2024

V/v tranh chấp hợp đồng vay tài sản

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN MANG THÍT, TỈNH VĨNH LONG

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên toà: Bà Nguyễn Thị Ngọc Bích

Các Hội thẩm nhân dân:

  1. Ông Nguyễn Đinh Cường
  2. Ông Lê Thành Tam

- Thư ký phiên toà: Bà Bùi Thị Kim Liên - Thư ký Toà án nhân dân huyện Mang Thít, tỉnh Vĩnh Long.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Mang Thít: Không tham gia phiên tòa.

Ngày 29 tháng 7 năm 2024 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Mang Thít, tỉnh Vĩnh Long xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 09/2024/TLST-DS ngày 12 tháng 01 năm 2024 về “Tranh chấp hợp đồng vay tài sản”, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 43/2024/QĐXXST-DS, ngày 21 tháng 6 năm 2024 giữa các đương sự:

1. Nguyên đơn: Bà Nguyễn Thị T, sinh năm 1985 (có mặt)

Địa chỉ: ấp P, xã P, huyện L, tỉnh Vĩnh Long.

2. Bị đơn: Ông Nguyễn Thanh T1, sinh năm 1992 (vắng mặt)

Địa chỉ: ấp P, xã B, huyện M, tỉnh Vĩnh Long.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Tại đơn khởi kiện ngày 10/01/2024, các lời khai trong quá trình giải quyết vụ án, cũng như tại phiên tòa sơ thẩm nguyên đơn bà Nguyễn Thị T trình bày:

Ngày 30/12/2022, bà Nguyễn Thị T có cho ông Nguyễn Thanh T1 vay số tiền là 88.500.000 đồng, lãi suất hai bên thỏa thuận bằng lời nói, thời hạn vay khi nào bà T cần lấy lại vốn sẽ cho ông T1 hay trước 01 đến 02 tháng.

Sau khi vay ông T1 có đóng lãi cho bà T với số tiền là 14.000.000 đồng, sau đó không có đóng lãi nữa. Đến tháng 4/2023, bà T yêu cầu ông T1 trả lại vốn, ông T1 xin trả dần mỗi tháng là 4.000.000 đồng, ông T1 đã trả được 03 tháng với số tiền là 12.000.000 đồng thì ngưng không trả nữa. Như vậy ông T1 còn nợ bà T số tiền là 76.500.000 đồng, nhưng nay bà T chỉ yêu cầu ông T1 trả 68.000.000 đồng (Sáu mươi tám triệu đồng).

Nay, bà T yêu cầu Tòa án giải quyết: Buộc ông Nguyễn Thanh T1 có nghĩa vụ trả cho bà T số tiền là 68.000.000 đồng (Sáu mươi tám triệu đồng), không yêu cầu trả lãi.

Sau khi thụ lý vụ án, Tòa án có thông báo cho bị đơn ông Nguyễn Thanh T1 biết việc thụ lý vụ án cũng như yêu cầu của nguyên đơn. Nhưng bị đơn không có văn bản trả lời, không có yêu cầu phản tố và vắng mặt tại tất cả các phiên họp về kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải; vắng mặt tại các phiên tòa, mặc dù đã được Toà án triệu tập hợp lệ nhưng bị đơn vắng mặt không lý do.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ đã được xem xét tại phiên toà và căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

[1] Về tố tụng: Các đương sự tranh chấp hợp đồng vay tài sản là tranh chấp hợp đồng dân sự; bị đơn có nơi cư trú tại xã B, huyện M, tỉnh Vĩnh Long. Vì vậy, Tòa án nhân dân huyện Mang Thít, tỉnh Vĩnh Long thụ lý giải quyết là đúng thẩm quyền theo quy định tại khoản 3 Điều 26; điểm a khoản 1 Điều 35 và điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015. Quá trình tiến hành tố tụng giải quyết vụ án, mặc dù đã được triệu tập tống đạt hợp lệ nhưng bị đơn đều vắng mặt không lý do. Do đó, Tòa án tiến hành xét xử vụ án vắng mặt bị đơn là đúng theo quy định tại điểm b khoản 2 Điều 227 và khoản 3 Điều 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015.

[2] Về nội dung: Xét, nguyên đơn bà Nguyễn Thị T yêu cầu Tòa án giải quyết buộc bị đơn ông Nguyễn Thanh T1 có nghĩa vụ trả cho bà T số tiền là 68.000.000 đồng (Sáu mươi tám triệu đồng).

Xét thấy, nội dung Giấy mượn tiền ngày 30/12/2022 thể hiện ông T1 có vay của bà T với số tiền là 88.500.000 đồng, ông T1 có ký tên xác nhận nợ. Tòa án đã nhiều lần thông báo cho ông T1 đến Tòa án để tham dự phiên họp tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải, cũng như tham dự phiên tòa nhưng ông T1 đều vắng mặt không có lý do, ông T1 cũng không có văn bản ý kiến phản bác lại yêu cầu khởi kiện của bà T, thể hiện ông T1 đã từ bỏ quyền, nghĩa vụ của mình. Điều này cũng chứng tỏ việc ông T1 có vay của bà T số tiền là 88.500.000.000 đồng là có thật. Bà T trình bày, ông T1 đã trả cho bà T số tiền gốc là 12.000.000 đồng, còn nợ lại là 76.500.000 đồng, nhưng nay bà T chỉ yêu cầu ông T1 trả tiền gốc là 68.000.000 đồng, yêu cầu của bà T là có lợi cho ông T1. Do đó, xét yêu cầu khởi kiện của bà T buộc ông T1 có nghĩa vụ trả số tiền là 68.000.000 đồng là có căn cứ, phù hợp theo quy định tại các Điều 463; 466 của Bộ luật Dân sự năm 2015, nên chấp nhận.

[3] Về án phí dân sự sơ thẩm: Buộc bị đơn ông Nguyễn Thanh T1 phải chịu tiền án phí dân sự sơ thẩm có giá ngạch là 68.000.000 đồng x 5% = 3.400.000 đồng (Ba triệu bốn trăm nghìn đồng).

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào khoản 3 Điều 26; điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39; Điều 147; điểm b khoản 2 Điều 227; khoản 3 Điều 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015.

Căn cứ vào các Điều 463, 466, 470 của Bộ luật Dân sự năm 2015;

Căn cứ vào Khoản 2 Điều 26 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Tuyên xử:

  1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn bà Nguyễn Thị T.

    Buộc bị đơn ông Nguyễn Thanh T1 có nghĩa vụ trả cho nguyên đơn bà Nguyễn Thị T số tiền là 68.000.000 đồng (Sáu mươi tám triệu đồng).

    Kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án cho đến khi thi hành án xong, tất cả các khoản tiền, hàng tháng bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại khoản 2 Điều 468 Bộ luật Dân sự năm 2015.

  2. Về án phí: Buộc bị đơn ông Nguyễn Thị T2 phải chịu tiền án phí dân sự sơ thẩm là 3.400.000 đồng (Ba triệu bốn trăm nghìn đồng).

    Nguyên đơn bà Nguyễn Thị T được nhận lại số tiền tạm ứng án phí đã nộp là 1.913.000 đồng (Một triệu chín trăm mười ba nghìn đồng) theo biên lai thu số 0005625, ngày 12/01/2024 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Mang Thít.

Trường hợp bản án, quyết định, được thi hành theo qui định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự đã được sửa đổi, bổ sung năm 2014 thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo qui định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật Thi hành án dân sự đã được sửa đổi, bổ sung năm 2014; thời hiệu thi hành án được qui định theo Điều 30 Luật Thi hành án dân sự đã được sửa đổi, bổ sung năm 2014.

Các đương sự có quyền làm đơn kháng cáo trong thời hạn 15 (Mười lăm) ngày kể từ ngày tuyên án, đương sự vắng mặt tại phiên tòa hoặc không có mặt khi tuyên án mà có lý do chính đáng thì thời hạn kháng cáo là 15 (Mười lăm) ngày tính từ ngày nhận được bản án hoặc được tống đạt hợp lệ./.

Nơi nhận:

  • - TAND tỉnh VL;
  • - VKSND huyện;
  • - Chi cục THADS huyện;
  • - Đương sự;
  • - Lưu: VT, hồ sơ vụ án.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Nguyễn Thị Ngọc Bích

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 30/2024/DS-ST ngày 29/07/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN MANG THÍT, TỈNH VĨNH LONG về tranh chấp hợp đồng vay tài sản

  • Số bản án: 30/2024/DS-ST
  • Quan hệ pháp luật: tranh chấp hợp đồng vay tài sản
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 29/07/2024
  • Loại vụ/việc: Dân sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN MANG THÍT, TỈNH VĨNH LONG
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: tranh chấp hợp đồng vay tài sả
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger