|
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ LONG KHÁNH TỈNH ĐỒNG NAI |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
|
Bản án số: 30/2024/DS-ST Ngày 20 tháng 6 năm 2024 V/v “Tranh chấp về yêu cầu mở lối đi qua bất động sản liền kề; tranh chấp quyền sử dụng đất” |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ LONG KHÁNH TỈNH ĐỒNG NAI
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: ông Lê Đăng Tố
Các Hội thẩm nhân dân:
- Ông Lương Văn Nay
- Ông Phạm Quốc Thân
Thư ký phiên tòa: bà Nguyễn Thị Lanh Linh - Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Long Khánh, tỉnh Đồng Nai.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Long Khánh, tỉnh Đồng Nai tham gia phiên tòa: ông Nguyễn Văn Cường - Kiểm sát viên.
Ngày 20 tháng 6 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Long Khánh, tỉnh Đồng Nai xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số 223/2022/TLST-DS ngày 07 tháng 12 năm 2022, về việc: “Tranh chấp về yêu cầu mở lối đi qua bất động sản liền kề, tranh chấp quyền sử dụng đất” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 59/2024/QĐXXST-DS ngày 26 tháng 4 năm 2024 và Quyết định hoãn phiên toà số 51/2024/QÐST-DS ngày 28 tháng 5 năm 2024, giữa các đương sự:
Nguyên đơn: ông Lương Thái V, sinh năm 1953. Địa chỉ: Số nhà A, tổ A, khu phố B, thành phố L, tỉnh Đồng Nai, (Có mặt).
Người đại diện theo uỷ quyền: ông Nguyễn Quang T, sinh năm 1976. Địa chỉ: số nhà O, Đ, phường T, thành phố B, tỉnh Đồng Nai, (Theo Hợp đồng uỷ quyền lập ngày 13-12-2022), (Có đơn đề nghị xét xử vắng mặt).
Bị đơn: ông Huỳnh Tấn P, sinh năm 1990. Địa chỉ: Khu phố P, phường X, thành phố L, tỉnh Đồng Nai, (Có mặt).
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
- Bà Phạm Thị B, sinh năm 1964. Địa chỉ: Số nhà A, tổ A, khu phố B, thành phố L, tỉnh Đồng Nai, (Có mặt).
- Bà Huỳnh Thị Ngọc V1, sinh năm 1976. Địa chỉ: số A, đường số H, tổ D, khu phố Ô, phường T, thị xã T, tỉnh Bình Dương, (Vắng mặt).
- Ông Huỳnh Tấn H, sinh năm 1978. Địa chỉ: số B, tổ C, ấp S, xã P, huyện P, tỉnh Bình Dương, (Vắng mặt).
- Bà Huỳnh Thị Ngọc H1, sinh năm 1980. Địa chỉ: số B, đường A, phường X, thành phố L, tỉnh Đồng Nai, (Vắng mặt).
- Bà Huỳnh Thị Ngọc P1, sinh năm 1983. Địa chỉ: số C, ấp D, xã B, huyện C, Thành phố Hồ Chí Minh, (Vắng mặt).
- Ông Huỳnh Tấn Đ, sinh năm 1986. Địa chỉ: khu phố P, phường X, thành phố L, tỉnh Đồng Nai, (Vắng mặt).
- Bà Nguyễn Thị C, sinh năm 1952. Địa chỉ: khu phố P, phường X, thành phố L, tỉnh Đồng Nai, (Có mặt).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
- Tại đơn khởi kiện, các lời khai trong quá trình chuẩn bị xét xử, cũng như tại phiên tòa, nguyên đơn ông Lương Thái V (do ông Nguyễn Quang T đại diện) trình bày, tranh luận:
Vào năm 1985, ông V được cha mẹ tặng cho diện tích đất thuộc thửa 73, tờ bản đồ số 26, bản đồ địa chính xã X (nay là phường X), thành phố L, diện tích 3706,8m². Diện tích đất được ông V cùng vợ là Phạm Thị B tiến hành kê khai, đăng ký và được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số CS 01819 do Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh Đ cấp ngày 31-12-2014, vị trí đất có tứ cận như sau:
- - Phía Đông giáp đất ông Huỳnh Tấn P;
- - Phía Tây giáp đất ông Nguyễn Văn T1;
- - Phía Nam giáp đất ông Trần Sập S;
- - Phía Bắc giáp đất ông Nguyễn Văn D.
Từ năm 1985 đến khoảng tháng 7-2019, vợ chồng ông V canh tác trên thửa đất nêu trên, để đi vào thửa đất của mình, ông bà phải đi qua một lối đi từ đường công cộng, kẹp ranh diện tích đất thuộc thửa 72, tờ bản đồ số 26, bản đồ địa chính xã X (nay là phường X), lối đi rộng khoảng 1,8m, dài khoảng 30m. Lối đi được ông bà sử dụng và hình thành từ lâu nhưng lại được đo đạc vào diện tích đất thuộc thửa 72, tờ bản đồ số 26, bản đồ địa chính xã X (nay là phường X), diện tích đất hiện nay do ông Huỳnh Tấn P đứng tên trên giấy chứng nhận quyền sử dụng đất. Ngoài lối đi này ra, ông V, bà B không còn bất cứ lối đi nào khác để đi từ thửa 73, tờ bản đồ số 26, bản đồ địa chính phường X ra đường công cộng.
Việc lối đi nêu trên được đo đạc vào thửa 72, tờ bản đồ số 26, bản đồ địa chính phường X thì ông V không có ý kiến gì. Tuy nhiên, từ tháng 7-2019 cho đến nay ông Huỳnh Tấn P đã rào bít lối đi nằm trên thửa 72, tờ bản đồ số 26, bản đồ địa chính phường X, không cho ông sử dụng lối đi để vào sinh hoạt, canh tác trên diện tích đất của mình thuộc thửa số 73, tờ bản đồ số 26, bản đồ địa chính phường X. Ông V đã nhiều lần yêu cầu ông P tháo dỡ các vật cản để ông tiếp tục sử dụng lối đi, nhưng ông P không đồng ý.
Tháng 10-2019, ông V khởi kiện yêu cầu ông P có nghĩa vụ mở lối đi, Toà án nhân dân thành phố Long Khánh đã thụ lý vụ án số 06/2020/TLST-DS ngày 02-01-2020. Trong quá trình giải quyết vụ án, sau khi nhận được kết quả đo đạc hiện trạng của các thửa 72, 73 tờ bản đồ số 26, bản đồ địa chính phường X, ông V cho rằng, ông P (chủ thửa đất số 72) đã lấn chiếm diện tích đất 348,7m² (thuộc thửa 73) của mình nên đã đơn rút toàn bộ yêu cầu khởi kiện, Toà án đã ban hành Quyết định đình chỉ giải quyết vụ án dân sự.
Sau khi Ủy ban nhân dân phường X hoà giải tranh chấp đất đai không thành, ông V tiếp tục khởi kiện, yêu cầu ông P mở lối đi từ thửa 72 tờ bản đồ số 26 tại phường X ra đến đường công cộng (để vào thửa 73, tờ bản đồ số 26 tại phường X), lối đi yêu cầu mở có diện tích rộng khoảng 03m x dài 62m; (2) Yêu cầu ông P trả phần diện tích đất đã lấn chiếm khoảng 348,7m² (theo ông P là phần đất hiện đang bị cấp nhầm sang thửa 72 tờ bản đồ số 26 tại phường X).
Nhận thấy, yêu cầu tranh chấp quyền sử dụng đất không có cơ sở, ông V rút một phần yêu cầu khởi kiện về tranh chấp quyền sử dụng đất, giữ nguyên yêu cầu về mở lối đi qua bất động sản liền kề. Nay ông V xác định yêu cầu khởi kiện như sau: yêu cầu ông P mở lối đi có diện tích rộng 03m x dài 62m cho ông trên diện tích đất thuộc thửa 72 tờ bản đồ số 26, bản đồ địa chính phường X do ông Huỳnh Tấn P đứng tên trên giấy chứng nhận quyền sử dụng đất. Ông V tự nguyện thanh toán giá trị đất và tài sản trên diện tích đất bị mở lối đi cho ông P theo giá trị được xác định tại chứng thư thẩm định giá số tiền là 131.255.000₫ (Một trăm ba mươi mốt triệu hai trăm năm mươi lăm triệu đồng). Các chi phí tố tụng (chi phí đo đạc, xem xét, thẩm định tại chỗ, thẩm định giá) ông tự nguyện chịu, không yêu cầu ông P hoàn trả.
Tại phiên toà, ông V tự nguyện thanh toán giá trị đất và tài sản gắn liền với đất cho ông P số tiền là 200.000.000₫ (Hai trăm triệu đồng).
- Tại bản tự khai, các lời khai trong quá trình chuẩn bị xét xử, cũng như tại phiên tòa, bị đơn ông Huỳnh Tấn P trình bày, tranh luận:
Diện tích đất 4043,2m² thuộc thửa 72, tờ bản đồ số 26 tại phường X có nguồn gốc một phần do cha ông P là Huỳnh Văn B1 (đã chết) và mẹ là bà Nguyễn Thị C, sinh năm 1952 khai phá từ khoảng năm 1976, một phần do người bác ruột khai phá, sau đó cho tặng cho lại cha mẹ ông cũng từ khoảng năm 1976. Sau khi khai phá, cha mẹ ông P là người trực tiếp canh tác, đến năm 2019 do cha mẹ không còn đủ sức khỏe nên tặng cho ông toàn bộ diện tích đất nêu trên. Từ năm 2019 đến nay, ông P là người trực tiếp sử dụng đất.
Thời gian bắt đầu canh tác cho đến khoảng cuối năm 2019, do đất ông V không có lối đi nên ông P và gia đình có tạo điều kiện cho ông V đi băng ngang qua thửa đất (vị trí giữa thửa đất, từ ngã ba đường đi thẳng vào thửa 73, tờ bản đồ số 26 tại phường X). Tuy nhiên, do việc đi lại của ông V gây ảnh hưởng đến sinh hoạt của gia đình (như việc chạy xe không an toàn, gây ồn ào, mất trật tự) nên ông P và gia đình không tiếp tục cho ông V sử dụng lối đi này. Thời điểm ông V gửi đơn khiếu nại đến Ủy ban nhân dân phường X, ông P có tạo điều kiện cho ông V mở lối đi theo hình chữ L dọc theo ranh giữa thửa 83 tờ bản đồ số 26 tại phường X, nhưng ông V không đồng ý mà đề nghị mở lối đi tại vị trí giáp thửa 61, tờ bản đồ số 26 tại phường X.
Ông P không đồng ý đối với yêu cầu mở lối có chiều ngang 3m x 62m đi qua thửa đất của ông vì những lý do sau đây: (1) Diện tích đất thuộc thửa 73, tờ bản đồ số 26 tại phường X của nguyên đơn có nhiều biện pháp mở lối đi, có thể mở qua thửa 61 tờ bản đồ số 26 (đất ông Trần Sập S), hoặc qua thửa 83, tờ bản đồ số 26 (đất bà Nguyễn Thị Kim T2) hoặc qua các thửa 60, 61, tờ bản đồ số 26 tại phường X, không nhất thiết phải mở lối đi qua thửa đất của ông. (2) Đất của ông có diện tích nhỏ, phần đất nguyên đơn yêu cầu mở lối đi là khu vực đất màu mỡ, cho năng suất cây trồng cao, nên việc mở lối đi theo yêu cầu của ông V gây thiệt hại lớn cho ông P.
Hiện nay, mặc dù ông P là người đang trực tiếp sử dụng diện tích đất thuộc thửa 72, tờ bản đồ số 26 tại phường X và là người đứng tên trên giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, nhưng mẹ ông là bà Nguyễn Thị C và các anh chị em trong gia đình gồm bà Huỳnh Thị Ngọc V1, ông Huỳnh Tấn H, bà Huỳnh Thị Ngọc H1, bà Huỳnh Thị Ngọc P1, ông Huỳnh Tấn Đ đều có công sức đóng góp, gửi tiền về để đầu tư cây trồng trên đất.
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan bà Phạm Thị B trình bày, tranh luận:
Bà B là vợ của ông Lương Thái V, bà thống nhất với phần trình bày và yêu cầu khởi kiện của ông V, đề nghị chấp nhận yêu cầu khởi kiện của ông V.
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan bà Nguyễn Thị C trình bày:
Bà C là mẹ của ông P, bà thống nhất với ý kiến trình bày của ông Huỳnh Tấn P, đề nghị không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan bà Huỳnh Thị Ngọc V1, ông Huỳnh Tấn H, bà Huỳnh Thị Ngọc H1, bà Huỳnh Thị Ngọc P1, ông Huỳnh Tấn Đ đã được Toà án tống đạt thông báo yêu cầu giao nộp, chứng cứ và các văn bản tố tụng nhưng trong quá trình giải quyết vụ án, không có ý kiến bằng văn bản, không giao nộp tài liệu, chứng cứ.
- Phát biểu của Kiểm sát viên tại phiên tòa:
- - Về việc tuân theo pháp luật tố tụng: Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa và các đương sự, đại diện đương sự đã tuân thủ đúng các quy định của pháp luật tố tụng dân sự kể từ khi thụ lý vụ án đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án. Tuy nhiên, Toà án vi phạm thời hạn chuẩn bị xét xử được quy định tại Điều 203 Bộ luật Tố tụng dân sự.
- - Về nội dung vụ án: ông Lương Thái V yêu cầu ông Huỳnh Tấn P và những người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan mở cho ông V lối đi từ thửa 72 tờ bản đồ số 26 tại phường X ra đến đường công cộng (để vào thửa số 73, tờ bản đồ số 26 tại phường X), lối đi có diện tích 95,9m² được giới hạn bởi các điểm (2,8,46,30,2',2) tại Trích vẽ bổ sung bản vẽ số 4058/2023 do Văn phòng Đăng ký đất đai tỉnh Đ - Chi nhánh L1 lập ngày 15-12-2023 là có cơ sở bởi các lẽ sau:
Căn cứ vào các biên bản xem xét, thẩm định tại chỗ, công văn phúc đáp của Văn phòng Đ - Chi nhánh L1, kết quả xác minh và lời khai của các đương sự thì thửa đất của ông V tiếp giáp các thửa đất số 61 của ông Trần Sập S; thửa đất số 74 của ông Nguyễn Văn D và bà Nguyễn Thị Kim T2; thửa đất số 83 của ông Nguyễn Kim T2 và bà Nguyễn Thị B2; thửa đất số 72 của ông Huỳnh Tấn P; không tiếp giáp đường công cộng và không có lối đi ra đường công cộng. Vì vậy, để đảm bảo quyền sử dụng đất, ông V yêu cầu Toà án buộc ông Phú m lối đi từ thửa 72 tờ bản đồ số 26 tại phường X ra đến đường công cộng là phù hợp với quy định tại Điều 254 Bộ luật Dân sự năm 2015.
Căn cứ vào biên bản xác minh, biên bản đo đạc đất và xem xét thẩm định tại chỗ ngày 10-8-2020, ngày 09-3-2020 của Toà án, theo mảnh trích đo do Văn phòng Đ - Chi nhánh L1 lập, qua thực tế xem xét thì có nhiều khả năng mở lối đi ra đường công cộng từ thửa đất số 73 của nguyên đơn. Gồm có: lối đi qua thửa đất số 72, cặp theo thửa đất số 61 có mặt đường bằng phẳng, chiều dài khoảng 40m, trên đất có hàng rào dâm bụt và rào lưới B40, trên đất có trồng mít, chôm chôm là lối đi thuận tiện nhất, ngắn nhất để ra đường công cộng và đảm bảo ít thiệt hại nhất cho chủ sử dụng thửa đất số 72. Do đó, có đủ cơ sở để chấp nhận việc mở lối đi với diện tích và vị trí như yêu cầu khởi kiện của ông V.
Căn cứ khoản 1 Điều 254 Bộ luật dân sự, ông V có nghĩa vụ bồi thường cho ông P giá trị quyền sử dụng đất và cây trồng trên đất được sử dụng để mở lối đi, tổng số tiền là 131.240.000 đồng theo Chứng thư thẩm định giá số 91/TĐG-BC ngày 14-4-2022 của Công ty Cổ phần T3. Tuy nhiên, tại phiên toà sơ thẩm, nguyên đơn ông V tự nguyện bồi thường cho ông P giá trị quyền sử dụng đất và cây trồng trên đất được sử dụng để mở lối đi, tổng số tiền là 200.000.000 đồng nên ghi nhận mức bồi thường này.
Về án phí: do yêu cầu của nguyên đơn được chấp nhận toàn bộ nên bị đơn phải chịu chi phí tố tụng, án phí dân sự sơ thẩm theo quy định.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:
Về thủ tục tố tụng:
- [1] Về quan hệ pháp luật tranh chấp và thẩm quyền:
Nguyên đơn ông Lương Thái V khởi kiện yêu cầu mở lối đi trên diện tích đất thuộc thửa 72 tờ bản đồ số 26, bản đồ địa chính phường X do ông Huỳnh Tấn P đứng tên trên giấy chứng nhận quyền sử dụng đất; bị đơn ông Huỳnh Tấn P có nơi cư trú tại: khu phố P, phường X, thành phố L, tỉnh Đồng Nai. Do đó, quan hệ pháp luật tranh chấp trong vụ án được xác định là “Tranh chấp về yêu cầu mở lối đi qua bất động sản liền kề” theo quy định tại khoản 9 Điều 26 Bộ luật Tố tụng dân sự và thuộc thẩm quyền giải quyết của Toà án nhân dân thành phố Long Khánh theo quy định tại các điều 35, 39 Bộ luật Tố tụng dân sự.
- [2] Về việc rút một phần yêu cầu kiện:
Nguyên đơn rút một phần yêu cầu khởi kiện đối với tranh chấp quyền sử dụng đất diện tích 348,7m², việc rút một phần yêu cầu khởi kiện là tự nguyện, nên Hội đồng xét xử căn cứ Điều 244 Bộ luật Tố tụng dân sự, đình chỉ một phần yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.
- [3] Bà Phạm Thị B là vợ nguyên đơn, cùng đứng tên trên giấy chứng nhận quyền sử dụng đất với nguyên đơn; mặc dù diện tích đất do nguyên đơn ông Huỳnh Tấn P đứng tên, nhưng ông P cho rằng mẹ là Nguyễn Thị C và các anh chị em trong gia đình gồm các ông bà Huỳnh Thị Ngọc V1, Huỳnh Tấn H, Huỳnh Thị Ngọc H1, Huỳnh Thị Ngọc P1, Huỳnh Tấn Đ có công sức đóng góp đối với tài sản. Do đó, quá trình giải quyết vụ án, Toà án bổ sung những người nêu trên vào tham gia tố tụng với tư cách là người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan trong vụ án.
- [4] Về sự có mặt của các đương sự:
Đại diện theo uỷ quyền của nguyên đơn có đơn đề nghị xét xử vắng mặt; những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan gồm các ông bà Huỳnh Thị Ngọc V1, Huỳnh Tấn H, Huỳnh Thị Ngọc H1, Huỳnh Thị Ngọc P1, Huỳnh Tấn Đ đã được triệu tập hợp lệ đến lần thứ hai nhưng vắng mặt tại phiên toà. Căn cứ điều 227, 228 Bộ luật Tố tụng dân sự, Toà án tiến hành xét xử vắng mặt các đương sự nêu trên.
Về nội dung:
- [5] Nguyên đơn ông V khởi kiện yêu cầu mở lối đi rộng 03m x dài 62m, được đo đạc lại có diện tích 95,9m² trên thửa đất 72, tờ bản đồ số 26 tại phường X do bị đơn ông P đứng tên trên giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, bị đơn không đồng ý.
- [6] Xét quyền yêu cầu mở lối đi của nguyên đơn:
6.1. Theo các kết quả xem xét, thẩm định tại chỗ trong quá trình giải quyết vụ án và Công văn số 1414/CV.VPĐK-ĐĐ ngày 15-9-2023 của Văn phòng Đ, thì diện tích đất thuộc thửa 73, tờ bản đồ số 26, bản đồ địa chính phường X bị vây bọc bởi các thửa đất gồm: thửa 61 (đất của ông Trần Sập S); thửa 72 (đất của bị đơn); thửa 74 (đất ông Nguyễn Văn D) và thửa 83, tờ bản đồ số 26, bản đồ địa chính phường X (đất ông Nguyễn Kim T2 và bà Nguyễn Thị B2). Diện tích đất thuộc thửa 73, tờ bản đồ số 26, bản đồ địa chính phường X không có lối đi ra đường công cộng.
6.2. Theo Điều 254 Bộ luật dân sự 2015 có quy định: “Chủ sở hữu có bất động sản bị vây bọc bởi các bất động sản của các chủ sở hữu khác mà không có hoặc không đủ lối đi ra đường công cộng, có quyền yêu cầu chủ sở hữu bất động sản vây bọc dành cho mình một lối đi hợp lý trên phần đất của họ”. Từ quy định nêu trên, nguyên đơn ông V có quyền yêu cầu một trong các chủ đất liền kề mở cho mình một lối đi hợp lý.
- [7] Về các phương án mở lối đi:
7.1. Căn cứ kết quả xem xét, thẩm định tại chỗ và Biên bản xác minh ngày 10-8-2020 của Toà án nhân dân thành phố Long Khánh (Bút lục số 107), thì có khả năng mở 03 lối đi từ đường công cộng vào diện tích đất của nguyên đơn gồm: (1) L đi thứ nhất, lối đi trên thửa 72; cặp ranh thửa 61 của ông Trần Sập S, lối đi có mặt đường bằng phẳng, chiều dài khoảng 40m. (2) Lối đi thứ hai thuộc thửa 72, cặp theo ranh thửa 72 và thửa 83, có chiều dài khoảng 53m, hạn chế của lối đi là hiện hữu có hồ nước, khoảng cách từ hàng rào đến mép hồ có chiều rộng 1,5m, có đoạn chỉ rộng 0,5m, mặt đường gồ ghề, mưa lớn sẽ ngập cục bộ, đã lắp ống thoát nước lớn. (3) Lối đi thứ ba mở trên thửa 61, cặp ranh giữa 02 thửa 61 và 74 và một đoạn cặp theo ranh giữa 02 thửa 61 và 60, hạn chế của lối đi là: cần phải qua hai bất động sản mới ra đường dân sinh, chiều dài lối đi khoảng 42m. Từ những phương án nêu trên, có căn cứ để xác định lối đi thứ nhất (mở theo yêu cầu của nguyên đơn) là lối đi ngắn nhất, hợp lý nhất, ít gây ra thiệt hại nhất cho chủ sử dụng đất bị mở lối đi.
7.2. Bị đơn ông P không đồng ý mở lối đi tại vị trí đất theo yêu cầu của nguyên đơn vì cho đất của ông có diện tích nhỏ, là phần đất màu mỡ, việc mở lối đi gây thương hại lớn cho ông. Tuy nhiên, nhận thấy thửa 72, tờ bản đồ số 26, bản đồ địa chính phường X của bị đơn có diện tích được cấp là 4043,2m², nguyên đơn yêu cầu mở lối đi có diện tích 95,9m², diện tích mở lối đi chỉ bằng khoảng 2% tổng diện tích đất của bị đơn được cấp. Vì vậy, việc mở lối đi với diện tích và vị trí theo yêu cầu của nguyên đơn vẫn đảm bảo diện tích đất cho bị đơn canh tác.
- [8] Về diện tích mở lối đi và kết quả đo đạc:
8.1. Diện tích lối đi cần có chiều rộng hợp lý, đảm bảo cho các phương tiện di chuyển vào khu vực đất nguyên đơn, phục vụ cho việc canh tác trên đất. Nguyên đơn yêu cầu mở lối đi có chiều ngang 2,5m (theo kết quả đo đạc) là phù hợp với chiều ngang của các phương tiện hiện nay (máy móc, thiết bị, phục vụ cho canh tác nông nghiệp).
8.2. Kết quả đo đạc theo Trích lục và đo vẽ hiện trạng thửa đất bản đồ địa chính số 1417/2021 do Văn phòng Đăng ký đất đai tỉnh Đ - Chi nhánh L1 lập ngày 21-3-2022, lối đi có diện tích 95,1m² được giới hạn bởi các điểm (2,8,46,30,2). Trước đó, nguyên đơn xác định phần diện tích 0,8m² được giới hạn bởi các điểm (2,30,2',2) tại trích vẽ bổ sung bản vẽ số 4058/2023 do Văn phòng Đăng ký đất đai tỉnh Đ - Chi nhánh L1 lập ngày 15-12-2023 là diện tích đất của nguyên đơn, do bị đơn lấn chiếm. Tuy nhiên, quá trình giải quyết vụ án, nguyên đơn thừa nhận, diện tích 0,8m² thuộc quyền sử dụng của bị đơn (thửa 72, tờ bản đồ số 26, bản đồ địa chính phường X), đồng thời yêu cầu bị đơn mở thêm phần lối đi này để vào thửa đất của ông, yêu cầu bổ sung của ông V là phù hợp, không vượt quá yêu cầu khởi kiện ban đầu nên có cơ sở chấp nhận.
- [9] Về đền bù giá trị đất và tài sản gắn liền với đất:
Căn cứ Chứng thư thẩm định giá số 91/TĐG-CT ngày 14 tháng 4 năm 2022 và Công văn số 410/TĐG-VB ngày 27 tháng 12 năm 2023 của Công ty Cổ phần T3 xác định: (1) Quyền sử dụng đất có giá trị 95,1m² có giá trị là 123.630.000đ; Diện tích bổ sung 0,8m² có giá là 1.040.000đ, tổng giá trị diện tích 95,9m² là 124.670.000đ. (2) Công trình đã qua sử dụng có giá: 4.730.000đ; (3) Cây trồng có giá: 1.855.000đ. Tổng giá trị đất và tài sản gắn liền với đất của bị đơn là 131.255.000đ (Một trăm ba mươi mốt triệu hai trăm năm mươi lăm nghìn đồng). Ngoài ra, mặc dù giá trị tài chứng thư đã quá thời hạn 06 tháng nhưng tại Công văn số 410/TĐG-VB của tổ chức thẩm định giá còn xác định: giá trị quyền sử dụng đất, công trình xây dựng trên đất và cây xanh tại khu vực biến động không đáng kể, nên Công ty Cổ phần T3 giữ nguyên kết quả thẩm định giá tại Chứng thư thẩm định giá số 91/TĐG-CT. Do đó, có căn cứ xác định nguyên đơn có nghĩa đền bù giá trị đất mở lối đi, tài sản gắn liền với đất cho bị đơn số tiền là 131.255.000đ (Một trăm ba mươi mốt triệu hai trăm năm mươi lăm nghìn đồng). Tại phiên toà, nguyên đơn tự nguyện đồng ý đền bù giá trị đất và tài sản gắn liền với đất số tiền 200.000.000₫ là cao hơn giá được xác định tại chứng thư thẩm định giá, có lợi cho bị đơn, nên ghi nhận sự tự nguyện của nguyên đơn.
- [10] Về án phí:
Căn cứ Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc Hội, quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí lệ phí Tòa án, thì án phí được giải quyết như sau: (1) Yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn được Toà án chấp nhận, nên bị đơn phải chịu án phí không có giá ngạch số tiền là 300.000đ (Ba trăm nghìn đồng). (2) Nguyên đơn là người tuổi, có đơn đề nghị miễn nộp tiền tạm ứng án phí, án phí nên không phải chịu án phí.
- [11] Về chi phí tố tụng:
Nguyên đơn tự nguyện chịu toàn bộ chi phí tố tụng, nên Hội đồng xét xử không xem xét.
- [12] Quan điểm của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Long Khánh:
Quan điểm của Kiểm sát viên tại phiên tòa phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử nên chấp nhận.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH
Căn cứ vào:
- Các điều 26, 35, 39, 147, 157, 165, 227, 228, 235, 244, 273 Bộ luật Tố tụng dân sự;
- Các điều 245, 254 Bộ luật Dân sự năm 2015;
- Các điều 170, 171 Luật Đất đai năm 2013;
- Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc Hội, quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí lệ phí Tòa án.
Tuyên xử:
- Đình chỉ một phần yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn ông Lương Thái V, về về việc tranh chấp quyền sử dụng đất diện tích 348,7m² với bị đơn ông Huỳnh Tấn P.
- Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn ông Lương Thái V về việc yêu cầu mở lối đi qua bất động sản liền kế với bị đơn ông Huỳnh Tấn P.
- Buộc bị đơn ông Huỳnh Tấn P và những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan gồm các ông bà Nguyễn Thị C, Huỳnh Thị Ngọc V1, Huỳnh Tấn H, Huỳnh Thị Ngọc H1, Huỳnh Thị Ngọc P1, Huỳnh Tấn Đ phải có nghĩa vụ mở cho ông Lương Thái V lối đi có diện tích 95,9m² trên thửa đất số 72, tờ bản đồ số 26, bản đồ địa chính phường X. Lối đi được giới hạn bởi các điểm mốc (2,8,46,30,2’,2) thể hiện tại Trích vẽ bổ sung bản vẽ số 4058/2023 do Văn phòng Đăng ký đất đai tỉnh Đ - Chi nhánh L1 lập ngày 15-12-2023.
Kèm theo Bản án là Trích vẽ bổ sung bản vẽ số 4058/2023 ngày 15-12-2023 của Văn phòng Đăng ký đất đai tỉnh Đ - Chi nhánh L1. Khi án có hiệu lực pháp luật, đương sự có trách nhiệm liên hệ với cơ quan nhà nước có thẩm quyền đăng ký quyền sử dụng đất theo quy định của Luật Đất đai năm 2013.
- Ông Lương Thái V có nghĩa vụ thanh toán giá trị diện tích đất 95,9m² và tài sản gắn liền với đất cho ông Huỳnh Tấn P số tiền là 200.000.000₫ (Hai trăm triệu đồng).
- Buộc bị đơn ông Huỳnh Tấn P và những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan gồm các ông bà Nguyễn Thị C, Huỳnh Thị Ngọc V1, Huỳnh Tấn H, Huỳnh Thị Ngọc H1, Huỳnh Thị Ngọc P1, Huỳnh Tấn Đ phải có nghĩa vụ mở cho ông Lương Thái V lối đi có diện tích 95,9m² trên thửa đất số 72, tờ bản đồ số 26, bản đồ địa chính phường X. Lối đi được giới hạn bởi các điểm mốc (2,8,46,30,2’,2) thể hiện tại Trích vẽ bổ sung bản vẽ số 4058/2023 do Văn phòng Đăng ký đất đai tỉnh Đ - Chi nhánh L1 lập ngày 15-12-2023.
- Về lãi chậm thi hành án: Kể từ ngày bản án có hiệu lực pháp luật (đối với các trường hợp cơ quan thi hành án có quyền chủ động ra quyết định thi hành án) hoặc kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án (đối với khoản tiền phải trả cho người được thi hành án) cho đến khi thi hành án xong tất cả các khoản tiền, hàng tháng bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi tương ứng với số tiền và thời gian chưa thi hành án. Lãi suất chậm trả tiền do các bên thỏa thuận nhưng không được vượt quá mức lãi suất được quy định tại khoản 1 Điều 468 Bộ luật Dân sự năm 2015; trường hợp không thỏa thuận được thì thực hiện theo khoản 2 Điều 468 Bộ luật Dân sự năm 2015.
- Về chi phí tố tụng:
Ông Lương Thái V tự nguyện chịu toàn bộ chi phí tố tụng số tiền là 3.782.800đ (Ba triệu bảy trăm tám mươi hai nghìn tám trăm đồng), (đã chi và quyết toán xong).
- Về án phí:
- Ông Huỳnh Tấn P phải chịu 300.000đ (Ba trăm nghìn đồng) án phí dân sự sơ thẩm.
- Miễn án phí dân sự sơ thẩm cho ông Lương Thái V.
- Về quyền kháng cáo: nguyên đơn, bị đơn, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan bà Phạm Thị B, bà Nguyễn Thị C được quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án; những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt tại phiên toà được quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết.
- Trường hợp bản án, quyết định được được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự, thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.
|
Nơi nhận:
|
TM.HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Lê Đăng Tố |
Bản án số 30/2024/DS-ST ngày 20/06/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ LONG KHÁNH TỈNH ĐỒNG NAI về tranh chấp về yêu cầu mở lối đi qua bất động sản liền kề; tranh chấp quyền sử dụng đất
- Số bản án: 30/2024/DS-ST
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp về yêu cầu mở lối đi qua bất động sản liền kề; tranh chấp quyền sử dụng đất
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 20/06/2024
- Loại vụ/việc: Dân sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ LONG KHÁNH TỈNH ĐỒNG NAI
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Nguyên đơn Lương Thái Vân yêu cầu mở lối đi
