|
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN AN MINH TỈNH KIÊN GIANG Bản án số: 30/2024/HNGĐ-ST Ngày: 17-5-2024 Về việc ly hôn và nuôi con |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN AN MINH, TỈNH KIÊN GIANG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Ngô Trường Hận.
Các Hội thẩm nhân dân: 1. Ông Nguyễn Tấn Để.
2. Bà Phạm Thanh Tuyền.
- Thư ký phiên tòa: Bà Phan Thị Hồng Nhung - Thư ký Tòa án nhân dân huyện An Minh, tỉnh Kiên Giang.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện An Minh, tỉnh Kiên Giang tham gia phiên tòa: Ông Trần Văn Ý - Kiểm sát viên.
Trong ngày 17 tháng 5 năm 2024, Tòa án nhân dân huyện An Minh, tỉnh Kiên Giang xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 15/2024/TLST-HNGĐ ngày 22 tháng 01 năm 2024 về việc “Ly hôn và nuôi con”, theo Quyết định hoãn phiên tòa số 41/2024/QĐST-HNGĐ ngày 24/4/2024, giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Chị Nguyễn Thị C, sinh năm 2001; địa chỉ: ấp T, xã T, huyện A, tỉnh Kiên Giang. Có mặt.
- Bị đơn: Anh T Từ Khánh L, sinh năm 2000; địa chỉ: ấp X, xã T, huyện A, tỉnh Kiên Giang. Vắng mặt lần 02 không lý do.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
- Theo đơn khởi kiện và trong quá trình giải quyết vụ án nguyên đơn trình bày: Năm 2019 anh L và chị C cưới nhau, đến năm 2021 đăng ký kết hôn. Trong quá trình chung sống vợ chồng không hợp nhau, bất hòa, thường xuyên cự cãi, anh L thường tụ tập bạn bè lêu lỏng bên ngoài, không làm gì giúp vợ con, có khi đi 02-03 ngày mới về nhà. Không chịu đựng được nên chị C về nhà cha mẹ ruột ở từ Tết Nguyên đán 2024 đến nay. Nay không thể hàn gắn nên yêu cầu Tòa án giải quyết cho ly hôn.
Hiện tại vợ chồng có một người con chung là Thạch Nguyễn Khánh Đ, sinh ngày 31/01/2020, đang sống chung chị C. Chị C yêu cầu được nuôi con. Không yêu cầu cấp dưỡng. Chị C không yêu cầu giải quyết vấn đề gì khác.
Tại phiên tòa, chị C giữ nguyên yêu cầu ly hôn và nuôi con; không yêu cầu giải quyết vấn đề gì khác.
- Bị đơn là anh L vắng mặt trong suốt thời gian Tòa án giải quyết vụ án nên không có lời trình bày.
- Đại diện Viện kiểm sát phát biểu ý kiến: Thẩm phán, Thư ký, Hội đồng xét xử và những người tiến hành tố tụng đã thực hiện đúng quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự. Nguyên đơn đã thực hiện đúng các quyền, nghĩa vụ của mình. Bị đơn đã được Tòa án triệu tập hợp lệ nhưng vắng mặt lần thứ hai không lý do nên Hội đồng xét xử tiến hành xử vắng mặt là đúng quy định tại Điều 227 của Bộ luật Tố tụng dân sự. Đề nghị chấp nhận yêu cầu ly hôn của chị C, giao con cho chị C nuôi. Không ai yêu cầu vấn đề gì khác nên đề nghị không xét.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
[1] Chị C yêu cầu ly hôn nên Tòa án thụ lý đơn giải quyết theo khoản 1 Điều 53 của Luật Hôn nhân và gia đình. Chị C yêu cầu được ly hôn và giải quyết quyền nuôi con chung, không yêu cầu giải quyết vấn đề gì khác nên xác định quan hệ pháp luật tranh chấp là “Ly hôn và nuôi con”.
Anh L1 đã được triệu tập hợp lệ để hòa giải hai lần nhưng vắng mặt nên vụ án không tiến hành hòa giải được theo Điều 207 của Bộ luật Tố tụng dân sự. Anh L1 cũng được triệu tập hợp lệ hai lần để tham gia phiên tòa nhưng đều vắng mặt không vì sự kiện bất khả kháng nên Hội đồng xét xử căn cứ Điều 227 của Bộ luật Tố tụng dân sự xét xử vắng mặt anh L1.
Các đương sự không ai thuộc trường hợp được trợ giúp pháp lý miễn phí.
[2] Năm 2021 anh L1 và chị C đăng ký kết hôn nên hôn nhân của anh chị là hợp pháp. Trong quá trình chung sống, anh chị xảy ra mâu thuẫn nên sống ly thân từ Tết Nguyên đán 2024 đến nay. Chị C xác định tình cảm không còn, không thể hàn gắn nên yêu cầu ly hôn.
Xét thấy, anh chị đã mâu thuẫn thời gian dài, hiện nay mỗi người sống một nơi, anh L1 không về tham gia hòa giải nên Tòa án không động viên anh chị hàn gắn được. Anh chị là vợ chồng nhưng không quan tâm, chăm sóc, giúp đỡ nhau là vi phạm Điều 19 của Luật hôn nhân và gia đình. Mâu thuẫn giữa anh chị đã trầm trọng, mục đích hôn nhân không đạt được. Do đó, Hội đồng xét xử thống nhất cho chị C được ly hôn với anh L1.
[3] Chị C trình bày có một người con chung là Thạch Nguyễn Khánh Đ, sinh ngày 31/01/2020, đang sống chung chị C và chị C yêu cầu được tiếp tục nuôi con.
Chị C có đủ điều kiện nuôi con, anh L1 không có ý kiến gì. Hội đồng xét xử thống nhất yêu cầu của chị C, giao con cho chị C trực tiếp nuôi dưỡng.
[4] Chị C trình bày không tài sản và nợ chung, hiện tại không yêu cầu cấp dưỡng; không yêu cầu vấn đề gì khác, anh L1 không có ý kiến gì nên Hội đồng xét xử không đặt ra để xem xét. Nếu có phát sinh tranh chấp các đương sự có quyền khởi kiện thành vụ án khác.
[5] Về án phí sơ thẩm: Chị C là nguyên đơn trong vụ án ly hôn nên chịu án phí theo quy định tại khoản 4 Điều 147 của Bộ luật Tố tụng dân sự và Điều 6, 27 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ Điều 92, 147, 207, 227, 271, 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự;
Căn cứ Điều 19, 51, 53, 56, 57, 81, 82, 83, 84 của Luật Hôn nhân và gia đình; Điều 6, 27 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.
- Về hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu ly hôn của chị Nguyễn Thị C đối với anh Thạch Từ Khánh L2. Cho chị C được ly hôn với anh L2.
- Về con chung: Giao Thạch Nguyễn Khánh Đ cho chị C trực tiếp nuôi dưỡng. Người không trực tiếp nuôi con có quyền, nghĩa vụ thăm nom, chăm sóc, giáo dục con chung, không ai được cản trở. Trường hợp người trực tiếp nuôi con vi phạm nghĩa vụ nuôi con hoặc không còn đủ điều kiện nuôi con thì người không trực tiếp nuôi con có quyền yêu cầu thay đổi người trực tiếp nuôi.
- Về án phí sơ thẩm: Chị Nguyễn Thị C chịu 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) tiền án phí hôn nhân và gia đình; được khấu trừ vào tiền tạm ứng án phí đã nộp là 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) theo Biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0005126 ngày 15/01/2024 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện An Minh, tỉnh Kiên Giang.
- Nguyên đơn có mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án. Bị đơn vắng mặt phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày bản án được tống đạt hợp lệ.
Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 của Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 của Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 của Luật thi hành án dân sự./.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Ngô Trường Hận |
Bản án số 30/2024/HNGĐ-ST ngày 17/05/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN AN MINH, TỈNH KIÊN GIANG về ly hôn và nuôi con
- Số bản án: 30/2024/HNGĐ-ST
- Quan hệ pháp luật: ly hôn và nuôi con
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 17/05/2024
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN AN MINH, TỈNH KIÊN GIANG
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Chị C yêu cầu ly hôn với anh L và giải quyết nuôi con chung.
