TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN HẢI CHÂU THÀNH PHỐ ĐÀ NẴNG Bản án số: 30/2024/HNGĐ-ST Ngày: 12.7.2024 V/v “ Tranh chấp ly hôn, nuôi con” | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN HẢI CHÂU, THÀNH PHỐ ĐÀ NẴNG
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Đặng Ngọc Kinh Luân
Các Hội thẩm nhân dân: 1. Ông Huỳnh Thanh Trà
2. Ông Phạm Công Lương
Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Trần Minh Tâm - Thư ký Tòa án của Toà án nhân dân quận Hải Châu, thành phố Đà Nẵng
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Hải Châu, thành phố Đà Nẵng tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Ly Na – Kiểm sát viên
Ngày 12 tháng 7 năm 2024, tại Trụ sở Tòa án nhân dân quận Hải Châu, thành phố Đà Nẵng xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 207/2023/TLST-HNGĐ ngày 12 tháng 12 năm 2023 về việc “Tranh chấp ly hôn, nuôi con” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 22/2024/QĐXXST-HNGĐ ngày 17 tháng 6 năm 2024, giữa các đương sự:
* Nguyên đơn: Bà Nguyễn Thị H, sinh năm 1979. Địa chỉ: K Tr . V . O, phường H, quận C, thành phố Đà Nẵng. (Có mặt).
* Bị đơn: Ông Huỳnh Quang B, sinh năm 1975. Địa chỉ: K Tr . N V, tổ B, phường B, quận H, thành phố Đà Nẵng (Có mặt)
NỘI DUNG VỤ ÁN:
* Tại đơn khởi kiện, trong quá trình giải quyết vụ án nguyên đơn là bà Nguyễn Thị H trình bày:
Bà và ông Huỳnh Quang B kết hôn vào năm 2004, có đăng ký kết hôn tại UBND phường B, quận H, thành phố Đà Nẵng trên cơ sở hoàn toàn tự nguyện. Sau khi kết hôn vợ chồng chung sống tại K50/18 Tr.N.V, tổ B, phường B, quận H, thành phố Đà Nẵng là nhà của ba mẹ chồng. Trong quá trình chung sống đến ngày 20/8/2023 vợ chồng phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân là do ông B vô cớ to tiếng, đánh đập, đập điện thoại, lấy gậy đập phá xe máy của bà. Bên cạnh đó, ông B1 còn lấy sim điện thoại của bà gắn vào máy của ông B để nhắn tin, gọi điện cho bạn bè của bà nhằm mục đích bêu rếu, hạ thấp danh dự của bà H1 Đến ngày 21/8/2023, ba mẹ ruột và chị gái của bà H có đến gia đình ông B để thưa chuyện, nhằm mục đích hòa giải nhưng đã bị gia đình chồng đuổi khỏi nhà và không tiếp chuyện. Cũng chính vì những lý do đó nên từ ngày 20/8/2023 đến nay, vợ chồng bà đã sống ly thân nhau. Hiện tại bà H đang sống tại gia đình ba mẹ ruột tại K Tr . V . O, phường H, quận C, thành phố Đà Nẵng. Nay, bà H xác định không còn tình cảm với ông B, mâu thuẫn ngày càng trầm trọng, cuộc sống vợ chồng không thể kéo dài nên đề nghị Tòa án cho được ly hôn với ông Huỳnh Quang B.
- Về con chung: Bà H xác định giữa bà và ông Huỳnh Quang B có 02 con chung là Huỳnh Nguyễn Bảo K, sinh ngày 24/05/2015 và Huỳnh Nguyễn Bảo K1, sinh ngày 06/5/2005. Ly hôn, bà có nguyện vọng trực tiếp nuôi dưỡng con chung là Huỳnh Nguyễn Bảo K và yêu cầu ông B phải có nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con chung mỗi tháng 3.000.000 đồng cho đến khi con chung đủ 18 tuổi. Con chung là Huỳnh Nguyễn Bảo K1 đã đủ 18 tuổi nên không yêu cầu giải quyết.
- Về tài sản chung: Không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết
- Về nợ chung: Không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết
* Trong quá trình giải quyết vụ án, tại phiên tòa ông Huỳnh Quang B trình bày:
Ông thống nhất với trình bày của bà H về thời gian và điều kiện kết hôn của vợ chồng. Trong quá trình chung sống đến trước khi sự việc cãi nhau vào ngày 20/8/2023 xảy ra thì vợ chồng vẫn sống chung hòa thuận không phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân xảy ra mâu thuẫn ngày 20/8/2023, là ông nghi ngờ bà H ngoại tình với người đàn ông khác, thường xuyên đi sớm về muộn. Từ 20/8/2023 đến nay, vợ chồng ông đã sống ly thân và ông hiện đang trực tiếp nuôi dưỡng con chung Huỳnh Nguyễn Bảo K, sinh ngày 24/05/2015 tại địa chỉ K T.N.V, tổ B, phường B, quận H, thành phố Đà Nẵng; còn con chung là Huỳnh Nguyễn Bảo K1, sinh ngày 06/5/2005 đang sống cùng mẹ tại gia đình nhà ngoại K Tr . V . O, phường H, quận C, thành phố Đà Nẵng. Qua các phiên hòa giải tại Tòa án ông đã nhiều lần mong muốn vợ chồng đoàn tụ để cùng nhau nuôi dạy con cái nhưng bà H vẫn cương quyết xin ly hôn thì tại phiên tòa ông đồng ý thuận tình ly hôn.
- Về con chung: Ông xác định ông và bà Nguyễn Thị H có 02 con chung Huỳnh Nguyễn Bảo K, sinh ngày 24/05/2015 và Huỳnh Nguyễn Bảo K1, sinh ngày 06/5/2005. Ly hôn, ông B1 có nguyện vọng trực tiếp nuôi dưỡng con chung là Huỳnh Nguyễn Bảo K, sinh ngày 24/05/2015 không yêu cầu bà H2 có nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con; Đối với con chung là Huỳnh Nguyễn Bảo K1, sinh ngày 06/5/2005 đã đủ 18 tuổi nên không yêu cầu Tòa án giải quyết.
- Về tài sản chung: Không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết
- Về nợ chung: Không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát phát biểu ý kiến về việc tuân theo pháp luật tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án của Thẩm phán, Hội đồng xét xử; việc chấp hành pháp luật của những người tham gia tố tụng dân sự kể từ khi thụ lý vụ án cho đến trước khi Hội đồng xét xử vào nghị án là tuân thủ đúng các quy định của Bộ luật tố tụng dân sự. Về nội dung, đại diện VKS đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của bà Nguyễn Thị H đối với ông Huỳnh Quang B và giao con chung là Huỳnh Nguyễn Bảo K, sinh ngày 24/05/2015 cho ông Huỳnh Quang B trực tiếp nuôi dưỡng, bà H2 không phải cấp dưỡng nuôi con .
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên toà và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:
[1] Về thủ tục tố tụng: Yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân quận Hải Châu, thành phố Đà Nẵng theo quy định tại Điều 30, điểm b khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật tố tụng dân sự.
[2] Về nội dung :
2.1. Về quan hệ hôn nhân: Bà Nguyễn Thị H và ông Huỳnh Quang B đăng ký kết hôn năm 2004 tại UBND phường B trên cơ sở tự nguyện. Hôn nhân trên cơ sở tự nguyện, đảm bảo các điều kiện cũng như thủ tục theo quy định của Luật hôn nhân và gia đình nên là hôn nhân hợp pháp, được pháp luật công nhận và bảo vệ.
Trong quá trình chung sống, đến ngày 20/8/2023 thì bắt đầu xảy ra mâu thuẫn, bất hòa. Nguyên nhân chính là do ông B nghi ngờ vợ ngoại tình nên đã bạo hành bà H1 Ông B1 còn lấy sim trong điện thoại bà H2, sau đó nhắn tin, điện thoại cho một số bạn bè trong danh bạ điện thoại của bà để bôi xấu, xúc phạm danh dự bà H2 và bà cũng đã trở về sinh sống với ba mẹ đẻ tại K3.V.O, quận C, TP Đà Nẵng từ tháng 8/2023 đến nay. Bà nhận thấy tình cảm vợ chồng không còn, mâu thuẫn đã thật sự trầm trọng không thể hàn gắn nên có nguyện vọng được ly hôn với ông B1.
Hội đồng xét xử nhận thấy: Bà H và ông B trong quá trình chung sống đã phát sinh nhiều mâu thuẫn. Nguyên nhân xuất phát từ sự bất đồng quan điểm, tính tình không còn hòa hợp, nghi ngờ lẫn nhau dẫn đến việc vợ chồng thường xuyên cãi vã, thậm chí xảy ra xô xát. Thực tế bà H và ông B đã sống ly thân từ tháng 8 năm 2023. Nay bà Nguyễn Thị H và ông Huỳnh Quang B đều xác định đã không còn tình cảm vợ chồng, không thể hàn gắn và hòa giải được nữa nên thống nhất thỏa thuận ly hôn.
Xét thấy, giữa bà Nguyễn Thị H và ông Huỳnh Quang B đã không còn sự quan tâm, chăm sóc lẫn nhau, mâu thuẫn trầm trọng, mục đích hôn nhân không đạt được. Tại phiên tòa, ông B và bà H đã thống nhất thuận tình ly hôn. Việc thuận tình ly hôn hoàn toàn tự nguyện nên Hội đồng xét xử cần áp dụng các Điều 51 và 55 của Luật hôn nhân và gia đình công nhận sự thỏa thuận trên của ông bà, là phù hợp với đề nghị của Viện kiểm sát nhân dân quận Hải Châu.
2.2. Về con chung: Bà Nguyễn Thị H xác định bà và ông Huỳnh Quang B có 02 con chung là Huỳnh Nguyễn Bảo K, sinh ngày 24/05/2015 và Huỳnh Nguyễn Bảo K1, sinh ngày 06/5/2005. Bà H có nguyện vọng được nuôi cháu Huỳnh Nguyên Bảo K2, vì cháu còn nhỏ, cần mẹ trong việc đưa đón học tập, sinh hoạt và yêu cầu ông B1 cấp dưỡng 3.000.000 đồng/tháng. Ông B1 không đồng ý, ông có nguyện vọng được nuôi dưỡng cháu B1 K vì hiện cháu đang sinh sống cùng ông, cháu đi học gần nhà, tiện đưa đón, nhà ở có phòng riêng, tiện sinh hoạt. Với mức lương hiện tại của ông đủ đảm bảo cho cháu phát triển toàn diện đến tuổi trưởng thành, không yêu cầu bà H2 cấp dưỡng.
Hội đồng xét xử, xét thấy: cả bà H và ông B đều có nguyện vọng được nuôi dưỡng cháu Huỳnh Nguyên B1 K. Sau khi vợ chồng xảy ra mâu thuẫn, bà H về nhà cha mẹ đẻ sinh sống cùng con trái lớn. Riêng cháu K vẫn đang sinh sống cùng cha, tiện lợi cho việc sinh hoạt cũng như học hành. Ông B hiện đang có thu nhập và chổ ở ổn định để chăm lo được cho cháu B1 K. Hơn nữa, cháu K cũng có nguyện vọng được tiếp tục sống với cha. Vì vậy, căn cứ theo quy định tại Điều 81, 82, 83 Luật Hôn nhân và gia đình, để đảm bảo cho sự phát triển toàn diện và ổn định, không làm xáo trộn cuộc sống của con chung nên cần giao cháu B1 K cho ông B trực tiếp nuôi dưỡng là phù hợp. Bà H không phải cấp dưỡng nuôi con.
2.3. Về tài sản chung và nợ chung: Bà Nguyễn Thị H và ông Huỳnh Quang B xác nhận không có tài sản chung nên không yêu cầu Tòa án giải quyết đồng thời xác định vợ chồng không có nợ chung nên Hội đồng xét xử không đề cập giải quyết.
[3] Về án phí: Án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm là 300.000 đồng bà Nguyễn Thị H phải chịu.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ các Điều 56, 58, 81, 82, 107, 110, 116, 117 và 118 của Luật hôn nhân và gia đình năm 2014; Căn cứ khoản 4 Điều 147, Điều 271 và Điều 273 của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 quy định về án phí, lệ phí Tòa án Tuyên xử :
Chấp nhận yêu cầu khởi kiện về việc “Ly hôn, nuôi con chung” của bà Nguyễn Thị H đối với ông Huỳnh Quang B.
1. Về quan hệ hôn nhân: Công nhận sự thuận tình ly hôn giữa bà Nguyễn Thị H với ông Huỳnh Quang B.
2. Về quan hệ con chung: Xử giao con chung là Huỳnh Nguyễn Bảo K, sinh ngày 24/05/2015 cho ông Huỳnh Quang B trực tiếp nuôi dưỡng. Bà Nguyễn Thị H không phải thực hiện nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con
Sau khi ly hôn, các bên đương sự vẫn có mọi quyền và nghĩa vụ đối với con chung theo quy định của pháp luật. Bên không nuôi con có quyền đi lại, thăm nom, chăm sóc, giáo dục con chung không ai được quyền ngăn cản. Khi cần thiết vì lợi ích con chung các bên có quyền làm đơn xin thay đổi nuôi con hoặc mức cấp dưỡng nuôi con.
3. Về tài sản chung và nợ chung: Bà Nguyễn Thị H và ông Huỳnh Quang B xác định không có và không yêu cầu Tòa án giải quyết.
4. Án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm là 300.000 đồng bà Nguyễn Thị H phải chịu, nhưng được trừ vào 300.000 đồng tiền tạm ứng án phí bà H2 đã nộp theo biên lai thu số 000091 ngày 07 tháng 12 năm 2023 của Chi cục Thi hành án dân sự quận Hải Châu.
5. Về quyền kháng cáo: Bà Nguyễn Thị H, ông Huỳnh Quang B quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án, ngày 12/7/2024
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
Nơi nhận:
| TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TOÀ Đặng Ngọc Kinh Luân |
Bản án số 30/2024/HNGĐ-ST ngày 12/07/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN HẢI CHÂU, THÀNH PHỐ ĐÀ NẴNG về tranh chấp ly hôn, nuôi con
- Số bản án: 30/2024/HNGĐ-ST
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp ly hôn, nuôi con
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 12/07/2024
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN HẢI CHÂU, THÀNH PHỐ ĐÀ NẴNG
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Ly hôn
