|
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH GIA LAI |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
|
Bản án số: 30/2024/HSPT Ngày 19-6-2024 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH GIA LAI
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Văn Sinh
Các Thẩm phán: Ông Võ Văn Bình và ông Trần Văn Thưởng
Thư ký phiên tòa: Bà Trần Thị Hồng Nga – Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Gia Lai.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Gia Lai tham gia phiên tòa: Bà Đinh Ê Ban Mỹ - Kiểm sát viên.
Ngày 19 tháng 6 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Gia Lai, xét xử phúc thẩm công khai vụ án hình sự phúc thẩm thụ lý số: 29/2024/TLPT-HS ngày 08 tháng 4 năm 2024 đối với bị cáo Trương Văn T do có kháng cáo của bị cáo đối với bản án hình sự sơ thẩm số 09/2024/HSST ngày 26 tháng 02 năm 2024 của Tòa án nhân dân huyện Chư Prông, tỉnh Gia Lai.
* Bị cáo có kháng cáo: Trương Văn T, sinh ngày 08/10/1968 tại tỉnh Hải Dương. Nơi cư trú: Thôn B, thị trấn P, huyện C, tỉnh Gia Lai; nghề nghiệp: Bảo vệ; trình độ học vấn: 5/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Trương Văn S (đã chết) và bà Trần Thị L (đã chết); có vợ là Nguyễn Thị H, sinh năm 1969, có 03 người con (lớn nhất sinh năm 1991, nhỏ nhất sinh năm 1997); tiền án, tiền sự: Không.
Hiện bị cáo tại ngoại. Có mặt.
Ngoài ra còn có bị cáo Lê Y L1 không có kháng cáo và không bị kháng cáo, kháng nghị; bị cáo Trần H1 có kháng cáo về phần hình phạt nhưng đã rút kháng cáo.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Trần Văn D là công nhân lái xe máy cày của Công ty I (viết tắt là công ty I), có trụ sở tại xã L, huyện C, tỉnh Gia Lai. Vào khoảng 17 giờ ngày 13/3/2023, D điều khiển xe mô tô BKS 81U1-354.94 đi từ xã L, huyện Đ đến nhà anh A thuộc khu vực nhà lưu trú của công ty I lấy 01 con heo D gửi từ trước mang về nhà D tại huyện Đ. D điều khiển xe mô tô chở heo đi qua cổng chính của công ty I theo đường tự phát về hướng cầu Sắt để về xã I, huyện Đ. Khi D đi đến khu vực cầu S thì con heo D chở bị xổng nên D điều khiển xe đuổi theo để bắt lại.
Khi D đang đuổi theo con heo thì có anh Trượng Viết L2 và Trần Trung H2 (là nhân viên Bảo vệ Công ty cổ phần D1 đang làm bảo vệ cho công ty I) nhìn thấy và nghi ngờ D trộm cắp dầu của cộng ty T1 nên yêu cầu D dừng lại để kiểm tra. Sau khi kiểm tra không thấy dầu nhưng trên người và quần áo của D có mùi dầu nên L2 đã gọi điện cho (Phó giám đốc công ty cổ phần D1) nói "bắt được thằng ăn trộm dầu ở khu vực cầu sắt đi vào", nghe vậy H1 cùng với Trương Văn T, Lê Y L1 và Hồ Sỹ H3 (đều là nhân viên bảo vệ của công ty D1) lên xe bán tải đi đến chỗ D. Khi đến nơi gặp L2, H3 đang đứng trước đầu xe mô tô của D, lúc này trên xe mô tô của D không có dầu nên H1 và T yêu cầu D nói ra chỗ cất giấu dầu thì D nói không có lấy trộm dầu của công ty mà đang đi đuổi bắt con heo bị xổng. Lúc này, mọi người đi xung quanh tìm dầu nhưng không thấy nên quay lại chỗ D, Hồ Sỹ H3 hỏi D “mày giấu dầu ở đâu”, D trả lời “em không có lấy trộm dầu”, Hồ Sỹ H3 dùng cùi chỏ tay phải đánh một phát trúng vào mặt của D, làm D chảy máu miệng, rồi cùng những người khác tiếp tục đi tìm dầu. Khoảng 10 phút sau thì T và H1 quay lại mời D lên xe về Văn phòng của công ty I để làm việc thì D đi cùng H1, L1, T và H3 về Văn phòng công ty I.
Khoảng 20 giờ 30 phút cùng ngày thì về đến Văn phòng công ty I, H1 gặp ông Võ Minh Q là Giám đốc điều hành công ty I, H1 nói với ông Q là “bắt được thằng nghi là trộm dầu”, ông Q nói “anh em cứ làm việc theo nhiệm vụ của mình” thì T, H1 và L1 đưa D vào Văn phòng để làm việc. Tại đây, L1 vừa ghi biên bản, vừa tham gia cùng H1 và T lần lượt tra hỏi D về việc D có trộm cắp dầu không và D cất giấu dầu ở đâu. Quá trình tra hỏi, do bực tức vì D không nhận lấy trộm dầu và khai chỗ cất giấu dầu nên L1 đã dùng tay đánh vào mặt và đầu của D. T làm việc với D và yêu cầu D khai ra chỗ cất giấu dầu nhưng D chỉ nhận đi đuổi heo nên T đã dùng chân đạp 01 cái vào đùi của D rồi dùng còng số 8 còng hai tay D lại. Sau đó H1, T, L1 tiếp tục tra hỏi D về việc trộm cắp dầu.
Đến khoảng 22 giờ cùng ngày, H1 nói T tháo còng cho D và yêu cầu L1 lập biên bản tạm giữ xe mô tô và điện thoại di động của D, sau đó cho D về hẹn đến 8 giờ sáng ngày 14/3/2023 lên công ty I làm việc. Lúc này T tháo còng, còn L1 lập biên bản vi phạm, tạm giữ 01 xe mô tô BKS 81U1-354.94, chìa khóa xe và 01 điện thoại Samsung của D rồi cho D về.
Ngày 14/3/2023, Trần Văn D đến Bệnh viện Q1 tỉnh Gia Lai điều trị đến ngày 17/3/2023, sau đó D tiếp tục điều trị tại Trung tâm y tế huyện Đ đến ngày 24/3/2023 thì xuất viện.
Ngày 20/3/2023, Trần Văn D đã làm đơn tố cáo gửi đến Công an xã I, huyện C để giải quyết vụ việc theo quy định.
Tại bản kết luận giám định pháp y về thương tích số 188 ngày 24/04/2023 của Trung tâm pháp y tỉnh G kết luận tỷ lệ tổn thương cơ thể do thương tích gây nên tại thời điểm giám định của Trần Văn D là 1%. Cơ chế hình thành thương tích do sự tác động trực tiếp, vật gây thương tích là sự tác động của vật tày.
- Giải quyết của Tòa án cấp sơ thẩm:
Tại bản án hình sơ thẩm số 09/2024/HSST ngày 26 tháng 02 năm 2024 của Tòa án nhân dân huyện Chư Prông, tỉnh Gia Lai đã quyết định:
Tuyên bố các bị cáo Trương Văn T phạm tội “Giữ người trái pháp luật”.
Áp dụng khoản 1 Điều 157; điểm i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38; Điều 50; Điều 58 của Bộ luật Hình sự.
Xử phạt bị cáo Trương Văn T 09 (Chín) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày bị cáo chấp hành án.
Ngoài ra, Tòa án cấp sơ thẩm còn quyết định tội danh, hình phạt đối với các bị cáo Lê Y L1 và Trần H1, về xử lý vật chứng, nghĩa vụ chịu án phí và quyền kháng cáo theo luật định.
- Về kháng cáo:
Ngày 07/3/2024, bị cáo Trương Văn T kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt và cho bị cáo hưởng án treo.
- Diễn biến tại phiên tòa phúc thẩm:
Tại phiên tòa phúc thẩm bị cáo giữ nguyên nội dung kháng cáo.
Kiểm sát viên đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ điểm a khoản 1 Điều 355, Điều 356 của Bộ luật Tố tụng hình sự, không chấp nhận kháng cáo của bị cáo và giữ nguyên bản án hình sự sơ thẩm.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Đơn kháng cáo của các bị cáo Trương Văn T trong hạn luật định, nội dung kháng cáo thuộc phạm vi giải quyết của Toà án cấp phúc thẩm, nên được xem xét.
[2] Về hành vi phạm tội: Bị cáo khai nhận: Khoảng 20 giờ 30 phút ngày 13/3/2023, do nghi anh Trần Văn D là người trộm dầu nên T, H1 và L1 đưa D vào Văn phòng công ty I để làm việc. Tại đây, L1 vừa ghi biên bản, vừa tham gia cùng H1 và T lần lượt tra hỏi D về việc có trộm cắp dầu và cất giấu dầu ở đâu không. Quá trình tra hỏi, do bực tức vì D không nhận nên L1 đã dùng tay đánh vào mặt và đầu của D. T làm việc với D và yêu cầu D khai ra chỗ cất giấu dầu nhưng D cũng không thừa nhận, nên T đã dùng chân đạp 01 cái vào đùi của D rồi dùng còng số tám còng hai tay D lại không cho đi đâu. Sau đó H1, T, L1 tiếp tục tra hỏi. Đến khoảng 22 giờ cùng ngày, H1 nói T tháo còng cho D sau đó cho D về.
Hành vi của các bị cáo đã xâm phạm đến quyền bất khả xâm phạm về thân thể, quyền tự do cá nhân của anh D, do đó, Tòa án cấp sơ thẩm tuyên xử các bị cáo Trương Văn T, Trần H1 và Lê Y L1 về tội “Giữ người trái pháp luật” theo khoản 1 Điều 157 của Bộ luật Hình sự là có căn cứ, đúng quy định pháp luật.
[2] Xét kháng cáo của bị cáo:
Trong vụ án này bị cáo T là người có hành vi dùng chân đạp vào đùi anh D và là người có hành vi dùng còng số 8 còng hai tay D không cho đi đâu để tra hỏi đến khoảng 22 giờ cùng ngày mới tháo còng cho anh D. Bị cáo là người vai trò chính, tích cực hơn các bị cáo khác trong vụ án.
Quá trình xét xử tòa án cấp sơ thẩm đánh giá đúng tính chất vụ án, mức độ hành vi phạm tội của bị cáo và xét bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải;
phạm tội lần đầu thuộc trường hợp ít nghiêm trọng; được bị hại xin giảm nhẹ hình phạt; gia đình có người thân có công với cách mạng và áp dụng đầy đủ các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 xử phạt bị cáo mức án 09 thàng tù là phù hợp.
Tại giai đoạn xét xử phúc thẩm mặc dù bị cáo giao nộp 01 đơn xác nhận của chính quyền địa phương về hoàn cảnh khó khăn, là lao động chính trong gia đình và 01 Biên lai thu tiền thể hiện bị cáo đã thi hành xong án phí mà bản án sơ thẩm đã tuyên, đây là các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự tại khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự. Tuy nhiên, mức hình phạt Tòa sơ thẩm áp dụng đối với bị cáo là tương xứng với tính chất mức độ và ành vi phạm tội của bị cáo. Do đó không có cơ sở chấp nhận kháng cáo của bị cáo, giữ nguyên bản án sơ thẩm.
[3] Về án phí: Do kháng cáo không được chấp nhận nên bị cáo phải chịu án phí hình sự phúc thẩm.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH
1. Căn cứ vào điểm a khoản 1 Điều 355, Điều 356 của Bộ luật Tố tụng hình sự,
Không chấp nhận kháng cáo của bị cáo Trương Văn T, giữ nguyên bản án hình sự sơ thẩm số 09/2024/HS-ST ngày 26 tháng 02 năm 2024 của Tòa án nhân dân huyện Chư Prông, tỉnh Gia Lai.
Áp dụng khoản 1 Điều 157; điểm i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38; Điều 50; Điều 58 của Bộ luật Hình sự.
Xử phạt bị cáo Trương Văn T 09 (Chín) tháng tù về tội “Giữ người trái pháp luật”. Thời hạn tù tính từ ngày bị cáo chấp hành án.
2. Căn cứ khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội, quy định về án phí, lệ phí tòa án:
Bị cáo Trương Văn T phải chịu 200.000 đồng (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự phúc thẩm.
3. Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
4. Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM Thẩm phán - chủ tọa phiên toà Nguyễn Văn Sinh |
Bản án số 30/2024/HSPT ngày 19/06/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH GIA LAI về giữ người trái pháp luật
- Số bản án: 30/2024/HSPT
- Quan hệ pháp luật: Giữ người trái pháp luật
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 19/06/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH GIA LAI
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Giữ nguyên bản án HSST
