Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN CHỢ MỚI

TỈNH AN GIANG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 30/2024/HS-ST

Ngày 25 tháng 4 năm 2024

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CHỢ MỚI, TỈNH AN GIANG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Bùi Phương Quyền.

Các Hội thẩm nhân dân:

  • Ông Tô Ngọc Liêm;
  • Ông Đặng Văn Tâm.

- Thư ký phiên tòa: Bà Trần Thị Thúy Liễu.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Chợ Mới, tỉnh An Giang tham gia phiên tòa: Ông Tôn Văn Xuyên - Kiểm sát viên.

Ngày 25 tháng 4 năm 2024, tại Trụ sở Toà án nhân dân huyện Chợ Mới, tỉnh An Giang. Tòa án nhân dân huyện Chợ Mới xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 15/2024/TLST-HS ngày 05 tháng 02 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 32/2024/QĐXXST-HS ngày 12/4/2024 đối với bị cáo:

Trần Thanh T, sinh năm 1988; nơi sinh: huyện C, tỉnh An Giang; nơi đăng ký hộ khẩu thường trú: ấp A, xã H, huyện C, tỉnh An Giang; nghề nghiệp: Làm thuê; trình độ học vấn: 09/12; giới tính: Nam; dân tộc: Kinh; tôn giáo: Phật giáo Hòa Hảo; quốc tịch: Việt Nam; Con ông Phạm Quyết C (chết) và bà Trần Thị Q (chết); bị cáo có vợ Nguyễn Thị Tú A (đã ly hôn) không có con; tiền án, tiền sự: Không. Bị tạm giữ từ ngày 28/8/2023 cho đến nay và có mặt tại phiên tòa.

Người làm chứng:

  • - Ông Lưu Văn M, sinh năm 1987 (vắng mặt);
  • - Bà Phạm Thị Trúc M1, sinh năm 1994 (vắng mặt);
  • - Ông Phạm Hữu S, sinh năm 1969 (vắng mặt);
  • - Ông Trần Văn N, sinh năm 1955(vắng mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

2

Khoảng 19 giờ 30 phút, ngày 28/8/2023, nhận được tin báo của người dân, Công an xã H phối hợp Đội Cảnh sát điều tra tội phạm về kinh tế ma túy Công an huyện C kiểm tra nhà của Trần Thanh T thuộc ấp A, xã H, phát hiện trong phòng ngủ của T có 17 bọc nilon trong suốt hàn kín bên trong chứa chất rắn dạng tinh thể màu trắng và 01 bọc nilon trong suốt, có rãnh khóa một đầu viền màu đỏ bên trong có chứa chất rắn dạng tinh thể màu trắng. T khai 18 bọc nilon trên là ma túy đá của T mua của T1 ở thành phố Hồ Chí Minh với giá 2.200.000₫ để sử dụng và bán lại cho người khác, thu lợi nên Cơ quan Công an lập biên bản bắt người phạm tội quả tang đối với T và thu giữ vật chứng có liên quan.

Quá trình điều tra, còn xác định: Từ tháng 01/2023, T bắt đầu sử dụng ma túy, sau đó có ý định mua ma túy bán lại cho người nghiện để hưởng lợi. Trong khoảng thời gian từ tháng 03/2023 đến ngày bị phát hiện. T khai đã 06 lần mua ma túy của T1, mỗi lần mua 2.200.000đ, trong đó lần mua đầu tiên T không bán mà để lại sử dụng hết; 05 lần còn lại sau khi mua ma túy về thì T đem ra phân lẻ ra nhiều bọc nhỏ rồi bán lại cho nhiều người khác, thu lợi. Trong đó, T bán cho 04 người (không rõ họ, tên, địa chỉ) được 4.000.000đ; bán cho H không rõ họ, địa chỉ 02 lần được 300.000đ.

Vật chứng thu giữ: 18 bọc nilon chứa chất tinh thể màu trắng, 01bật lửa màu xanh, 01 cây kéo bằng kim loại màu trắng, 01 ông hút màu đen cắt xéo một đầu, 01 chai nhựa nắp màu đỏ có gắn nỏ thủy tinh và ống hút màu trắng, 01 cây cân màu trắng bạc, 01 điện thoại di động nhãn hiệu Nokia – 105 có lắp thẻ sim mạng Mobifone (đã qua sử dụng), đang tạm giữ để xử lý.

Căn cứ Kết luận giám định số 172/KL-KTHS(MT-GT) ngày 05/9/2023 của Phòng K Công an tỉnh A, ghi nhận: Mẫu M1, M2 gửi đến giám định là ma túy, loại Methamphetamine, có khối lượng 2,9781 gam.

Ngày 06/9/2023, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện C khởi tố bị can đối với Trần Thanh T để điều tra xử lý.

Tại Cáo trạng số 15/CT-VKSCM ngày 05 tháng 02 năm 2023, Viện kiểm sát nhân dân huyện Chợ Mới đã truy tố bị cáo Trần Thanh T về tội “Mua bán trái phép chất ma túy” theo quy định tại khoản 1 Điều 251 Bộ luật Hình sự năm 2015.

Tại phiên tòa, bị cáo Trần Thanh T khai nhận hành vi phạm tội của mình như nội dung đã nêu trên, bị cáo xin Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt. Bên cạnh đó, bị cáo khai. Người làm chứng cung cấp lời khai như đã khai trong giai đoạn điều tra.

Đại diện Viện kiểm sát luận tội đối với bị cáo, giữ nguyên quyết định truy tố như Cáo trạng. Căn cứ vào tính chất, mức độ phạm tội, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và nhân thân của người phạm tội, đề nghị Hội đồng xét xử: áp dụng khoản 1 Điều 251, các điểm s khoản 1 Điều 51, Điều 38 Bộ luật Hình sự xử phạt bị cáo Trần Thanh T từ 02 năm 06 tháng đến 03 năm tù.

3

Về hình phạt bổ sung, do bị cáo không nghề nghiệp, không có thu nhập nên đề nghị không áp dụng.

Về xử lý vật chứng, biện pháp tư pháp, đề nghị áp dụng Điều 47 Bộ luật Hình sự, khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự, tịch thu, tiêu hủy 18 bọc nilon chứa chất tinh thể màu trắng, 01 bật lửa màu xanh, 01 cây kéo bằng kim loại màu trắng, 01 ống hút màu đen cắt xéo một đầu, 01 chai nhựa nắp màu đỏ có gắn nỏ thủy tinh và ống hút màu trắng, 01 cây cân màu trắng bạc, 01 điện thoại di động nhãn hiệu Nokia – 105 có lắp thẻ sim mạng Mobifone (đã qua sử dụng). Buộc bị cáo T nộp 4.300.000đ tiền thu lợi từ việc mua bán ma túy.

Bị cáo Trần Thanh T không trình bày bào chữa. Xin Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về tố tụng: Hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan Cảnh sát điều tra - Công an huyện C, Điều tra viên; Viện kiểm sát nhân dân huyện C, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng Hình sự.

Quá trình khởi tố, điều tra, truy tố và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến khiếu nại nên về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện hợp pháp.

Sự vắng mặt của những người tham gia tố tụng: Những người làm chứng đã được Tòa án triệu tập tham gia phiên tòa hợp lệ nhưng vẫn vắng mặt. Tuy nhiên, đã có lời khai trong hồ sơ vụ án, việc vắng mặt của họ không gây trở ngại cho việc xét xử. Căn cứ Điều 292 Bộ luật Tố tụng Hình sự, Hội đồng xét xử quyết định vẫn tiến hành xét xử.

[2] Về nội dung: Quá trình điều tra cũng như tại phiên tòa bị Trần Thanh T đã khai nhận: Từ tháng 3/2023 đến ngày bị bắt, Trần Thanh T đã 06 lần mua ma túy của T1 đem về phân lẻ và bán lại cho 04 người (không rõ họ tên, địa chỉ) và bán cho H 02 lần và bị bắt quả tang thu giữ của bị cáo 2,9781g, loại Methamphetamine. Lời khai nhận tội của bị cáo là phù hợp với nhau, phù hợp lời khai của người làm chứng cùng các tang vật đã thu giữ, các tài liệu chứng cứ khác được thu thập khách quan đúng pháp luật có trong hồ sơ vụ án. Tuy T khai trước khi bị bắt đã nhiều lần mua ma túy của T1 để sử dụng và bán lại cho nhiều người nhằm thu lợi nhưng không thu giữ được vật chứng để giám định và chưa làm việc được người mua nên nên chưa đủ cơ sở để xử lý T phạm tội nhiều lần do đó Cáo trạng Viện kiểm sát truy tố bị cáo Trần Thanh T về tội mua bán trái phép chất ma túy theo khoản 1 Điều 251 Bộ luật hình sự năm 2015 là có căn cứ nên được xem chấp nhận.

[3] Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm đến chế đinh độc quyền của Nhà nước trong việc quản lý chất ma túy, gây mất trật tự trị an và an toàn cho xã hội và làm phát sinh các tệ nạn xã hội và tội phạm khác.

4

[4] Xét tính chất, mức độ nghiêm trọng của tội phạm, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và nhân thân của người phạm tội, Hội đồng xét xử nhận thấy: Bị cáo là người trưởng thành, khoẻ mạnh, nhận thức được hành vi của bản thân. Bị cáo biết rõ ma túy là chất gây nghiện cực kỳ nguy hiểm, không những ảnh hưởng đến sức khỏe con người mà còn làm tiêu tán tài sản và là nguyên nhân phát sinh các tệ nạn xã hội và các loại tội phạm hình sự khác; bản thân bị cáo nghiện ma túy và biết các hậu quả nêu trên, lẽ ra bị cáo phải cố gắng cai nghiện và khuyên mọi người tránh xa ma túy thế nhưng, do bản tính thích hưởng thụ muốn có tiền tiêu xài và có ma túy sử dụng để thỏa mãn cơn nghiện của bản thân mà bị cáo đã bất chấp tất cả mà phạm tội bằng việc bán ma túy cho người khác. Trong vụ án này, hành vi của bị cáo được thực hiện với lỗi cố ý, động cơ mục đích của tội phạm là để thỏa mãn cơn nghiện của bản thân. Do đó cần xử phạt bị cáo mức án tương xứng với tính chất và mức độ, hành vi phạm tội của bị cáo để cải tạo bị cáo thành công dân tốt, sống biết tôn trọng pháp luật đồng thời cũng răn đe phòng ngừa chung.

[5] Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và nhân thân, trong quá trình điều tra cũng như tại phiên toà hôm nay, bị cáo đã tỏ rõ thái độ thành khẩn khai báo. Đây là các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự được quy định tại các điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự năm 2015. Bên cạnh đó, về nhân thân, bị cáo chưa có tiền án, tiền sự. Vì vậy, cần xem xét, giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo khi lượng hình.

[6] Về hình phạt bổ sung, xét bị cáo thuộc thành phần lao động nghèo, không nghề nghiệp nên không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.

[7] Về trách nhiệm của những người liên quan: Đối với người tên Y giới thiệu cho T 06 lần mua ma túy của T1, để Tâm bán lại cho H và nhiều người khác (không rõ họ tên, địa chỉ) nên Cơ quan điều tra tiếp tục xác minh làm rõ là có căn cứ. Đối với M và M1 không không biết T sử dụng và mua bán ma túy nên cơ nên Cơ quan điều tra không xử lý là có căn cứ.

[8] Về xử lý vật chứng và biện pháp tư pháp:

  • - Lượng ma túy bị thu giữ khi bắt quả tang bị cáo là vật cấm lưu hành nên cần tịch thu tiêu hủy cùng với các vật dụng dùng để chia ma túy và sử dụng không còn giá trị sử dụng gồm: 01 bật lửa màu xanh, 01 cây kéo bằng kim loại màu trắng, 01 ống hút màu đen cắt xéo một đầu, 01 chai nhựa nắp màu đỏ có gắn nỏ thủy tinh và ống hút màu trắng, 01 cây cân màu trắng bạc.
  • - Đối 01 điện thoại di động nhãn hiệu Nokia – 105 có lắp thẻ sim mạng Mobifone (đã qua sử dụng) là phương tiện bị cáo dụng vào việc phạm tội nên cần tịch thu phát mãi nộp ngân sách nhà nước.
  • - Bị cáo thu lợi được 4.300.000 đồng từ việc bán ma túy cho các đối tượng nghiện. Vì vậy, buộc bị cáo giao nộp số tiền 4.300.000 đồng do phạm tội mà có vào ngân sách nhà nước theo điểm b khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự.

[9] Về án phí và quyền kháng cáo: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

5

QUYẾT ĐỊNH:

Tuyên bố bị cáo Trần Thanh T phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy”;

1. Căn cứ vào khoản 1 Điều 251, các điểm s khoản 1 Điều 51, Điều 38 Bộ luật Hình sự năm 2015, được sửa đổi, bổ sung năm 2017; xử phạt bị cáo Trần Thanh T 02 (hai) năm 06 (sáu) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù của bị cáo được tính kể từ ngày 28/8/2023.

2. Căn cứ vào khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự năm 2015, được sửa đổi, bổ sung năm 2017 và khoản 2, điểm a khoản 3 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015;

  • - Tịch thu, tiêu hủy: 01 (một) phong bì màu trắng được niêm phong (Vụ số 172/KL-KTHS (MT-GT) ngày 05 tháng 9 năm 2023) có in hình dấu tròn màu đỏ của Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện C, tỉnh An Giang và các chữ ký ghi tên Nguyễn Thị Mỹ H1, Nguyễn Thành D. Bên trong có mẫu vật còn lại sau khi đã giám định, khối lượng: M1: 2,7839g (hai phẩy bảy tám ba chín gam); M2: 0,1439g (không phẩy một bốn ba chín gam); 01 bật lửa màu xanh, 01 cây kéo bằng kim loại màu trắng, 01 ống hút màu đen cắt xéo một đầu, 01 chai nhựa nắp màu đỏ có gắn nỏ thủy tinh và ống hút màu trắng, 01 cây cân màu trắng bạc.
  • - Tịch thu, phát mãi nộp ngân sách nhà nước 01 (một) điện thoại di động N1, vỏ bên màu đen, có lắp thẻ sim mạng Mobifone (đã qua sử dụng).
  • (Theo biên bản giao, nhận vật, tài liệu, vật chứng ngày 03/3/2023 giữa Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện C với Chi cục Thi hành án dân sự huyện Chợ Mới).
  • - Buộc bị cáo Trần Thanh T giao nộp số tiền 4.300.000 (bốn triệu ba trăm nghìn) đồng do phạm tội mà có vào ngân sách nhà nước.

3. Về án phí: Căn cứ vào khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015; điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án; Buộc bị cáo Trần Thanh T phải chịu 200.000 (hai trăm nghìn) đồng án phí hình sự sơ thẩm.

4. Về quyền kháng cáo: Căn cứ vào Điều 333 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015; Bị cáo được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.

Nơi nhận:

  • - Tòa án nhân dân tỉnh An Giang;
  • - Viện kiểm sát tỉnh An Giang;
  • - Sở Tư pháp;
  • - Viện huyện Chợ Mới;
  • - Chi cục Thi hành án DS huyện;
  • - Bộ phận THAHS Tòa án;
  • - Những người tham gia tố tụng;
  • - Lưu: Hồ sơ vụ án, Văn phòng

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Bùi Phương Quyền

6

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 30/2024/HS-ST ngày 25/04/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CHỢ MỚI, TỈNH AN GIANG về mua bán trái phép chất ma túy

  • Số bản án: 30/2024/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Mua bán trái phép chất ma túy
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 25/04/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CHỢ MỚI, TỈNH AN GIANG
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Bị cóa Trần Thanh T bị Viện kiểm sát nhân dân huyện Chợ Mới truy tố về tội Mua bán trái phép chất ma túy
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger