TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ SƠN TÂY, TP. HÀ NỘI | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh Phúc |
Bản án số: 30/2024/HNGĐ-ST
Ngày: 20/6/2024
V/v: Tranh chấp ly hôn, nuôi con chung.
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ SƠN TÂY, THÀNH PHỐ HÀ NỘI
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Phạm Thị Tú
- Các Hội thẩm nhân dân: Ông Đào Huy Dương và bà Đào Thị Minh Nguyệt.
- Thư ký phiên tòa: Ông Lê Đức Thuận là Thư ký Toà án nhân dân thị xã Sơn Tây, thành phố Hà Nội.
- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân thị xã Sơn Tây, thành phố Hà Nội tham gia phiên toà: Ông Lê Minh Đức - Kiểm sát viên.
Ngày 20 tháng 6 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân thị xã Sơn Tây, thành phố Hà Nội xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 26/2024/TLST-HNGĐ ngày 11 tháng 03 năm 2024 về tranh chấp ly hôn theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 09/2024/QĐXXST-HNGĐ ngày 17 tháng 05 năm 2024 và Quyết định hoãn phiên tòa số 05/2024/QĐST-HNGĐ ngày 31 tháng 05 năm 2024, giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Chị Nguyễn Thị T, sinh năm 1986; Có mặt.
Nơi ĐKHKTT: Thôn Đ, xã C, thị xã S, Hà Nội.
Địa chỉ: Thôn A, xã C, huyện T, Thành phố Hà Nội.
- Bị đơn: Anh Cao Đức M, sinh năm 1982; Vắng mặt
Địa chỉ: Thôn Đ, xã C, thị xã S, Hà Nội.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
1
1. Theo đơn khởi kiện, quá trình giải quyết vụ án cũng như tại phiên toà, nguyên đơn Chị Nguyễn Thị T trình bày:
Vợ chồng chị kết hôn năm 2003, có đăng ký kết hôn tại UBND xã C, thị xã S, thành phố Hà Nội trên cơ sở tự nguyên, hợp pháp. Sau khi kết hôn vợ chồng chung sống tại Thôn Đ, xã C, thị xã S, Hà Nội cùng gia đình nhà chồng được khoảng 3-4 tháng rồi ra ở riêng ở B, Đ, xã C, thị xã S, Hà Nội. Vợ chồng chung sống đến khoảng đầu năm 2005 thì phát sinh nhiều mâu thuẫn. Nguyên nhân mâu thuẫn do vợ chồng không hiểu nhau, bất đồng quan điểm sống, thường xuyên cãi nhau, anh M còn cờ bạc, rượu chè và nhiều lần đánh đập chị. Vợ chồng chị sống ly thân từ năm 2017 đến năm 2019 thì chị cho anh M thêm cơ hội, sau đó được vài tháng thì vợ chồng lại sống ly thân. Gia đình cũng đã khuyên bảo, hòa giải nhưng không có kết quả. Chị xác định tình cảm vợ chồng không còn, mục đích hôn nhân không đạt được, đề nghị Tòa án giải quyết cho chị được ly hôn với anh Cao Đức M.
Về con chung: Có 03 con chung là Cao Việt H, sinh năm 2004 (đã trưởng thành, sống tự lập), cháu Cao Thị Hà C, sinh ngày 16/05/2008 và Cao Bảo Long H1, sinh ngày 20/06/2012. Hiện tại cháu C và cháu H1 đang ở với chị. Khi ly hôn chị đề nghị được nuôi cháu C và cháu H1 và không yêu cầu anh M cấp dưỡng nuôi con chung.
Về tài sản chung: Không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Về nợ chung, công sức đóng góp chung: Không có
2. Về phía bị đơn Anh Cao Đức M:
Tòa án đã tống đạt hợp lệ thông báo thụ lý vụ án đối với bị đơn là Anh Cao Đức M, để bị đơn biết những vấn đề cụ thể mà nguyên đơn yêu cầu Tòa án giải quyết và trình bày ý kiến của mình. Tuy nhiên, bị đơn đã không đến Tòa án để làm bản tự khai, không gửi văn bản trình bày ý kiến của mình với nguyên đơn, không cung cấp, giao nộp tài liệu, chứng cứ, không chứng minh để bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mình, không đưa ra yêu cầu phản tố. Tòa án căn cứ vào các tài liệu chứng cứ mà nguyên đơn đã giao nộp và Tòa án đã thu thập theo Điều 97 Bộ luật Tố tụng dân sự để giải quyết vụ án. Tòa án đã tống đạt hợp lệ Quyết định đưa vụ án ra xét xử, Giấy triệu tập phiên tòa và Quyết định hoãn phiên tòa đối với bị đơn.
