|
TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ SÔNG CẦU TỈNH PHÚ YÊN |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
|
Bản án số: 30/2024/HNGĐ-ST Ngày: 20/8/2024 V/v Xin ly hôn |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ SÔNG CẦU
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Phạm Việt Triều.
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Nguyễn Tấn Thành và ông Nguyễn Ngọc Chẩn.
- Thư ký phiên tòa: Ông Lê Văn Minh.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã Sông Cầu tham gia phiên tòa:
Ông Trương Đức Cảnh – Kiểm sát viên.
Trong ngày 20 tháng 8 năm 2024 tại trụ sở Tòa án nhân dân thị xã Sông Cầu xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 105/2024/TLST-HNGĐ ngày 06 tháng 6 năm 2024 về việc “Xin ly hôn”. Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 30/2024/QĐXXST-HNGĐ ngày 05/8/2024 giữa các đương sự:
Nguyên đơn: Anh Lê Văn L – sinh năm 1977, địa chỉ: T, X, Sông C, Phú Yên. Có mặt.
Bị đơn: Chị Huỳnh Thị L1 – sinh năm 1982, địa chỉ: T, X, Sông C, Phú Yên. Vắng mặt, có đơn xin xét xử vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo đơn khởi kiện, các lời khai có tại hồ sơ vụ án, tại phiên toà nguyên đơn trình bày:
Về quan hệ hôn nhân: Anh L và chị L1 tự nguyện tìm hiểu, đi đến hôn nhân, có đăng ký kết hôn tại UBND xã X, thị xã S. Quá trình sống chung thời gian đầu hạnh phúc, nhưng từ năm 2022 chị L1 thường xuyên cờ bạc, vay tiền dẫn đến nợ nần, nhiều người đến nhà đòi nợ, gây áp lực cho anh L, ảnh hưởng đến cuộc sống của gia đình. Mặc dù trước đây anh L đã nộp đơn ly hôn ra Toà nhưng chị L1 vẫn không thay đổi, không lo chăm sóc gia đình, chỉ lo chơi bời, ngoại tình với người khác, mâu thuẫn ngày càng trầm trọng, cuộc sống không có hạnh phúc, nên anh L cương quyết xin ly hôn với chị L1.
Về con chung: Có 03 con chung gồm: Lê Văn V – sinh năm 2001, Lê Thị T – sinh năm 2005 và Lê Thị Thảo N – sinh ngày 05/7/2013. Hai con V và T đã trưởng thành, có khả năng lao động nên không yêu cầu Toà án giải quyết. Đối với cháu N hiện có nguyện vọng ở với mẹ, nên anh L cũng thống nhất cháu N giao cho chị L1 trực tiếp nuôi dưỡng. Anh L không phải cấp dưỡng nuôi con.
Về tài sản chung, nợ chung: Không yêu cầu Toà án giải quyết.
Theo các lời khai có tại hồ sơ, bị đơn trình bày:
Về quan hệ hôn nhân: Thống nhất ly hôn với anh L. Việc anh L cho rằng chị L1 cờ bạc, nợ nần, ngoại tình nhưng không có chứng cứ gì để chứng minh. Hiện chị L1 làm nghề nông, thường đi khai thác gỗ keo.
Về con chung: Có 03 con chung gồm: Lê Văn V – sinh năm 2001, Lê Thị T – sinh năm 2005 và Lê Thị Thảo N – sinh ngày 05/7/2013. Hai con V và T đã trưởng thành, có khả năng lao động nên không yêu cầu Toà án giải quyết. Đối với cháu N hiện có nguyện vọng ở với mẹ, nên chị L1 thống nhất trực tiếp nuôi dưỡng cháu N. Chị L1 không yêu cầu anh L cấp dưỡng nuôi con.
Về tài sản chung, nợ chung: Không yêu cầu Toà án giải quyết.
Đại diện Viện kiểm sát tham gia phiên tòa phát biểu:
Về thủ tục tố tụng: Vụ án đã được Tòa án thụ lý đúng thẩm quyền, xác định đúng quan hệ pháp luật tranh chấp và tư cách tham gia tố tụng. Thẩm phán, Hội thẩm nhân dân và Thư ký đã tiến hành tố tụng đúng quy định Bộ luật tố tụng dân sự. Bị đơn vắng mặt tại phiên toà nhưng có đơn xin xét xử vắng mặt, nên đề nghị Hội đồng xét xử tiến hành xét xử.
Về nội dung: Đề nghị Hội đồng xét xử tuyên chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của nguyên đơn. Giao con chung Lê Thị Thảo N cho chị L1 trực tiếp nuôi dưỡng, anh L không phải cấp dưỡng nuôi con. Về tài sản chung, nợ chung các đương sự không yêu cầu nên không xem xét, giải quyết. Về án phí: Nguyên đơn phải chịu theo quy định.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ đã được xem xét tại phiên tòa, kết quả tranh tụng tại phiên tòa, ý kiến của các đương sự, Kiểm sát viên, Hội đồng xét xử nhận thấy:
[1] Về thẩm quyền, quan hệ pháp luật tranh chấp: Anh L có đơn xin ly hôn với chị L1 cùng cư trú tại thị xã S, tỉnh Phú Yên là tranh chấp về hôn nhân và gia đình thuộc thẩm quyền giải quyết của Toà án nhân dân thị xã Sông Cầu theo quy định tại khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật tố tụng dân sự.
[2] Về thủ tục tố tụng: Bị đơn vắng mặt tại phiên toà nhưng có đơn xin xét xử vắng mặt, căn cứ Điều 227, Điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vụ án theo thủ tục chung.
[3] Về hôn nhân: Anh L và chị L1 tự nguyện tìm hiểu, đi đến hôn nhân, có đăng ký kết hôn tại UBND xã X, T hôn nhân hợp pháp. Theo lời trình bày của anh L thì quá trình sống chung phát sinh nhiều mâu thuẫn, cuộc sống hôn nhân không hạnh phúc là vì chị L1 không lo chăm sóc gia đình, mà thường xuyên cờ bạc, nợ nần và ngoại tình với người khác, dẫn đến việc nhiều người đến nhà đòi nợ, gây áp lực làm ảnh hưởng đến cuộc sống gia đình. Trước đây, anh L đã nộp đơn ly hôn nhưng rút đơn để vợ chồng đoàn tụ cho chị L1 có cơ hội thay đổi bản thân nhưng chị L1 vẫn không thay đổi. Nay tình cảm vợ chồng không còn, không thể tiếp tục sống chung, nên anh L xin được ly hôn với chị L1. Quá trình giải quyết vụ án, Tòa án đã nhiều lần triệu tập, thông báo hòa giải nhưng chị L1 cố tình vắng mặt và đồng thời, chị L1 cũng đồng ý ly hôn với anh L nên thấy rằng tình trạng hôn nhân giữa anh L và chị L1 đã trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được nên Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu ly hôn của anh L với chị L1.
[4] Về con chung: Có 03 con chung gồm: Lê Văn V – sinh năm 2001, Lê Thị T – sinh năm 2005 và Lê Thị Thảo N – sinh ngày 05/7/2013. Hiện, Lê Văn V và Lê Thị T đã trưởng thành, có khả năng lao động nên các đương sự không yêu cầu Toà án giải quyết. Đối với Lê Thị Thảo N các bên thống nhất giao cho chị L1 trực tiếp nuôi dưỡng và cháu N có nguyện vọng ở với chị L1 nên Hội đồng xét xử ghi nhận. Chị L1 không yêu cầu anh L cấp dưỡng nuôi con nên Hội đồng xét xử không xem xét. Anh Lê Văn L có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở.
[5] Về tài sản chung, nợ chung: Các đương sự không yêu cầu giải quyết nên Hội đồng xét xử không xem xét.
[6] Về án phí: Nguyên đơn phải chịu án phí sơ thẩm theo quy định.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Áp dụng khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, Điều 147, 227, 228 và Điều 266 Bộ luật tố tụng dân sự; Điều 51, 56, 57, 58, 81, 82 và Điều 83 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014; Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.
Tuyên xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của anh Lê Văn L.
- Về hôn nhân: Anh Lê Văn L được ly hôn với chị Huỳnh Thị L1.
- Về con chung: Chị Huỳnh Thị L1 trực tiếp nuôi dưỡng Lê Thị Thảo N – sinh ngày 05/7/2013. Anh Lê Văn L không phải cấp dưỡng nuôi con chung. Anh L có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở.
- Về tài sản chung, nợ chung: Không giải quyết.
- Về án phí: Anh Lê Văn L phải chịu 300.000đ án phí sơ thẩm, được khấu trừ 300.000đ đã nộp tại Biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Toà án số 382 ngày 06/6/2024 của Chi cục Thi hành án dân sự thị xã Sông Cầu.
- Quyền kháng cáo: Đương sự có mặt tại phiên toà có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Đương sự vắng mặt tại phiên toà có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày bản án được tống đạt hợp lệ hoặc được niêm yết công khai.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Phạm Việt Triều |
Bản án số 30/2024/HNGĐ-ST ngày 20/08/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ SÔNG CẦU TỈNH PHÚ YÊN về xin ly hôn
- Số bản án: 30/2024/HNGĐ-ST
- Quan hệ pháp luật: Xin ly hôn
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 20/08/2024
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ SÔNG CẦU TỈNH PHÚ YÊN
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: cho ly hôn
