|
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TIÊN LÃNG THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG |
CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
|
Bản án số: 30/2024/HS-ST Ngày 20-5-2024 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TIÊN LÃNG, THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Nguyễn Thanh Tùng.
Các Hội thẩm nhân dân:
- - Ông Nguyễn Hữu Bình; nghề nghiệp: Bí thư Chi bộ khu 1 thị trấn Tiên Lãng, huyện Tiên Lãng, thành phố Hải Phòng;
- - Ông Đoàn Văn Nam; nghề nghiệp: Bí thư Đoàn thanh niên cộng sản Hồ Chí Minh xã Cấp Tiến, huyện Tiên Lãng, thành phố Hải Phòng.
- Thư ký phiên toà: Ông Nghiêm Quang Trường - Thư ký Toà án nhân dân huyện Tiên Lãng, thành phố Hải Phòng.
- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân huyện Tiên Lãng, thành phố Hải Phòng tham gia phiên toà: Ông Phạm Văn Nguyện - Kiểm sát viên.
- Người tham gia tố tụng khác tại điểm cầu thành phần: Bà Trần Thị T - Kế toán Toà án nhân dân huyện Tiên Lãng, thành phố Hải Phòng.
Ngày 20 tháng 5 năm 2024, tại điểm cầu trung tâm (trụ sở Tòa án nhân dân huyện Tiên Lãng, thành phố Hải Phòng) và điểm cầu thành phần (Trại tạm giam Công an thành phố H) xét xử sơ thẩm công khai bằng hình thức trực tuyến vụ án hình sự thụ lý số: 30/2024/TLST-HS ngày 25 tháng 4 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 27/2024/QĐXXST-HS ngày 06 tháng 5 năm 2024, đối với các bị cáo:
- Lò Văn N, sinh ngày 10 tháng 10 năm 2004 tại Điện Biên; nơi cư trú: Bản S, xã K, huyện Đ, tỉnh Điện Biên; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ học vấn: 9/12; dân tộc: Khơ mú; tôn giáo: Không; giới tính: Nam; quốc tịch: Việt Nam; con ông Lò Văn X, sinh năm 1980 và bà Lò Thị X1, sinh năm 1981; chưa có vợ, con; tiền án: Không; tiền sự: Không; bị bắt từ ngày 17 tháng 01 năm 2024 đến ngày 23 tháng 01 năm 2024 chuyển tạm giam; có mặt.
- Lường Văn Q, sinh ngày 10 tháng 02 năm 2007 (tính đến ngày phạm tội 16 tuổi 11 tháng 08 ngày) tại Điện Biên; nơi cư trú: Bản P, xã P, huyện Đ, tỉnh Điện Biên; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ học vấn: 9/12; dân tộc: Khơ mú; tôn giáo: Không; giới tính: Nam; quốc tịch: Việt Nam; con ông Lường Văn T1, sinh năm 1989 và bà Lường Thị S, sinh năm 1984; chưa có vợ, con; tiền án: Không; tiền sự: Không; bị bắt từ ngày 17 tháng 01 năm 2024 đến ngày 23 tháng 01 năm 2024 chuyển tạm giam; có mặt.
- Người đại diện hợp pháp của bị cáo Q: Ông Lường Văn T1, sinh năm 1989 và bà Lường Thị S, sinh năm 1984; cùng nơi cư trú: Bản P, xã P, huyện Đ, tỉnh Điện Biên - Là bố mẹ đẻ của Q; vắng mặt.
- Người bào chữa cho các bị cáo N và Q: Bà Trần Thị T2 - Trợ giúp viên pháp lý Trung tâm Trợ giúp pháp lý Nhà nước thành phố H; có mặt.
- Người chứng kiến: Anh Nguyễn Tuấn N1; vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 17 giờ ngày 17-01-2024, Lò Văn N điều khiển xe mô tô biển kiểm soát (BKS) 27Z1-218.71 chở Lường Văn Q đi tìm việc làm tại khu vực Quốc lộ A thuộc địa phận huyện T. Do cùng nghiện ma túy, nên N rủ Q cùng đi mua ma túy về sử dụng, Q đồng ý và đưa cho N 500.000 đồng; khi N và Q đi đến khu vực lối rẽ vào đê quốc gia thuộc thôn M, xã T, huyện T thì Q xuống xe đứng chờ còn N tiếp tục điều khiển xe mô tô đi lên đê và gặp một người đàn ông không quen biết hỏi mua 500.000 đồng ma túy loại Heroine, người này bán cho 01 túi nilon bên trong có 6 gói giấy chứa chất bột màu trắng. Mua được ma túy, N cầm ở lòng bàn tay trái và điều khiển xe mô tô đi ra chỗ Q đang đứng chờ thì bị Công an huyện T kiểm tra, lập biên bản bắt người phạm tội quả tang, thu giữ 01 túi nilon kích thước 11 x 6,8cm bên trong có 6 gói giấy màu trắng cùng có kích thước 2 x 0,7cm chứa chất bột màu trắng và xe mô tô BKS 27Z1-218.71.
Khám xét khẩn cấp nơi ở của Lò Văn N và Lường Văn Q, Cơ quan Cảnh sát điều tra không thu giữ được tài liệu, đồ vật liên quan đến vụ án.
Tại bản Kết luận giám định số 84/KL-KTHS ngày 22-01-2024 của Phòng K Công an thành phố H, kết luận: “Chất bột màu trắng gửi giám định là ma túy, có khối lượng: 0,38 gam, loại Heroine".
Kết quả xét nghiệm của Cơ sở điều trị Methadone Tiên L, kết luận: Lò Văn N và Lường Văn Q dương tính với ma túy, loại Heroine.
Phiếu trả lời xác minh phương tiện xe cơ giới đường bộ của Công an huyện T và Kết luận giám định số 621/KL-KTHS ngày 9-02-2024 của Phòng K Công an thành phố H, kết luận: “Xe mô tô nhãn hiệu HONDA BKS 27Z1-281.71, mang tên chị Tòng Thị N2, sinh năm 1989, ở Bản T, xã Q, huyện T, tỉnh Điện Biên, có số khung, số máy là số nguyên thủy của nhà sản xuất đóng, không bị tẩy xóa hoặc sửa chữa các ký tự”.
Quá trình điều tra chị Tòng Thị N2 trình bày: Chiếc xe mô tô BKS 27Z1-218.71 là của chị N2 đã bán lại cho Lò Văn N với giá 7 triệu đồng.
Vật chứng của vụ án: Đối với 01 chiếc xe mô tô và đăng ký xe BKS 27Z1-218.71; 01 phong bì niêm phong chứa mẫu vật còn lại sau giám định chuyển Chi cục Thi hành án dân sự huyện Tiên Lãng, thành phố Hải Phòng.
Bản cáo trạng số 34/CT-VKS ngày 25-4-2024 của Viện Kiểm sát nhân dân huyện Tiên Lãng đã truy tố Lò Văn N và Lường Văn Q về tội Tàng trữ trái phép chất ma tuý theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 của Bộ luật Hình sự.
Quá trình điều tra cũng như tại phiên tòa, các bị cáo khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội như nội dung nêu trên và trình bày: Do cùng nghiện ma túy loại Heroine nên N đã khởi xướng, rủ Q đi mua ma túy về để cùng sử dụng, ngoài ra không có mục đích nào khác; số tiền 500.000 đồng Q đưa cho N là do bị cáo lao động mà có; xe mô tô BKS 27Z1-218.71 là tài sản hợp pháp của N mua lại của chị Tòng Thị N2 nhưng chưa làm thủ tục sang tên theo quy định. Các bị cáo thừa nhận Cáo trạng truy tố đúng như hành vi đã thực hiện; khối lượng, loại ma túy đúng như kết luận giám định của Phòng K Công an thành phố H; vật chứng của vụ án bị Công an huyện T thu giữ đúng như cáo trạng đã nêu. Các bị cáo thừa nhận việc bị điều tra, truy tố, xét xử là không oan sai, không bị ép buộc khai báo không đúng sự thật; đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho các bị cáo và xử lý vật chứng theo quy định pháp luật.
Người đại diện hợp pháp của Q và người chứng kiến vắng mặt, Hội đồng xét xử công bố lời khai phù hợp với lời khai của các bị cáo trong quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa.
Kiểm sát viên khẳng định Cáo trạng số 34/CT-VKS ngày 25-4-2024 truy tố các bị cáo là có căn cứ, đúng người, đúng tội. Căn cứ tính chất, hành vi phạm tội, nhân thân và các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của các bị cáo, đề nghị Hội đồng xét xử:
- Về hình phạt: Căn cứ vào điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51; khoản 1 Điều 17; Điều 38; Điều 58 (áp dụng thêm điểm o khoản 1 Điều 52 đối với với N; các điều 91, 101 đối với Q) của Bộ luật Hình sự, xử phạt: Lò Văn N mức án từ 15 tháng tù đến 21 tháng tù giam và Lường Văn Q mức án từ 12 tháng tù đến 15 tháng tù giam về tội Tàng trữ trái phép chất ma túy.
Miễn hình phạt bổ sung (phạt tiền) đối với các bị cáo.
- Về xử lý vật chứng: Tịch thu nộp ngân sách Nhà nước 01 xe mô tô và 01 đăng ký xe BKS 27Z1-218.71. Tịch thu tiêu hủy: 01 bì thư còn nguyên niêm phong số 84MT/PC09 của Phòng K Công an thành phố H chứa mẫu vật hoàn lại sau giám định.
- Về án phí: Miễn án phí hình sự sơ thẩm cho các bị cáo.
Người bào chữa cho các bị cáo: Nhất trí với Kiểm sát viên về tội danh, điều luật áp dụng; tình tiết tang nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với các bị cáo và đề nghị Hội đồng xét xử xem xét hoàn cảnh các bị cáo là người dân tộc thiểu số ở các xã có điều kiện kinh tế-xã hội đặc biệt khó khăn; tàng trữ ma túy với số lượng không lớn; bị cáo Q là người chưa đủ 18 tuổi nên khả năng nhận thức cũng như hiểu biết pháp luật còn hạn chế; không nhận thức đầy đủ hành vi nguy hiểm cho xã hội của mình, gia đình chưa quản lý, giáo dục đúng mức để cho các bị cáo được hưởng mức án khoan hồng, có cơ hội được sửa chữa sai lầm, trở thành công dân tốt.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
- Về tố tụng:
- Các tài liệu, chứng cứ do Cơ quan điều tra Công an huyện T, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Tiên Lãng, Kiểm sát viên thu thập đã đầy đủ và theo đúng trình tự, thủ tục do Bộ luật Tố tụng hình sự quy định.
- Hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra và Điều tra viên Công an huyện T, Viện Kiểm sát nhân dân huyện Tiên Lãng và Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, các bị cáo, người đại diện hợp pháp, người bào chữa và những người tham gia tố tụng khác không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
- Về người tham gia tố tụng: Người đại diện hợp pháp của Q và người chứng kiến đã được triệu tập hợp lệ nhưng vắng mặt không vì sự kiện bất khả kháng hoặc trở ngại khách quan. Tuy nhiên, những người vắng mặt đã có lời khai tại Cơ quan điều tra nên căn cứ Điều 292, Điều 293 của Bộ luật Tố tụng hình sự, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vụ án vắng mặt những người này.
- Về tội danh và hình phạt:
- Lời khai của các bị cáo Lò Văn N và Lường Văn Q tại phiên toà phù hợp với lời khai của người làm chứng; biên bản bắt người phạm tội quả tang, biên bản thu giữ, niêm phong vật chứng; biên bản khám xét, kết luận giám định và các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án nên đủ cơ sở kết luận: Vào hồi 17 giờ 30 phút ngày 17-01-2024, tại thôn M, xã T, huyện T; tổ công tác Công an huyện T, thành phố Hải Phòng bắt quả tang các bị cáo có hành vi cất giấu trái phép chất ma tuý, thu giữ tại lòng bàn tay trái của N chất ma tuý có khối lượng theo Kết luận giám định của Phòng K Công an thành phố H là 0,38 gam, loại Heroine.
- Khi thực hiện hành vi phạm tội, bị cáo N đã đủ 18 tuổi, bị cáo Q 16 tuổi 11 tháng 08 ngày; đều là người có năng lực trách nhiệm hình sự theo quy định tại Điều 12 của Bộ luật Hình sự, nhận thức được hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy của mình là nguy hiểm cho xã hội, vi phạm pháp luật nhưng vẫn cố ý thực hiện với mục đích sử dụng.
- Như vậy, hành vi của các bị cáo đã đủ yếu tố cấu thành tội Tàng trữ trái phép chất ma tuý được quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 của Bộ luật Hình sự.
- Viện Kiểm sát nhân dân huyện Tiên Lãng, thành phố Hải Phòng truy tố các bị cáo về tội danh, điều luật áp dụng là có cơ sở và đúng với quy định của pháp luật.
- Hành vi phạm tội của các bị cáo là nghiêm trọng, đã xâm phạm chính sách độc quyền của Nhà nước về quản lý chất ma tuý, xâm phạm trật tự trị an xã hội, là nguyên nhân làm phát sinh nhiều loại tội phạm khác. Vì vậy, phải xử phạt các bị cáo mức án tương xứng với tính chất, mức độ nguy hiểm do hành vi phạm tội của bị cáo gây ra; cần phải áp dụng hình phạt nghiêm, cách ly các bị cáo ra khỏi xã hội một thời hạn nhất định mới đảm bảo giáo dục các bị cáo cũng như phòng ngừa chung.
- Về vai trò: Trong vụ án này, các bị cáo cố ý cùng thực hiện một tội phạm nên là đồng phạm theo quy định tại Điều 17 của Bộ luật Hình sự nhưng là đồng phạm giản đơn; không có sự câu kết chặt chẽ, phân công, phân nhiệm cụ thể. Bị cáo N là người khởi xướng, trực tiếp điều khiển xe mô tô (là tài sản hợp pháp của N) đi mua ma tuý; bị cáo Q có vai trò tích cực, đưa 500.000 đồng để N đi mua ma tuý về cùng nhau sử dụng. Như vậy, bị cáo N đồng phạm với vai trò lớn hơn nên phải chịu mức hình phạt cao hơn bị cáo Q.
- Về nhân thân và tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:
- Các bị cáo không có tiền án, tiền sự; bị cáo Q phạm tội không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự quy định tại Điều 52 của Bộ luật Hình sự.
- Bị cáo N rủ bị cáo Q (16 tuổi 11 tháng 08 ngày) đi mua ma tuý về sử dụng nên phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự “Xúi giục người dưới 18 tuổi phạm tội” quy định tại điểm o khoản 1 Điều 52 của Bộ luật Hình sự.
Tại Cơ quan điều tra và tại phiên tòa, các bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải nên được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự theo điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự.
Khi thực hiện hành vi phạm tội, bị cáo Q chưa đủ 18 tuổi nên được áp dụng những quy định đối với người dưới 18 tuổi phạm tội theo Điều 91 và Điều 101 của Bộ luật Hình sự.
- Xét các căn cứ quyết định hình phạt: Căn cứ vào tính chất hành vi phạm tội, nhân thân và các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của các bị cáo. Hội đồng xét xử cho rằng cần áp dụng Điều 38 của Bộ luật Hình sự, xử phạt bị cáo N ở mức cao nhất; bị cáo Q ở mức thấp nhất theo mức án mà Kiểm sát viên đã đề nghị đối với các bị cáo là thỏa đáng.
- Về hình phạt bổ sung: Khoản 5 Điều 249 của Bộ luật Hình sự quy định người phạm tội còn có thể bị áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền. Xét thấy, tài liệu xác minh thể hiện bị cáo N không là người nghiện ma tuý, dân tộc thiểu số ở các xã có điều kiện kinh tế-xã hội đặc biệt khó khăn nên Hội đồng xét xử không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.
- Bị cáo Q là người dưới 18 tuổi nên không áp dụng hình phạt bổ sung theo quy định tại khoản 6 Điều 91 của Bộ luật Hình sự.
- Về xử lý vật chứng:
- Đối với xe mô tô và 01 đăng ký xe BKS 27Z1-218.71: Đây là tài sản hợp pháp của N dùng để đi mua chất ma tuý nên là phương tiện phạm tội cần tịch thu, nộp ngân sách Nhà nước theo điểm a khoản 2 Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự.
- Đối với 01 bì thư còn nguyên niêm phong số 84MT/PC09 của Phòng K Công an thành phố H chứa mẫu vật hoàn lại sau giám định (bên trong có 0,29 gam chất bột và vỏ bao gói của mẫu vật): Là vật cấm tàng trữ, lưu hành nên cần tịch thu tiêu hủy theo điểm a khoản 2 Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự.
- Về vấn đề khác: Trong vụ án này, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện T chưa xác định được tên, tuổi, địa chỉ của người đàn ông bán ma túy cho các bị cáo nên tiếp tục xác minh, làm rõ xử lý sau là đúng quy định pháp luật.
- Về án phí: Căn cứ khoản 2 Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự; điểm đ khoản 1 Điều 12, điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án, do các bị cáo là đồng bào dân tộc thiểu số ở các xã có điều kiện kinh tế-xã hội đặc biệt khó khăn nên được miễn án phí hình sự sơ thẩm.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
- Về tội danh: Tuyên bố các bị cáo Lò Văn N và Lường Văn Q đồng phạm tội Tàng trữ trái phép chất ma túy.
- Về hình phạt:
Căn cứ vào điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51; điểm o khoản 1 Điều 52; khoản 1 Điều 17; Điều 38; Điều 58 của Bộ luật Hình sự, xử phạt:
Lò Văn N 21 (Hai mươi mốt) tháng tù. Thời hạn chấp hành án phạt tù tính từ ngày 17 tháng 01 năm 2024.
Căn cứ vào điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51; khoản 1 Điều 17; Điều 38; Điều 58; Điều 91 và Điều 101 của Bộ luật Hình sự, xử phạt:
Lường Văn Q 12 (Mười hai) tháng tù. Thời hạn chấp hành án phạt tù tính từ ngày 17 tháng 01 năm 2024.
Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo Lường Văn Q. Miễn hình phạt bổ sung (phạt tiền) đối với Lò Văn N.
- Về vật chứng: Căn cứ vào điểm c khoản 1 Điều 47 của Bộ luật Hình sự; điểm a, b khoản 2 Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự.
Tịch thu nộp ngân sách Nhà nước: 01 (Một) xe mô tô và 01 (Một) đăng ký xe BKS 27Z1-218.71 (xe cũ sơn đã chầy xước không chìa khoá, không rõ tình trạng bên trong).
Tịch thu tiêu hủy: 01 (Một) bì thư còn nguyên niêm phong số 84MT/PC09 của Phòng K Công an thành phố H chứa mẫu vật hoàn lại sau giám định (bên trong có 0,29 gam chất bột và vỏ bao gói của mẫu vật).
(Vật chứng nêu trên có đặc điểm như Biên bản giao nhận vật chứng ngày 15 tháng 5 năm 2024 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Tiên Lãng, thành phố Hải Phòng).
- Về án phí: Căn cứ vào khoản 2 Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự, điểm đ khoản 1 Điều 12, điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án,
Miễn án phí hình sự sơ thẩm cho các bị cáo Lò Văn N và Lường Văn Q.
- Về quyền kháng cáo: Căn cứ vào Điều 331 và Điều 333 của Bộ luật Tố tụng hình sự, các bị cáo, người bào chữa cho bị cáo Q có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án.
Người đại diện hợp pháp của bị cáo Q có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết.
- Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 của Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a và 9 của Luật Thi hành án dân sự, thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 của Luật Thi hành án dân sự.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Thanh Tùng |
Bản án số 30/2024/HS-ST ngày 20/05/2024 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TIÊN LÃNG, THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG về tàng trữ trái phép chất ma túy (criminal case)
- Số bản án: 30/2024/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Tàng trữ trái phép chất ma túy (Criminal Case)
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 20/05/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TIÊN LÃNG, THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Tàng trữ trái phép chất ma tuý