Theo biên bản xác minh tại Thôn Đ, xã C, thị xã S, Hà Nội cung cấp có nội dung: Mâu thuẫn giữa anh M và chị T là có thật, vợ chồng thường xuyên cãi cọ, hiện tại vợ chồng anh M đã sống ly thân.
2
Cháu Cao Thị Hà C và cháu Cao B Long H1 trình bày: Nếu bố mẹ không ở được với nhau thì các cháu muốn ở cùng mẹ.
Tại phiên tòa chị T giữ nguyên yêu cầu khởi kiện.
3. Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã Sơn Tây phát biểu ý kiến về việc tuân theo pháp luật tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, việc chấp hành pháp luật của người tham gia tố tụng dân sự: Việc Tòa án nhân dân thị xã Sơn Tây thụ lý giải quyết vụ án là đúng thẩm quyền, đúng pháp luật. Việc xác định quan hệ pháp luật và tư cách người tham gia tố tụng là đúng pháp luật. Việc thu thập chứng cứ đầy đủ, thủ tục tống đạt các văn bản đã được tiến hành đúng pháp luật; Thời hạn chuẩn bị xét xử đảm bảo, việc chuyển hồ sơ, cấp tống đạt văn bản tố tụng đúng pháp luật.
Về nội dung của vụ án: Đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ Điều 51, khoản 1 Điều 56, 57, 58, 81, 82 và 83 Luật hôn nhân và gia đình chấp nhận đơn yêu cầu xin ly hôn của chị T xử cho chị T được ly hôn với anh M; Về con chung chấp nhận việc giao con chung là cháu Cao Thị Hà C và Cao Bảo Long Hải cho chị T trực tiếp nuôi;
Về án phí: Chị T phải chịu án phí ly hôn theo luật định.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:
[1] Về thủ tục tố tụng:
[1.1] Về thẩm quyền giải quyết vụ án: Yêu cầu khởi kiện về việc ly hôn của chị Nguyễn Thị T đối với anh Cao Đức M có địa chỉ tại thôn T, xã C, S, Hà Nội là tranh chấp Hôn nhân và gia đình thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân thị xã Sơn Tây, thành phố Hà Nội theo quy định tại các Điều 28; điểm a khoản 1 Điều 35 và điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật tố tụng dân sự.
[1.2] Về việc xét xử vắng mặt bị đơn: Tòa án nhân dân thị xã Sơn Tây, thành phố Hà Nội đã triệu tập hợp lệ lần thứ 2 đối với bị đơn anh Cao Đức M để tham gia phiên tòa. Tuy nhiên, anh M vắng mặt không có lý do, do đó Hội đồng xét xử căn cứ vào điểm b khoản 2 Điều 227 Bộ luật tố tụng dân sự xét xử vắng mặt bị đơn anh M.
[2] Về nội dung:
3
[2.1] Về quan hệ hôn nhân: Chị T kết hôn với anh M tuân thủ đầy đủ các điều kiện kết hôn và có đăng ký kết hôn theo Giấy chứng nhận kết hôn số 128, quyển số 01/2003, ngày 08 tháng 11 năm 2003 tại UBND xã C, thị xã S, Hà Nội. Do đó, quan hệ hôn nhân giữa chị Nguyễn Thị T và anh Cao Đức M là hợp pháp.
Chị T trình bày giữa vợ chồng có nhiều mâu thuẫn, do vợ chồng bất đồng quan điểm sống, thường xuyên cãi cọ, đề nghị Tòa án giải quyết cho ly hôn với anh M. Theo biên bản xác minh tại địa phương thể hiện: Mâu thuẫn giữa anh M và chị T là có thật, vợ chồng thường xuyên cãi cọ, hiện tại vợ chồng anh M đã sống ly thân. Như vậy, có đủ cơ sở để xác định mâu thuẫn giữa vợ chồng chị T và anh M đã lâm vào tình trạng trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được theo quy định tại khoản 1 Điều 56 luật Hôn nhân và gia đình. Do đó, chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của chị T.
[2.2] Về con chung: Anh chị có 03 con chung là Cao Việt H, sinh năm 2004 (đã trưởng thành, khoẻ mạnh), cháu Cao Thị Hà C, sinh ngày 16/05/2008 và Cao Bảo Long H1, sinh ngày 20/06/2012. Hiện tại cháu C và cháu H1 đang ở với chị T. Khi ly hôn chị T đề nghị được nuôi cháu C và cháu H1 và không yêu cầu cấp dưỡng nuôi con.
Xét thấy, chị T đã cung cấp cho Toà án Hợp đồng lao động, xác nhận thu nhập thể hiện chị T có đủ điều kiện về kinh tế để nuôi con. Hơn nữa, cháu C và cháu H1 đang ở cùng với chị T và 02 cháu đều có nguyện vọng ở với mẹ. Nên để bảo đảm lợi ích mọi mặt của con theo quy định tại Điều 81 của Luật Hôn nhân và gia đình, cần giao cháu C và cháu H1 cho chị T trực tiếp nuôi dưỡng. Chị T không yêu cầu cấp dưỡng nuôi con nên Hội đồng xét xử không xem xét.
[2.3] Về tài sản chung: Chị T không yêu cầu nên Hội đồng xét xử không xem xét. Nếu sau này anh M có yêu cầu thì giải quyết bằng một vụ kiện dân sự khác.
[2.4] Về nợ chung, công sức đóng góp chung: Không có.
[3] Về án phí: Chị T phải chịu án phí theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
- Căn cứ vào khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, Điều 147, Điều 271 và Điều 273 của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015;
- Căn cứ vào khoản 1 Điều 51, khoản 1 Điều 56, 58, 81, 82và 83 của Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014;
4
- Căn cứ vào Điều 26 và Điều 27 của Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Xử:
- Về quan hệ hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện về việc xin ly hôn của chị Nguyễn Thị T. Chị Nguyễn Thị T được ly hôn với anh Cao Đức M.
- Về con chung: Có 03 con chung là Cao Việt H, sinh năm 2004 (đã trưởng thành, khoẻ mạnh và đang sống tự lập); Giao cháu Cao Thị Hà C, sinh ngày 16/05/2008 và Cao Bảo Long H1, sinh ngày 20/06/2012 cho chị Nguyễn Thị T trực tiếp nuôi dưỡng, tạm hoãn nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con đối với anh Cao Đức M cho đến khi có quyết định khác của cơ quan nhà nước có thẩm quyền.
Anh M có quyền, nghĩa vụ thăm nom chăm sóc con chung không ai được cản trở.
- Về tài sản chung: Không giải quyết.
- Về nợ chung, công sức đóng góp chung: Không có.
- Về án phí: chị Nguyễn Thị T phải chịu 300.000₫ (Ba trăm nghìn đồng) án phí ly hôn sơ thẩm, được trừ vào số tiền tạm ứng án phí chị T đã nộp là 300.000 đồng theo biên lai thu số: 0000866 ngày 11/03/2024 tại Chi cục Thi hành án dân sự thị xã Sơn Tây, Hà Nội.
- Về quyền kháng cáo: chị Nguyễn Thị T được quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm. Anh Cao Đức M được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc ngày bản án được tống đạt hợp lệ./.
Nơi nhận:
| TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa Phạm Thị Tú |
5
Bản án số 30/2024/HNGĐ-ST ngày 20/06/2024 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ SƠN TÂY, THÀNH PHỐ HÀ NỘI về tranh chấp ly hôn, nuôi con chung
- Số bản án: 30/2024/HNGĐ-ST
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp ly hôn, nuôi con chung
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 20/06/2024
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ SƠN TÂY, THÀNH PHỐ HÀ NỘI
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: ly hôn
