Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN PHONG THỔ

TỈNH LAI CHÂU

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 30/2024/HNGĐ-ST

Ngày 14-6-2024

V/v Ly hôn, tranh chấp về

nuôi con khi ly hôn

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN PHONG THỎ, TỈNH LAI CHÂU

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Đỗ Thị Hạnh.

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Lý Quang Minh; Ông Lò Văn Chiên.

Thư ký phiên toà: Ông Lương Văn Đoàn - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Phong Thổ, tỉnh Lai Châu.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Phong Thổ, tỉnh Lai Châu tham gia phiên tòa: Ông Đào Mạnh Hân - Kiểm sát viên.

Ngày 14 tháng 6 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Phong Thổ, tỉnh Lai Châu xét xử công khai vụ án hôn nhân và gia đình sơ thẩm thụ lý số: 64/2024/TLST-HNGĐ, ngày 22 tháng 01 năm 2024, về việc: Ly hôn, tranh chấp về nuôi con chung khi ly hôn theo, Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 31/2024/QĐXXST-HNGĐ, ngày 10 tháng 5 năm 2024, Quyết định hoãn phiên tòa số: 22/2024/QĐST-HNGĐ, ngày 27 tháng 5 năm 2024, giữa các đương sự:

Nguyên đơn: Anh Phu Seo G, sinh năm: 1987, địa chỉ: Bản H, xã D, huyện P, tỉnh Lai Châu, vắng mặt, có đơn xin xét xử vắng mặt.

Bị đơn: Chị Thùng Thị T, sinh năm: 1988, địa chỉ: Bản H, xã D, huyện P, tỉnh Lai Châu, vắng mặt không có lý do.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo đơn khởi kiện, lời khai trong quá trình giải quyết vụ án, nguyên đơn là anh Phu Seo G trình bày:

Anh Phu Seo G và chị Thùng Thị T là vợ chồng, có đăng ký kết hôn ngày 28/11/2013, tại Ủy ban nhân dân xã D, huyện P, tỉnh Lai Châu cấp. Anh G, chị T kết hôn trên cơ sở tự nguyện, không bị ai ép buộc. Sau khi kết hôn, anh Phu Seo G và chị Thùng Thị T chung sống hạnh phúc đến khoảng từ cuối năm 2020 đến nay thì thường phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân là do giữa anh G, chị T bất đồng quan điểm, xảy ra nhiều mâu thuẫn, vợ chồng không có tiếng nói chung, không còn tình cảm với nhau. Từ năm 2021 đến nay, anh G và chị T đã sống ly thân và không quan tâm đến nhau. Hiện nay, chị T không có thai và không nuôi con dưới 12 tháng tuổi. Anh G không còn tình cảm với chị T nữa nên đề nghị Tòa án giải quyết cho anh G được ly hôn với chị T.

Về con chung: Anh Phu Seo G và chị Thùng Thị T có 02 con chung là cháu Phu Seo M, sinh ngày 30/4/2010 và cháu Phu Seo T1, sinh ngày 25/8/2017. Từ khi, anh G và chị T sống ly thân thì các cháu M, T1 ở cùng với anh G, được anh G nuôi dưỡng, quan tâm, chăm sóc. Anh G có đủ điều kiện và khả năng nuôi dưỡng, chăm sóc các con. Sau khi ly hôn, anh G mong muốn được nuôi cháu M, cháu T1 cho đến khi các cháu trưởng thành. Anh G không yêu cầu chị T cấp dưỡng nuôi con.

Về tài sản chung, nợ chung: Anh G và chị T không có tài sản chung, không có nợ chung, không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Trong suốt quá trình giải quyết vụ án, bị đơn không có mặt theo giấy triệu tập của Tòa án. Tại phiên hòa giải, bị đơn vắng mặt nên vụ án không hòa giải được. Bị đơn không có yêu cầu phản tố.

Theo lời khai của cháu Phu Seo M: Hiện nay, các cháu đang ở với bố, được bố yêu thương, quan tâm, chăm sóc. Nếu bố mẹ cháu ly hôn thì cháu có nguyện vọng được ở với bố.

Kết quả xác minh, thu thập tài liệu, chứng cứ của Tòa án của Tòa án, xác định: Chị Thùng Thị T có nơi đăng ký thường trú tại bản Hợp 2, xã D, huyện P, tỉnh Lai Châu. Chị T đi làm ăn xa, thỉnh thoảng có mặt tại địa phương. Chị T không khai báo tạm vắng, không cung cấp thông tin về nơi ở của bản thân nên không ai biết chị T đang ở đâu. Từ khi đi làm ăn xa, chị T thỉnh thoảng liên lạc, gọi điện về hỏi thăm con cái. Chị T đã biết việc anh G xin ly hôn, chị T nhất trí ly hôn với anh G, nhất trí để anh G nuôi con sau ly hôn. Chị T không có tranh chấp về tài sản khi ly hôn.

Ý kiến của Kiểm sát viên tham gia phiên tòa:

Về việc tuân theo pháp luật tố tụng: Thẩm phán thụ lý vụ án, thu thập chứng cứ, chuẩn bị xét xử và quyết định đưa vụ án ra xét xử đã đảm bảo đúng quy định về thời hạn, nội dung, thẩm quyền theo Bộ luật Tố tụng dân sự. Tại phiên tòa, Hội đồng xét xử và Thư ký đã tuân theo đúng các quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự về việc xét xử sơ thẩm vụ án.

Nguyên đơn đã thực hiện đúng quyền nghĩa vụ theo quy định tại Điều 71 của Bộ luật Tố tụng dân sự. Quá trình giải quyết vụ án, bị đơn không có mặt theo giấy triệu tập của Tòa án, không thực hiện đúng quyền, nghĩa vụ theo quy định tại Điều 72 của Bộ luật Tố tụng dân sự. Tại phiên tòa, nguyên đơn có đơn xin xét xử vắng mặt, bị đơn vắng mặt không có lý do.

Về việc giải quyết vụ án: Đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ vào quy định tại khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, các Điều 147, 227, 228, 271, 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự; các Điều 51, 56, 57, 58, 81, 82, 83 của Luật Hôn nhân và gia đình, chấp nhận đơn khởi kiện của anh Phu Seo G, xử:

Về quan hệ hôn nhân: Anh Phu Seo G được ly hôn với chị Thùng Thị T. Về con chung: Giao cháu Phu Seo M và cháu Phu S T1 cho anh Phu Seo G chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục cho đến khi các cháu đủ 18 tuổi, có khả năng lao động hoặc có sự thay đổi khác theo quy định của pháp luật. Anh G phải tạo điều kiện cho chị T được thăm nom, chăm sóc các con theo quy định của pháp luật. Về nghĩa vụ cấp dưỡng: Anh Phu Seo G không yêu cầu chị Thùng Thị T phải cấp dưỡng nuôi con chung. Về tài sản chung, nợ chung: Đương sự không yêu cầu giải quyết. Về án phí, đề nghị Hội đồng xét xử giải quyết theo quy định của pháp luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Căn cứ vào các chứng cứ, tài liệu có trong hồ sơ vụ án được xem xét tại phiên toà và căn cứ vào diễn biến phiên toà, ý kiến của đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Phong Thổ tại phiên tòa, Hội đồng xét xử xét thấy:

[1] Về thẩm quyền giải quyết vụ án: Nguyên đơn là anh Phu Seo G có đơn khởi kiện đề nghị Tòa án nhân dân huyện Phong Thổ, tỉnh Lai Châu giải quyết việc ly hôn, tranh chấp về nuôi con khi ly hôn giữa anh G và bị đơn là chị Thùng Thị T. Chị T đã sinh sống và có nơi đăng ký thường trú là: Bản H, xã D, huyện P, tỉnh Lai Châu. Tại thời điểm anh G gửi đơn đến Tòa án xin ly hôn thì anh G không biết chị T đi làm công việc gì, ở đâu. Vì vậy, đây là vụ án ly hôn, tranh chấp về nuôi con khi ly hôn thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Phong Thổ, tỉnh Lai Châu theo quy định tại khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35 và điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự.

[2] Tại phiên tòa hôm nay, bị đơn đã được Tòa án đã triệu tập hợp lệ nhưng vắng mặt không có lý do. Quá trình giải quyết vụ án, bị đơn không có yêu cầu phản tố. Nguyên đơn có đơn xin xét xử vắng mặt. Vì vậy, Hội đồng xét xử vụ án theo thủ tục vắng mặt các đương sự theo quy định tại Điều 227, Điều 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự.

[3] Xét yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn:

Về quan hệ hôn nhân: Anh Phu Seo G và chị Thùng Thị T là vợ chồng, có đăng ký kết hôn vào ngày 28/11/2013, tại Ủy ban nhân dân xã D, huyện P, tỉnh Lai Châu theo đúng quy định pháp luật nên đây là hôn nhân hợp pháp. Sau khi kết hôn, anh G và chị T chung sống hạnh phúc được một thời gian rồi thường phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân mâu thuẫn là do giữa hai vợ chồng bất đồng quan điểm sống, không chia sẻ, thông cảm cho nhau. Hai vợ chồng không còn yêu thương, quan tâm, chăm sóc nhau. Chị T không nói cho anh G biết chị T đi làm công việc gì, làm ở đâu. Anh G và chị T đã sống ly thân, không còn yêu thương nhau, không ai quan tâm đến cuộc sống của ai. Hiện nay, anh G không còn tình cảm với chị T nữa nên đề nghị Tòa án giải quyết cho anh G được ly hôn với chị T. Chị T cũng nhất trí ly hôn với anh G. Tòa án đã thông báo phiên hòa giải và triệu tập các đương sự để tiến hành hòa giải nhưng tại phiên hòa giải, chị T vắng mặt không có lý do. Giữa chị T và anh G không còn có sự quan tâm, chia sẻ, chăm sóc, yêu thương nhau, quan hệ hôn nhân lâm vào tình trạng trầm trọng, mục đích hôn nhân không đạt được. Tại thời điểm hiện nay, chị T không có thai, không nuôi con nhỏ dưới 12 tháng tuổi. Vì vậy, Hội đồng xét xử xét thấy cần chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của anh G, giải quyết cho anh G được ly hôn với chị T theo quy định tại Điều 51, Điều 56 của Luật Hôn nhân và gia đình.

Về con chung: Từ khi anh G, chị T sống ly thân đến nay, cháu Phu Seo M và cháu Phu S T1 sống cùng với bố, được bố quan tâm, chăm sóc. Khi được Tòa án hỏi ý kiến, cháu M trình bày cháu có nguyện vọng được ở với bố. Hiện nay, anh G có đủ sức khỏe, đủ điều kiện để nuôi dưỡng, chăm sóc các con và có nguyện vọng được nuôi dưỡng các con. Chị T cũng nhất trí để anh G nuôi dưỡng con chung. Vì vậy, để đảm bảo các điều kiện tốt nhất cho sự phát triển của trẻ, Hội đồng xét xử xét thấy cần giao cháu M, cháu T1 cho anh G là người trực tiếp nuôi cho đến khi các cháu đủ 18 tuổi. Chị T có nghĩa vụ tôn trọng quyền của con được sống chung với anh G là người trực tiếp nuôi và có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở. Anh G cùng các thành viên gia đình không được cản trở chị T trong việc thăm nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con.

Về nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con chung, anh G không yêu cầu chị T cấp dưỡng nên Hội đồng xét xử không xem xét.

Về tài sản: Nguyên đơn và bị đơn không có tài sản chung, không có nợ chung, không yêu cầu Tòa án giải quyết nên Hội đồng xét xử không xem xét.

Quan điểm của đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Phong Thổ tham gia phiên tòa về việc giải quyết vụ án đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn là có căn cứ.

[4] Về án phí dân sự sơ thẩm: Nguyên đơn là anh Phu Seo G phải nộp tiền án phí trọng vụ án hôn nhân và gia đình theo quy định tại Điều 24, điểm a khoản 5 Điều 27 của Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14, ngày 30/12/2016, của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, các Điều 147, 227, 228, 266, 271, 273, của Bộ luật Tố tụng dân sự; các Điều 51, 56, 57, 58, 81, 82, 83 của Luật Hôn nhân và gia đình; Điều 24, điểm a khoản 5 Điều 27 của Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14, ngày 30/12/2016, của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án,

Tuyên xử:

1. Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.

- Về quan hệ hôn nhân: Anh Phu Seo G được ly hôn với chị Thùng Thị T.

- Về con chung: Giao cháu Phu Seo M, sinh ngày 30/4/2010 và cháu Phu Seo T1, sinh ngày 25/8/2017 cho anh Phu Seo G trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục cho đến khi các cháu đủ 18 tuổi. Cha mẹ không trực tiếp nuôi con có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở.

Về nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con chung: Anh Phu S Giàng không yêu cầu chị Thùng Thị T cấp dưỡng nuôi con chung, không yêu cầu Tòa án giải quyết.

- Về tài sản: Anh Phu Seo G và chị Thùng Thị T không có tài sản chung, không có nợ chung, không yêu cầu Tòa án giải quyết.

2. Nghĩa vụ chịu án phí dân sự sơ thẩm: Anh Phu Seo G phải chịu án phí đối với vụ án hôn nhân và gia đình, số tiền án phí phải nộp là 300.000 đồng. Khấu trừ với số tiền tạm ứng án phí anh G đã nộp theo biên lai số: 0000376, ngày 22/01/2024, tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Phong Thổ, tỉnh Lai Châu, anh G đã nộp đủ số tiền án phí phải nộp.

3. Quyền kháng cáo: Nguyên đơn, bị đơn được quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận được bản án hoặc ngày bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật./.

Nơi nhận:

  • - TAND tỉnh Lai Châu;
  • - VKSND huyện Phong Thổ;
  • - THADS huyện Phong Thổ;
  • - UBND xã Dào San (Nơi ĐKKH);
  • - Đương sự;
  • - Lưu: HS.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Đỗ Thị Hạnh

HỘI THẨM NHÂN DÂN

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 30/2024/HNGĐ-ST ngày 14/06/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN PHONG THỔ, TỈNH LAI CHÂU về ly hôn, tranh chấp về nuôi con khi ly hôn

  • Số bản án: 30/2024/HNGĐ-ST
  • Quan hệ pháp luật: Ly hôn, tranh chấp về nuôi con khi ly hôn
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 14/06/2024
  • Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN PHONG THỔ, TỈNH LAI CHÂU
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Anh G xin ly hôn
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger