Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

THỊ XÃ N

TỈNH KHÁNH HÒA

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 30/2025/HS-ST
Ngày 21 tháng 3 năm 2025

NHÂN DANH NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ N

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

  • Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Nhất Anh
  • Các Hội thẩm nhân dân: Ông Hồ Hải Hùng
  • Bà Nguyễn Thị Hoa
  • Thư ký phiên tòa: Bà Đoàn Vũ Kim Kúc – Thư ký Tòa án nhân dân thị xã N.
  • Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã N tham gia phiên tòa: Bà Phan Minh Phương – Kiểm sát viên.

Ngày 21 tháng 3 năm 2025, tại Trụ sở Tòa án nhân dân thị xã N, tỉnh Khánh Hòa xét xử công khai vụ án hình sự thụ lý số 07/2025/HSST ngày 15 tháng 01 năm 2025, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 22/2025/QĐXXST-HS ngày 28 tháng 02 năm 2025 đối với bị cáo:

Họ và tên: Đặng Quốc T, sinh năm 1995, tại: V, Khánh Hòa; Nơi cư trú: Thôn T, xã V, huyện V, tỉnh Khánh Hòa; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ học vấn: 7/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Cha: Không xác định và mẹ Đinh Thị H, sinh năm 1972; Tiền án, tiền sự: Không.

Nhân thân: Ngày 25/01/2016, Tòa án nhân dân thành phố Nha Trang, tỉnh Khánh Hòa xử phạt Đặng Quốc T 09 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản” theo bản án số 48/2016/HSST, đã chấp hành xong hành phạt.

Bị cáo đang bị bắt tạm giam trong vụ án khác tại Phân trại tạm giam khu vực N thuộc trại tạm giam công an tỉnh khánh H1,

Có mặt tại phiên tòa.

* Bị hại: Ông Võ T1, sinh năm 1975; vắng mặt

Nơi cư trú: Thôn T, xã N, thị xã N, tỉnh Khánh Hòa;

* Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

  1. Nguyễn Thị Hoàng V, sinh 23/2/2011; Vắng mặt tại phiên tòa
  2. Đại diện theo pháp luật: Bà Nguyễn Thị Hoa S, sinh năm 1983;

Cùng nơi cư trú: Thôn Q, xã V, Huyện V, tỉnh Khánh Hòa. Vắng mặt tại phiên tòa.

  1. Bà Nguyễn Thị Hoa S, sinh năm 1983;

Nơi cư trú: Thôn Q, xã V, Huyện V, tỉnh Khánh Hòa. Vắng mặt tại phiên tòa.

  1. Bà Nguyễn Thị Thanh T2, sinh 1979

Nơi cư trú: Thôn T, xã N, thị xã N, Khánh Hòa. Vắng mặt tại phiên tòa.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 17 giờ 30 phút ngày 13/7/2024 Đặng Quốc T đem theo 01 cây sắt bên ngoài quấn băng keo đen rồi điều khiển xe mô tô Sirus gắn biển số 79H5 – 3122 đi từ N ra N tìm tài sản để trộm cắp.

Đến khoảng 20 giờ cùng ngày, T nhìn thấy nhà ông Võ T1 ở thôn T, xã N, thị xã N, khoá cửa ngoài nên để xe gần đó rồi đi bộ vòng qua hông nhà. Thấy cửa sổ làm bằng kính vị trí gần mặt đất, T dùng cây sắt đập vỡ kính, nạy bung thanh sắt chắn cửa sổ rồi đi vào bên trong lục tìm tài sản. T lên lầu lấy được 01 bộ lư hương bằng đồng gồm 02 chân đèn, 02 đài đựng ly nước, 01 lư hương, 01 mâm đồng để trái cây và dắt 01 xe mô tô Jupiter biển kiểm soát 79H1 – 449.38 có gắn chìa khoá đang dựng ở tầng trệt đưa ra ngoài bằng hướng cửa sổ. T bỏ lại xe mô tô Sirus gần nhà ông T1 rồi điều khiển xe Jupiter cùng bộ lư hương đồng vừa trộm được vào N tìm nơi tiêu thụ. Trên đường về N, T bán bộ lư hương đồng cho người phụ nữ thu mua ve chai chưa rõ danh tính còn xe mô tô thì đem về nhà trọ ở N cất giấu. Sáng ngày 14/7/2024 T điều khiển xe mô tô 79H1 – 449.38 đến khu vực Lầu G, thành phố N hỏi mua được 01 biển kiểm soát số 79K7-7914 từ thanh niên chưa rõ lai lịch với giá 100.000 đồng rồi điều khiển xe Jupiter 79H1 – 449.38 đến khu vực gần chợ V2, thành phố N tháo biển số 79H1 – 449.38 thay bằng biển số xe 79K7 – 7914, trên đường về nhà trọ T vứt bỏ biển số 79H1 – 449.38. Ngày 30/7/2024 T sử dụng xe Jupiter gắn biển số 79K7 – 7914 đi trộm cắp tài sản thì bị Công an thành phố N bắt quả tang tạm giữ người và tang vật.

Theo kết luận định giá tài sản số 97/KL-HĐĐGTS ngày 14/10/2024 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự UBND thị xã N thì: 01 (một) xe mô tô Jupiter có số khung RLCUE1340GY008609, số máy E3S1E032463 của ông Võ T1 tại thời điểm ngày 13/7/2024 có giá trị 12.000.000đ; 01 (một) bộ chân đèn bằng đồng gồm hai chân đèn, hai đài đựng hai ly nước, một lư thắp nhang, một mâm đồng để đựng trái cây nặng khoảng 5-6 kg đã qua sử dụng có giá trị 1.050.000đồng. 02 (hai) cánh sửa sổ, mỗi cánh cửa sổ đều làm bằng kính thường dày 5 ly, chiều dài 80cm, chiều rộng 30 cm đã qua sử dụng có giá trị 180.000đồng.

Qua điều tra xác định xe mô tô nhãn hiệu VIET THAI, loại Sirus FCX có số khung RMNSCBBMNNH003383, số máy VKL1139FMBVTC503383 có biển đăng ký là 79VA – 029.07 đứng tên chủ sở hữu là bà Nguyễn Thị Hoa S, sinh năm 1983, có nơi cư trú ở thôn Q, xã V, huyện V, tỉnh Khánh Hòa. Vào khoảng tháng 7/2024 Nguyễn Xuân Hoàng V1 (con bà S) sử dụng và bị mất trộm tại khu vực bãi biển H, thành phố N, tỉnh Khánh Hòa. Đặng Quốc T khai nhận mua lại xe mô tô Sirus FCX có gắn sẵn biển số 79H5 – 3122 từ thanh niên ở khu vực Lầu G, thành phố N với giá 700.000 đồng. CQĐT Công an thị xã N đã bàn giao hồ sơ và vật chứng xe mô tô gắn biển số 79H5 – 3122 cho Công an thành phố N xử lý theo quy định.

Tại phiên tòa: Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã N giữ nguyên Cáo trạng số 07/CT-VKS ngày 10 tháng 01 năm 2025 và đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng khoản 1 Điều 173, Điều 38, điểm s khoản 1 và khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự, xử phạt bị cáo Đặng Quốc T từ 12 đến 15 tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày bắt bị cáo đi thi hành án;

  • - Về xử lý vật chứng: đã trả lại cho chủ sở hữu nên đề nghị không xem xét.
  • - Về trách nhiệm dân sự: Bị hại ông Võ T1 không yêu cầu bồi thường nên đề nghị không xem xét.

Đối với hành vi bị cáo Đặng Quốc T dùng cây sắt đập vỡ kính, nạy bung thanh sắt chắn cửa sổ của nhà ông T1, giá trị thiệt hại do tài sản bị hư hỏng là 180.000₫ (Một trăm tám mươi ngàn đồng). Công an thị xã N đã ra quyết định xử phạt vi phạm hành chính số 1795/QĐ –XPHC ngày 11/11/2024 đối với Đặng Quốc T về hành vi “Hủy hoại hoặc cố ý làm hư hỏng tài sản của cá nhân, tổ chức” nên đề nghị không xem xét.

  • - Về án phí: Bị cáo phải chịu 200.000đ án phí HS-ST theo qui định
  • - Bị cáo không tranh luận với kiểm sát viên.
  • - Bị cáo nói lời sau cùng: Bị cáo ăn năn hối cải về hành vi của bị cáo, mong Hội đồng xét xử cho bị cáo mức án phù hợp.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

  1. Về thủ tục tố tụng: Tại phiên tòa, người bị hại và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đã được triệu tập hợp lệ nhưng vẫn vắng mặt. Do đó, Hội đồng xét xử căn cứ quy định tại Điều 292,293 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015 tiến hành xét xử vụ án theo thủ tục chung.
  2. Về hành vi, Quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công An thị xã N, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân thị xã N, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã được thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các quyết định, hành vi của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đều hợp pháp.
  3. Tại phiên tòa, bị cáo Đặng Quốc T đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội mà bị cáo đã thực hiện như nội dung bản cáo trạng đã nêu, lời khai nhận của bị cáo phù hợp với các chứng cứ, tài liệu khác có trong hồ sơ vụ án và đã được thẩm tra công khai tại phiên tòa nên Cáo trạng số 07/CT-VKS-HS ngày 10/01/2025 của Viện kiểm sát nhân dân thị xã Ninh Hòa đã truy tố bị cáo Đặng Quốc T về tội “Trộm cắp tài sản” theo khoản 1 Điều 173 Bộ luật hình sự 2015 là có căn cứ, đúng người, đúng tội.
  4. Xét tính chất mức độ hành vi phạm tội của các bị cáo: Bị cáo thực hiện hành vi phạm tội với lỗi cố ý. Bị cáo là công dân có đủ nhận thức và năng lực, nhưng chỉ vì lười lao động, muốn có tiền tiêu xài đã trực tiếp xâm phạm sở hữu của người khác được pháp luật bảo vệ, gây ảnh hưởng xấu đến tình hình an ninh, trật tự tại địa phương, gây hoang mang trong quần chúng nhân dân. Hành vi đó thể hiện sự coi thường pháp luật cần phải xử lý nghiêm. Trong vụ án này, bị hại yêu cầu xử lý theo quy định của pháp luật.
  5. Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo Đặng Quốc T không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự. Tuy nhiên, Đặng Văn T3 có nhân thân xấu, bị cáo bị Tòa án nhân dân thành phố Nha Trang, tỉnh Khánh Hòa xử phạt 09 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản” theo bản án số 48/2016/HSST ngày 25/01/2016.
  6. Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; Một phần tài sản bị cáo chiếm đoạt đã được thu hồi trả cho bị hại nên áp dụng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự khi xem xét lượng hình đối với bị cáo.
  7. Về trách nhiệm bồi thường thiệt hại: Tại các biên bản ghi lời khai trong quá trình điều tra thể hiện bị hại đã nhận lại tài sản. Bị hại và người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan không yêu cầu bị cáo phải bồi thường thiệt hại nên Hội đồng xét xử không xem xét, giải quyết.
  8. Về xử lý vật chứng:
    • - 01 xe mô tô Jupiter có số khung RLCUE1340GY008609, số máy E3S1E032463 CQĐT, màu sơn: Đen đỏ, số loại: JUPITER, nhãn hiệu: YAMAHACông an thị xã N đã trả lại cho chủ sở hữu ông Võ T1 theo biên bản về việc trả lại tài sản, đồ vật, tài liệu ngày 06/10/2024 nên không xem xét.
    • - 01 xe Sirus FCX gắn biển số 79H5 – 3122 và biển số 79K7 – 7914 và 01 cây sắt dài 72cm (đầu bọc băng keo đen) là vật chứng trong vụ án khác, cơ quan điều tra Công an thị xã N đã chuyển cho Công an thành phố N theo biên bản giao nhận đồ vật, tài liệu,vật chứng ngày 22/11/2024 để xử lý theo quy định nên không xét.
  9. Trong vụ án này, Đặng Quốc T đã có hành vi dùng cây sắt đập vỡ kính, nạy bung thanh sắt chắn cửa sổ của nhà ông T1, giá trị thiệt hại do tài sản bị hư hỏng là 180.000đ (một trăm tám mươi ngàn đồng). Hành vi của Đặng Quốc T có dấu hiệu tội “Hủy hoại hoặc cố ý làm hư hỏng tài sản” qui định tại khoản 1, Điều 178 Bộ luật hình sự. Tuy nhiên, do giá trị thiệt hại thấp nên chưa đủ yếu tố cấu thành tội phạm. Do đó, Công an thị xã N đã ra quyết định xử phạt vi phạm hành chính số 1795/QĐ –XPHC ngày 11/11/2024 đối với Đặng Quốc T.
  10. Ý kiến của đại diện Viện kiểm sát phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử nên cần chấp nhận.
  11. Về án phí: Buộc bị cáo Đăng Quốc T4 phải chịu 200.000 đồng (hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm theo quy định.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ Điều 106, Điều 136, Điều 326, Điều 327, Điều 331, Điều 333 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015.

Căn cứ vào khoản 1 Điều 173, Điều 38, điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017.

Căn cứ Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

  1. Xử phạt: Bị cáo Đặng Quốc T 01 (một) năm 06 (sáu) tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”. Thời hạn hình phạt tù tính từ ngày bắt đi thi hành án.
  2. Về trách nhiệm dân sự: Bị hại, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan không yêu cầu bị cáo phải bồi thường thiệt hại nên Hội đồng xét xử không xem xét.
  3. Về xử lý vật chứng:
    • - 01 xe mô tô Jupiter có số khung RLCUE1340GY008609, số máy E3S1E032463 CQĐT, màu sơn: Đen đỏ, số loại: JUPITER, nhãn hiệu: YAMAHACông an thị xã N đã trả lại cho chủ sở hữu ông Võ T1 theo biên bản về việc trả lại tài sản, đồ vật, tài liệu ngày 06/10/2024 nên không xem xét.
    • - 01 xe Sirus FCX gắn biển số 79H5 – 3122 và biển số 79K7 – 7914 và 01 cây sắt dài 72cm (đầu bọc băng keo đen) là vật chứng trong vụ án khác, cơ quan điều tra Công an thị xã N đã chuyển cho Công an thành phố N theo biên bản giao nhận đồ vật, tài liệu,vật chứng ngày 22/11/2024 để xử lý theo quy định nên không xét.
  4. Về án phí: Buộc bị cáo Đặng Quốc T phải chịu 200.000 đồng (hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.
  5. Về quyền kháng cáo: Bị cáo có mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Bị hại và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết công khai theo quy định của pháp luật.

Nơi nhận:

  • - TAND tỉnh Khánh Hòa;
  • - VKSND tỉnh Khánh Hòa;
  • - VKSND thị xã N;
  • - Chi cục THADS thị xã N;
  • - Phòng hồ sơ nghiệp vụ
  • Công an tỉnh Khánh Hòa;
  • - Những người tham gia tố tụng;
  • - Lưu: Hồ sơ, án văn.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Nguyễn Thị Nhất Anh

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 30/2025/HS-ST ngày 21/03/2025 của Tòa án nhân dân thị xã N, tỉnh Khánh Hòa về hình sự (trộm cắp tài sản)

  • Số bản án: 30/2025/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Hình sự (Trộm cắp tài sản)
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 21/03/2025
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: Tòa án nhân dân thị xã N, tỉnh Khánh Hòa
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Xử phạt bị cáo Đặng Quốc T 01 năm 06 tháng tù về tội "Trộm cắp tài sản"
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger