|
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THUỶ NGUYÊN THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG |
CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
|
Bản án số: 30/2024/DS-ST Ngày 18-7-2024 V/v tranh chấp hợp đồng tín dụng |
|
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THUỶ NGUYÊN, THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Vũ Thị Hằng
Các Hội thẩm nhân dân.
Ông Doãn Văn Sáng
Ông Phạm Văn Sóng.
- Thư ký phiên tòa: Bà Trần Thị Hậu - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Thủy Nguyên, thành phố Hải Phòng.
- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân huyện Thủy Nguyên, thành phố Hải Phòng tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Vân - Kiểm sát viên.
Ngày 18 tháng 7 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Thủy Nguyên, thành phố Hải Phòng xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 13/2024/TLST-DS ngày 31 tháng 01 năm 2024 về việc tranh chấp hợp đồng tín dụng theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 37/2024/QĐXXST-DS ngày 31 tháng 5 năm 2024 và Q hoãn phiên tòa số 60/2024/QĐST-DS ngày 01 tháng 7 năm 2024 giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Ngân hàng Thương mại Cổ phần Q1 (viết tắt là V); địa chỉ trụ sở: Tầng A (tầng trệt) và tầng 2, tòa nhà S P, phường B, quận A, thành phố Hồ Chí Minh. Người đại diện hợp pháp: Bà Nguyễn Thị Y, bà Nguyễn Bích N, bà Hoàng Thị H, địa chỉ: Tầng D, Tòa nhà C, số D T, quận Đ, thành phố Hà Nội - Cán bộ Ngân hàng TMCP Q1 (Văn bản ủy quyền số 010154.24 ngày 09/01/2024). Bà Nguyễn Thị Y, bà Nguyễn Bích N đều vắng mặt, bà Hoàng Thị H có mặt.
- Bị đơn: Ông Nguyễn Đức T và bà Nguyễn Thị H1, đều trú tại: Thôn C (nay là thôn B), xã A, huyện T, thành phố Hải Phòng. Ông Nguyễn Đức T, bà Nguyễn Thị H1 đều vắng mặt.
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
- + Ông Nguyễn Đức C, địa chỉ đăng ký hộ khẩu thường trú: Thôn C (nay là thôn B), xã A, huyện T, thành phố Hải Phòng, hiện đang chấp hành án phạt tù tại đội 5, phân trại số B, Trại giam X1, Cục C1, Bộ C2, địa chỉ tại xã L, huyện T, thành phố Hải Phòng. Ông Nguyễn Đức C xin vắng mặt.
- + Chị Nguyễn Thị L, nơi cư trú: Thôn P, xã P, huyện T, thành phố H. Chị Nguyễn Thị L vắng mặt.
- + Chị Nguyễn Thị H2, nơi cư trú: Ngõ B, thôn C, xã A, huyện A, thành phố Hải Phòng. Chị Nguyễn Thị H2 vắng mặt.
- + Anh Nguyễn Đức K, nơi cư trú: Thôn B, xã A, huyện T, thành phố Hải Phòng. Anh Nguyễn Đức K vắng mặt.
- + Bà Võ Thị Thanh X, nơi cư trú: Thôn B, xã A, huyện T, thành phố Hải Phòng. Bà Võ Thị Thanh X vắng mặt.
- + Cụ Phạm Thị P, nơi cư trú: Thôn B, xã A, huyện T, thành phố Hải Phòng. Cụ Phạm Thị P vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo đơn khởi kiện, lời khai trong quá trình giải quyết vụ án và tại phiên tòa nguyên đơn là Ngân hàng Thương mại Cổ phần Q1 do người đại diện hợp pháp của nguyên đơn trình bày:
Ngân hàng Thương mại Cổ phần Q1 cho ông Nguyễn Đức T và bà Nguyễn Thị H1 vay vốn theo các hợp đồng tín dụng như sau:
1. Hợp đồng tín dụng số 1458112.23 ngày 09/5/2023 với nội dung: VIB cho ông bà số tiền 1.150.000.000 đồng; mục đích vay vốn: sửa chữa nhà không làm thay đổi kết cấu tại địa chỉ thôn C, xã A, huyện T, thành phố Hải Phòng; thời hạn vay 180 tháng, từ ngày 19/5/2023 đến ngày 18/05/2038; lãi suất và kỳ điều chỉnh lãi suất: Lãi suất tại thời điểm giải ngân: 12,5%/năm, lãi suất này là lãi suất ưu đãi (so với lãi suất không ưu đãi là 13,9%/năm) và chỉ được áp dụng trong 12 tháng đầu tiên kể từ ngày giải ngân khoản tín dụng. Hết thời hạn ưu đãi nói trên, lãi suất sẽ được điều chỉnh lại 03 tháng một lần bằng lãi suất cơ sở theo sản phẩm cộng biên độ 4,1%/năm.
Phương thức trả nợ gốc và tiền lãi theo định kỳ 01 tháng/lần vào ngày 15, kỳ trả nợ gốc, lãi đầu tiên vào ngày 15/6/2023. Số tiền nợ gốc hàng tháng phải trả là 6.389.000 đồng, số tiền nợ lãi hàng tháng phải trả tính trên tổng số nợ gốc còn lại.
Lãi suất quá hạn bằng 150% mức lãi suất cho vay trong hạn áp dụng tại thời điểm chuyển nợ quá hạn (không tính theo lãi suất ưu đãi), và được tính từ ngày khoản tiền dư nợ gốc đó cho đến hạn phải thanh toán cho đến ngày bên được cấp tín dụng thanh toán đầy đủ khoản tiền dư nợ gốc đó cho V.
Lãi suất chậm trả: Bất kỳ khoản tiền lãi nào theo tài liệu vay vốn đến hạn phải thanh toán mà bên được cấp tín dụng chưa thanh toán cho V sẽ chịu mức lãi suất chậm trả bằng 10%/năm tính trên khoản tiền lãi chậm trả từ ngày khoản tiền lãi đó đến hạn phải thanh toán cho đến ngày bên được cấp tín dụng thanh toán đầy đủ khoản lãi đó cho V.
Phương thức giải ngân: Tiền mặt.
Quá trình thực hiện hợp đồng, ông Nguyễn Đức T và bà Nguyễn Thị H1 đã trả cho Ngân hàng được:
- - Số nợ gốc: 19.167.000 đồng
- - Số nợ lãi trong hạn: 34.850.583 đồng.
- - Số nợ lãi quá hạn: 52.627 đồng.
- - Số nợ lãi phạt chậm trả: 0 đồng.
- Tổng cộng: 54.070.210 đồng.
Thời điểm vi phạm nghĩa vụ trả nợ: Ngày 15/09/2023.
Hiện nay, tính đến ngày 18/7/2024 ông Nguyễn Đức T và bà Nguyễn Thị H1 còn nợ như sau:
- - Số nợ gốc: 1.130.833.000 đồng.
- - Số nợ lãi trong hạn: 72.558.690 đồng.
- - Số nợ lãi quá hạn: 106.592.173 đồng.
- - Số nợ lãi phạt chậm trả: 0 đồng.
- Tổng cộng: 1.309.983.863 đồng.
2. Đề nghị phát hành thẻ tín dụng ngày 26/4/2023, loại thẻ VIB Travel Éllte:
Ngày 14 tháng 4 năm 2023 ông Nguyễn Đức T ký giấy đề nghị kiêm hợp đồng phát hành và sử dụng thẻ áp dụng cho khách hàng cá nhân kèm theo bản các điều khoản và điều kiện sử dụng thẻ tín dụng quốc tế của Ngân hàng Thương mại Cổ phần Q1, hạn mức tín dụng là 110.000.000 đồng kèm theo khoản vay theo Hợp đồng tín dụng số 1458112.23 ngày 09/5/2023 (quy định tại mục 2.1 Điều 2 phần nghĩa vụ được bảo đảm tại Hợp đồng thế chấp số 544.GĐTC1.068.23 ngày 09/5/2023), không có thời hạn, hạn mức tín dụng được cấp thông qua hình thức phát hành thẻ cho chủ thẻ để thực hiện các giao dịch mua hàng hóa, dịch vụ và ứng tiền mặt; mục đích sử dụng tiêu dùng; phí theo quy định về biểu phí, lãi suất, số lượng thẻ và hạn mức giao dịch đối với thẻ do Ngân hàng Q1 phát hành. Ngày 26 tháng 4 năm 2023, Ngân hàng Thương mại Cổ phần Q1 cấp thẻ tín dụng quốc tế V cho ông Nguyễn Đức T.
Trong quá trình sử dụng thẻ tín dụng ông Nguyễn Đức T được rút tiền mặt hoặc sử dụng tiêu dùng trong tháng. Hàng tháng Ngân hàng Thương mại Cổ phần Q1 sẽ lập bảng thông báo giao dịch thẻ tín dụng liệt kê chi tiết các giao dịch thẻ, phí, lãi phát sinh trong kỳ giao dịch lần trước, tổng số dư nợ, số tiền đã thanh toán, số dư nợ đầu kỳ, số dư nợ cuối kỳ, số tiền thanh toán tối thiểu và ngày thanh toán số tiền thanh toán tối thiểu. Ngân hàng Thương mại Cổ phần Q1 sẽ gửi thông báo giao dịch thẻ tín dụng qua số điện thoại hoặc App MyVIB cho ông Nguyễn Đức T.
Nếu quá thời hạn theo thông báo mà ông Nguyễn Đức T không thanh toán hoặc thanh toán không đầy đủ số tiền mà Ngân hàng Thương mại Cổ phần Q1 đã thông báo thì ông Nguyễn Đức T sẽ phải chịu lãi, phí của số tiền đã sử dụng hoặc đã rút. Đối với giao dịch rút tiền mặt thì tiền phí rút tiền mặt là 4% trên tổng số tiền rút một lần, tối thiểu là 100.000 đồng/1 lần rút tiền. Đối với giao dịch sử dụng cho mục đích tiêu dùng thì 3 kỳ sao kê đầu (trong 45 ngày) lãi là 0%, hết 45 ngày mà chủ sử dụng thẻ không trả tiền thì lãi suất là 28%/năm. Chủ sử dụng thẻ phải chịu các loại phí, khách hàng vi phạm phí nào thì phải chịu phí đấy (sẽ kèm theo biểu phí và bảng sao kê kèm theo).
Do ông Nguyễn Đức T đã vi phạm nghĩa vụ thanh toán nên ngày 16 tháng 10 năm 2023 Ngân hàng Thương mại Cổ phần Q1 đã chuyển khoản vay của ông Nguyễn Đức T sang nợ quá hạn đồng thời chấm dứt việc sử dụng thẻ của ông Nguyễn Đức T và thu hồi toàn bộ khoản nợ của thẻ tín dụng chưa thanh toán.
Sau khi khách hàng vi phạm việc thanh toán thẻ tín dụng, ông Nguyễn Đức T chưa thanh toán trả tiếp bất kỳ số tiền nào.
Tính đến ngày 18 tháng 7 năm 2024, ông Nguyễn Đức T còn nợ Ngân hàng Thương mại Cổ phần Q1 số tiền nợ gốc là 109.582.448 đồng, số tiền nợ lãi là 34.794.603 đồng; số tiền nợ phí là 20.309.586. Tổng cộng là 164.686.637 đồng.
Hiện nay, tính đến ngày 18/7/2024, ông Nguyễn Đức T và bà Nguyễn Thị H1 còn nợ cho cả hai khoản vay như sau:
- - Số nợ gốc: 1.240.415.448 đồng.
- - Số nợ lãi và phí: 234.255.052 đồng.
- Tổng cộng: 1.474.670.500 đồng.
Tài sản bảo đảm cho các khoản vay nêu trên là: Tài sản bảo đảm cho khoản vay: Quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất tại thửa đất số 3575, tờ bản đồ số 04, địa chỉ thôn C, xã A, huyện T, thành phố Hải Phòng theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số DI 937153, số vào sổ cấp giấy chứng nhận CS 01010 do Sở tài nguyên và môi trường thành phố H cấp ngày 06/01/2023 đứng tên ông Nguyễn Đức T.
Tài sản này được thế chấp tại VIB theo Hợp đồng thế chấp số công chứng 6182/HĐTC/2023, quyển số 03 TP/CC-SCC/HĐGD do Văn phòng C3, thành phố Hải Phòng công chứng ngày 09/05/2023. Việc thế chấp và đăng ký giao dịch bảo đảm theo đúng quy định của pháp luật.
Mọi công trình, tài sản khác được cải tạo, xây dựng gắn liền với thửa đất nêu trên đều thuộc tài sản đảm bảo cho khoản vay.
Nay, VIB yêu cầu Toà án giải quyết:
-
- Buộc ông Nguyễn Đức T và bà Nguyễn Thị H1 phải thanh toán cho VIB ngay
sau khi Bản án có hiệu lực thi hành, số tiền tạm tính đến ngày 18/7/2024:
1.474.670.500 đồng, cụ thể:
- + Hợp đồng tín dụng số 1458112.23 ngày 09/5/2023: Số nợ gốc: 1.130.833.000 đồng, số nợ lãi trong hạn: 72.558.690 đồng, số nợ lãi quá hạn: 106.592.173 đồng, số nợ lãi phạt chậm trả: 0 đồng. Tổng cộng: 1.309.983.863 đồng.
- + Thẻ tín dụng: Số tiền nợ gốc là 109.582.448 đồng, số tiền nợ lãi là 34.794.603 đồng; số tiền nợ phí là 20.309.586. Tổng cộng là 164.686.637 đồng.
- Kể từ ngày 19/7/2024 cho đến khi thi hành án xong, ông Nguyễn Đức T và bà Nguyễn Thị H1 còn phải chịu số tiền lãi của số tiền còn phải thi hành theo mức lãi suất các bên thỏa thuận trong hợp đồng tín dụng nhưng phải phù hợp với quy định của pháp luật. Trường hợp trong hợp đồng tín dụng, các bên có thỏa thuận về việc điều chỉnh lãi suất cho vay theo từng thời kỳ của Ngân hàng cho vay thì lãi suất mà khách hàng vay phải tiếp tục thanh toán cho Ngân hàng cho vay theo quyết định của Tòa án cũng sẽ được điều chỉnh cho phù hợp với sự điều chỉnh lãi suất của Ngân hàng cho vay.
- Trong trường hợp ông Nguyễn Đức T và bà Nguyễn Thị H1 không thực hiện hoặc thực hiện không đầy đủ nghĩa vụ trả nợ cho V đề nghị Toà án tuyên VIB có quyền được tự phát mại tài sản bảo đảm hoặc yêu cầu cơ quan có thẩm quyền kê biên, phát mại tài sản bảo đảm, cụ thể: Quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất tại thửa đất số 3575, tờ bản đồ số 04, địa chỉ thôn C, xã A, huyện T, thành phố Hải Phòng theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số DI 937153, số vào sổ cấp giấy chứng nhận CS 01010 do Sở tài nguyên và môi trường thành phố H cấp ngày 06/1/2023 đứng tên ông Nguyễn Đức T
- Trường hợp số tiền có được từ việc phát mại tài sản thế chấp sau khi thanh toán hết nghĩa vụ trả nợ cho Ngân hàng Thương mại Cổ phần Q1 thì số tiền còn thừa phải được trả lại cho bên thế chấp là ông Nguyễn Đức T. Trường hợp số tiền có được từ việc phát mại tài sản thế chấp không đủ để thực hiện nghĩa vụ trả nợ cho Ngân hàng Thương mại Cổ phần Q1 thì ông Nguyễn Đức T và bà Nguyễn Thị H1 phải có nghĩa vụ trả hết nợ cho Ngân hàng Thương mại Cổ phần Q1.
- Về chi phí tố tụng: Bị đơn ông Nguyễn Đức T và bà Nguyễn Thị H1 phải chịu toàn bộ theo quy định của pháp luật.
- Về án phí: Bị đơn ông Nguyễn Đức T và bà Nguyễn Thị H1 phải chịu toàn bộ án phí dân sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Theo bản tự khai, trong quá trình giải quyết vụ án và tại phiên tòa bị đơn – ông Nguyễn Đức T và bà Nguyễn Thị H1 trình bày:
Ông Nguyễn Đức T và bà Nguyễn Thị H1 đồng ý với lời trình bày của Ngân hàng về khoản nợ vợ chồng ông bà đã vay của Ngân hàng Thương mại Cổ phần Q1 như trên theo các hợp đồng tín dụng mà đại diện hợp pháp của Ngân hàng Thương mại Cổ phần Q1 đã trình bày.
Tuy nhiên theo ông Nguyễn Đức T trình bày tại biên bản hoà giải ngày 31/5/2024: Khoản nợ theo Hợp đồng tín dụng số 1458112.23 ngày 09/5/2023 là khoản nợ chung của vợ chồng còn đề nghị phát hành thẻ tín dụng ngày 26/4/2023, loại thẻ VIB Travel Éllte là khoản nợ riêng của ông Nguyễn Đức T, không sử dụng chung vào mục đích gia đình, tự cá nhân vay. Nay Ngân hàng buộc vợ chồng ông bà phải trả số tiền tạm tính đến ngày 31/5/2024: 1.435.402.047 đồng, cụ thể:
- + Hợp đồng tín dụng số 1458112.23 ngày 09/5/2023: Số nợ gốc: 1.130.833.000 đồng; Số nợ lãi trong hạn: 72.558.690 đồng; Số nợ lãi quá hạn: 73.069.986 đồng; Số nợ lãi phạt chậm trả: 0 đồng. Tổng cộng: 1.276.461.676 đồng.
- + Thẻ tín dụng: Số tiền nợ gốc là 109.582.448 đồng, số tiền nợ lãi là 31.118.337 đồng; số tiền nợ phí là 18.239.586. Tổng cộng là 158.940.371 đồng.
Ông Nguyễn Đức T chỉ đồng ý vợ chồng ông bà cùng trả khoản nợ theo Hợp đồng tín dụng số 1458112.23 ngày 09/5/2023, còn khoản nợ theo đề nghị phát hành thẻ tín dụng ngày 26/4/2023, loại thẻ VIB Travel Éllte thì ông không đồng ý buộc cả hai vợ chồng phải trả mà chỉ riêng một mình ông T phải trả.
Ông Nguyễn Đức T đồng ý vợ chồng ông tiếp tục trả lãi, lãi quá hạn kể từ ngày 01/6/2024 cho Ngân hàng Thương mại Cổ phần Q1 cho đến khi vợ chồng ông thanh toán xong toàn bộ khoản nợ theo quy định tại hợp đồng tín dụng số 1458112.23 ngày 09/5/2023, khế ước nhận nợ đã ký. Còn đối với khoản nợ tại đề nghị phát hành thẻ tín dụng ngày 26/4/2023, loại thẻ VIB Travel Éllte thì ông chỉ đồng ý một mình ông tiếp tục trả lãi, phí kể từ ngày 01/6/2024 cho Ngân hàng cho đến khi ông thanh toán xong toàn bộ khoản nợ theo quy định tại thẻ tín dụng.
Đối với việc phát mại tài sản trên đất: Ông Nguyễn Đức T đồng ý phát mại toàn bộ tài sản như Ngân hàng đã yêu cầu trừ bờ tường bao khoảng 2 m², trên bờ tường bao là rào sắt, mái tôn giữa nhà ông với nhà bố ông. Phía sau nhà ông Nguyễn Đức T ở dưới phần đất có một phần bể bioga của bố mẹ ông, ông không nhớ xây dựng năm nào, không biết giá trị là bao nhiêu. Ông không có tài liệu chứng cứ gì chứng minh là có bể bioga vì bể này là do bố mẹ ông làm và ở dưới lòng đất nên đã bị che phủ hết đi. Bể bioga lấn vào phần đất của ông khoảng hơn 1 m chiều dài, chiều ngang là hết đất. Bể bioga chiều sâu từ 4 m đến 5m. Ông Nguyễn Đức T đồng ý phát mại tài sản và không yêu cầu trả lại phần giá trị một phần của bể bioga. Khi Ngân hàng xem xét thẩm định tài sản để cho vay, ông Nguyễn Đức T không trình bày với Ngân hàng về việc có một phần bể bioga ở dưới lòng đất.
Ngoài ra, toàn bộ tài sản trên diện tích thửa đất số 3575, tờ bản đồ số 04, địa chỉ thôn C (nay là thôn B), xã A, huyện T, thành phố Hải Phòng theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số DI 937153, số vào sổ cấp giấy chứng nhận CS 01010 do Sở tài nguyên và môi trường thành phố H cấp ngày 06/1/2023 đứng tên ông Nguyễn Đức T (trừ bờ tường bao diện tích 2 m² và một phần bể bioga), do vợ chồng ông T tạo lập. Tài sản trên đất gồm: 01 ngôi nhà diện tích khoảng 160 m², xây dựng năm 2022; bờ tường bao xây dựng năm 2023. Giá trị ngôi nhà hiện nay khoảng từ 1,7 tỷ đồng đến 1,8 tỷ đồng; bờ tường giá trị hiện nay khoảng từ 20 triệu đồng đến 30 triệu đồng. Ông Nguyễn Đức T không đồng ý phát mại tài sản trên đất vì đây là tài sản chung của vợ chồng ông. Nếu phát mại tài sản trên đất thì phải trả cho vợ ông là bà Nguyễn Thị H1 một ½ giá trị tài sản trên đất.
Bố ông Nguyễn Đức T là ông Nguyễn Đức C và bà Trần Thị T1. Bà T1 đã chết năm 2005, còn ông Nguyễn Đức C đang chấp hành án phạt tù tại Trại giam X1, địa chỉ: Xã L, huyện T, thành phố Hải Phòng. Ông C và bà T1 có 4 người con là: Ông Nguyễn Đức T, chị Nguyễn Thị L, chị Nguyễn Thị H2, anh Nguyễn Đức K. Năm 2018, ông C kết hôn với bà Võ Thị Thanh X. Bố mẹ bà T1 là cụ Trần Văn Đ và cụ Phạm Thị P, cụ Đ đã chết từ lâu, chết trước bà T1. Hiện nay, anh Nguyễn Đức K và bà Võ Thị Thanh X đang quản lý, sinh sống trên tài sản của ông Nguyễn Đức C, bà Trần Thị T1.
Về chi phi tố tụng và án phí: Ông Nguyễn Đức T không có ý kiến gì.
Tại bản tự khai ngày 16 tháng 02 năm 2024, bà Nguyễn Thị H1 trình bày: Bà đồng ý với yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng Thương mại Cổ phần Q1 là: Buộc ông Nguyễn Đức T và bà Nguyễn Thị H1 phải thanh toán cho Ngân hàng TMCP Q1 ngay sau khi bản án/quyết định có hiệu lực thi hành, số tiền tạm tính đến ngày 09/01/2024 là 1.318.226.423 đồng. Ngân hàng TMCP Q1 được tiếp tục lãi quá hạn kể từ ngày 10/01/2024 cho đến khi ông Nguyễn Đức T và bà Nguyễn Thị H1 thanh toán xong toàn bộ khoản nợ theo quy định tại các hợp đồng tín dụng, khế ước nhận nợ đã ký. Trong trường hợp ông Nguyễn Đức T và bà Nguyễn Thị H1 không thực hiện hoặc thực hiện không đầy đủ nghĩa vụ trả nợ cho V đề nghị Toà án tuyên VIB có quyền được tự phát mại tài sản bảo đảm hoặc yêu cầu cơ quan có thẩm quyền kê biên, phát mại tài sản bảo đảm, cụ thể: Quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất tại thửa đất số 3575, tờ bản đồ số 04, địa chỉ thôn C, xã A, huyện T, thành phố Hải Phòng theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số DI 937153, số vào sổ cấp giấy chứng nhận CS 01010 do Sở tài nguyên và môi trường thành phố H cấp ngày 06/1/2023 đứng tên ông Nguyễn Đức T.
Toàn bộ số tiền thu được từ việc xử lý tài sản đảm bảo được dùng để thanh toán nghĩa vụ trả nợ cho bên vay vốn với V. Trường hợp nếu số tiền thu được từ xử lý tài sản đảm bảo không đủ để thanh toán hết nợ thì bên vay vốn vẫn phải có nghĩa vụ trả hết khoản nợ còn lại cho V.
Theo biên bản lấy lời khai ngày 10 tháng 4 năm 2024 của người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan ông Nguyễn Đức C trình bày:
Ông là bố đẻ của anh Nguyễn Đức T. Vợ trước của ông là bà Trần Thị T1, chết năm 2005. Ông và bà T1 có 4 người con chung là: Anh Trần Đức T2, chị Nguyễn Thị L, chị Nguyễn Thị H2 và anh Nguyễn Đức K. Vợ thứ hai của ông là bà Võ Thị Thanh X, kết hôn năm 2018. Bố mẹ vợ ông là cụ Trần Văn Đ, chết trước bà T1, mẹ vợ ông vẫn còn sống. Bờ tường bao khoảng 2 m², trên bờ tường bao là rào sắt và mái tôn giáp nhà anh Nguyễn Đức T (chiều dài khoảng 9,8 m, diện tích khoảng 2m²) là do ông Nguyễn Đức C xây dựng năm 2017. Bờ tường bao do một mình ông C xây dựng, không liên quan đến ai. Ông không rõ bờ tường bao trị giá bao nhiêu. Ông không đồng ý phát mại bờ tường bao của nhà ông. Bể bioga của nhà ông xây dựng năm 2003, không lấn sang đất của anh T, nằm trọn trong đất của nhà ông. Hồ sơ xây dựng tường bao và bể bioga ông không có, ông xây dựng tự phát, không được cấp phép của cơ quan có thẩm quyền. Hồ sơ hợp đồng tặng cho đất của ông cho anh Nguyễn Đức T là hợp pháp, ông tự nguyện cho anh Nguyễn Đức T 364,5m² đất theo như giấy chứng nhận quyền sử dụng đất là đúng.
Theo biên bản lấy lời khai ngày 19/4/2024, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan anh Nguyễn Đức K trình bày:
Đối với bờ tường bao khoảng 2 m², trên bờ tường bao là rào sắt, mái tôn giữa nhà anh Nguyễn Đức T với nhà bố anh thì anh xác định là do bố anh xây dựng như bố anh trình bày năm 2017, không phải là do bố mẹ anh xây dựng. Hiện tại anh và dì (vợ hai của bố anh) là bà Võ Thị Thanh X đang quản lý, sử dụng bờ tường bao trên. Anh đồng ý với ý kiến của bố anh là không đồng ý phát mại bờ tường bao. Đối với bể bioga do bố mẹ anh xây dựng nhưng anh không biết có lấn sang phần đất của anh T không vì bể bioga chìm dưới đất.
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan bà Võ Thị Thanh X trình bày: Bà hiện nay đang quản lý toàn bộ tài sản của ông Nguyễn Đức C và bà Nguyễn Thị T3, bà không liên quan đến việc xây dựng bờ tường bao giáp nhà anh Nguyễn Đức T.
Đối với người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan chị Nguyễn Thị L, chị Nguyễn Thị H2 và cụ Phạm Thị P:
Tòa án nhân dân huyện Thủy Nguyên, thành phố Hải Phòng đã tống đạt các văn bản tố tụng cho chị Nguyễn Thị L, chị Nguyễn Thị H2 và cụ Phạm Thị P theo đúng quy định pháp luật. Tuy nhiên, chị Nguyễn Thị L, chị Nguyễn Thị H2 và cụ Phạm Thị P không có ý kiến gì khi Ngân hàng đề nghị phát mại tài sản thế chấp đối với những vấn đề liên quan đến bờ tường bao của ông Nguyễn Đức C và một phần bể bioga của ông Nguyễn Đức C, bà Nguyễn Thị T3.
Kết quả xem xét thẩm định tại chỗ: Diện tích đất thế chấp giữ nguyên hiện trạng so với giấy chứng nhận quyền sử dụng đất. Trên diện tích đất thế chấp có tài sản sau: Sân đổ đá mạt; 01 nhà ở riêng lẻ cấp bốn, một tầng, kết cấu tường gạch có trát, chưa sơn, cửa gỗ, trần ốp gỗ, mái bê tông cốt thép xây dựng năm 2021; tường bao giáp ngõ xây gạch bê tông, không trát, cổng hai trụ gạch bê tông (Toàn bộ hiện trạng đất và tài sản trên đất có sơ đồ đo vẽ kèm theo).
Kết quả định giá tài sản: Tường bao xây gạch ba banh cao khoảng 1,1 m trị giá 1.176.000 đồng; 01 đoạn hàng rào mắt cáo, khung kẽm ở phía trên tường bao xây ba banh trị giá 4.900.000 đồng; 01 đoạn lán tôn mạ màu khung kẽm rộng khoảng 15cm phía trên tường bao xây ba banh, trị giá 1.234.800 đồng. Tổng cộng là 7.310.000 đồng.
Phát biểu của Kiểm sát viên Viện kiểm sát nhân dân huyện Thủy Nguyên, thành phố Hải Phòng tại phiên tòa:
- - Về việc tuân theo pháp luật tố tụng của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa và của người tham gia tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án kể từ khi thụ lý cho đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án và ý kiến về việc giải quyết vụ án. Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa trong quá trình giải quyết vụ án đã tuân thủ đúng quy định của pháp luật tố tụng dân sự; nguyên đơn đã chấp hành đúng quy định của pháp luật tố tụng dân sự, bị đơn là anh Nguyễn Đức T đã cơ bản chấp hành đúng quy định của pháp luật tố tụng dân sự, bị đơn là chị Nguyễn Thị H1 và toàn bộ người có quyền lợi có nghĩa vụ liên quan (trừ ông Nguyễn Đức C) chưa chấp hành đúng quy định của pháp luật tố tụng dân sự.
-
- Về điều luật áp dụng: Kiểm sát viên đề nghị Tòa án:
- + Căn cứ vào khoản 3 Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, Điều 144, Điều 147, Điều 227, Điều 228, Điều 271 và Điều 273 Bộ luật Tố tụng dân sự;
- + Căn cứ vào các điều 116, 117, 118, 119, 280, 298, 299, 319, 320, 323, 463, 466 Bộ luật Dân sự;
- + Căn cứ vào khoản 2 Điều 91, Điều 95 của Luật Các tổ chức tín dụng;
- + Căn cứ vào khoản 1 Điều 37 của Luật Hôn nhân và gia đình;
- + Căn cứ vào khoản 2 Điều 26 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
- - Về yêu cầu khởi kiện: Đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn là Ngân hàng Thương mại Cổ phần Q1, buộc ông Nguyễn Đức T và bà Nguyễn Thị H1 phải trả cho Ngân hàng Thương mại Cổ phần Q1 số tiền nợ gốc, số tiền nợ lãi trong hạn, số tiền nợ lãi quá hạn, số tiền lãi chậm trả lãi tính đến ngày xét xử và và tiền lãi phát sinh từ ngày 19 tháng 7 năm 2024 cho đến khi thanh toán hết khoản nợ cho Ngân hàng Thương mại Cổ phần Q1.
- Trường hợp ông Nguyễn Đức T và bà Nguyễn Thị H1 không thực hiện nghĩa vụ trả nợ đề nghị phát mại tài thế chấp: Quyền sử dụng đất ở diện tích 364,5 m² và toàn bộ tài sản gắn liền với đất tại thửa đất số 3575, tờ bản đồ số 04, địa chỉ thôn C (nay là thôn B), xã A, huyện T, thành phố Hải Phòng theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số DI 937153, số vào sổ cấp giấy chứng nhận CS 01010 do Sở tài nguyên và môi trường thành phố H cấp ngày 06/1/2023 đứng tên ông Nguyễn Đức T để thực hiện nghĩa vụ bảo đảm cho khoản vay theo Hợp đồng tín dụng số 1458112.23 ngày 09/5/2023 được ký giữa Ngân hàng Thương mại Cổ phần Q1 và ông Nguyễn Đức T, bà Nguyễn Thị H1 và Hợp đồng tín dụng theo Đề nghị phát hành thẻ tín dụng ngày 26/4/2023, loại thẻ V được ký giữa Ngân hàng Thương mại Cổ phần Q1 và ông Nguyễn Đức T.
- Trường hợp số tiền có được từ việc phát mại tài sản thế chấp sau khi thanh toán hết nghĩa vụ trả nợ cho Ngân hàng Thương mại Cổ phần Q1 thì số tiền còn thừa phải được trả lại cho bên thế chấp là ông Nguyễn Đức T. Trường hợp số tiền có được từ việc phát mại tài sản thế chấp không đủ để thực hiện nghĩa vụ trả nợ cho Ngân hàng Thương mại Cổ phần Q1 thì ông Nguyễn Đức T và bà Nguyễn Thị H1 phải có nghĩa vụ trả hết nợ cho Ngân hàng Thương mại Cổ phần Q1.
- Về án phí và chi phí tố tụng khác: Ông Nguyễn Đức T và bà Nguyễn Thị H1 phải chịu án phí dân sự sơ thẩm và chi phí tố tụng khác theo quy định pháp luật.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Căn cứ vào tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án, đã được xem xét tại phiên toà, kết quả tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:
- Về tố tụng:
- Về việc vắng mặt của các đương sự: Bị đơn là ông Nguyễn Đức T, bà Nguyễn Thị H1 và toàn bộ người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan (trừ ông Nguyễn Đức C) vắng mặt không có lý do mặc dù đã được Tòa án triệu tập hợp lệ lần thứ hai. Vì vậy, Hội đồng xét xử căn cứ vào Điều 227 và Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự tiếp tục xét xử vụ án theo thủ tục chung vắng mặt những người này.
-
Về quan hệ pháp luật tranh chấp và thẩm quyền giải quyết vụ án:
- [2.1] Về quan hệ pháp luật tranh chấp: Theo hợp đồng tín dụng số 1458112.23 ngày 09/5/2023 giữa Ngân hàng Thương mại Cổ phần Q1 với ông Nguyễn Đức T và bà Nguyễn Thị H1 thể hiện: Mục đích sử dụng vay tiền để đáp ứng nhu cầu sửa chữa nhà không làm thay đổi kết cấu tại địa chỉ thôn C, xã A, huyện T, thành phố Hải Phòng. Chính vì vậy, căn cứ vào khoản 3 Điều 26 Bộ luật Tố tụng dân sự đây là tranh chấp dân sự.
- [2.2] Về thẩm quyền giải quyết vụ án: Bị đơn là ông Nguyễn Đức T và bà Nguyễn Thị H1 có nơi cư trú tại thôn C (nay là thôn B), xã A, huyện T, thành phố Hải Phòng nên vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Thủy Nguyên, thành phố Hải Phòng theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 35 và điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự.
- Về nội dung: Xét yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn:
-
Xét Hợp đồng tín dụng số 1458112.23 ngày 09/5/2023 được ký giữa Ngân
hàng TMCP Q1 và ông Nguyễn Đức T, bà Nguyễn Thị H1; Đề nghị phát hành thẻ tín
dụng ngày 26/4/2023, loại thẻ VIB Travel Éllte được ký giữa Ngân hàng Thương
mại Cổ phần Q1 và ông Nguyễn Đức T:
- [3.1] Các hợp đồng tín dụng nêu trên đều được các bên thừa nhận ký kết tự nguyện, có nội dung, mục đích và hình thức phù hợp quy định tại các điều 117, 118, 119 của Bộ luật Dân sự, Điều 91 của Luật Các tổ chức tín dụng và không trái đạo đức xã hội nên các hợp đồng tín dụng này có hiệu lực pháp luật, các bên phải thực hiện quyền và nghĩa vụ của mình đối với nhau theo nội dung đã thỏa thuận trong hợp đồng tín dụng.
- [3.2] Thực hiện hợp đồng tín dụng số 1458112.23 ngày 09/5/2023 Ngân hàng Thương mại Cổ phần Q1 đã giải ngân đủ số tiền vay là 1.150.000.000 đồng theo hình thức bằng tiền mặt cho ông Nguyễn Đức T và bà Nguyễn Thị H1. Thực hiện hợp đồng phát hành và sử dụng thẻ Ngân hàng Thương mại Cổ phần Q1 cấp thẻ tín dụng VIB Travel Éllte cho ông Nguyễn Đức T, hạn mức tín dụng là 110.000.000 đồng.
- [3.3] Ông Nguyễn Đức T và bà Nguyễn Thị H1 thừa nhận có ký hợp đồng tín dụng với Ngân hàng Thương mại Cổ phần Q1 như trên.
- [3.4] Hợp đồng tín dụng số 1458112.23 ngày 09/5/2023 đều được ký giữa Ngân hàng Thương mại Cổ phần Q1 và ông Nguyễn Đức T, bà Nguyễn Thị H1. Riêng Đề nghị phát hành thẻ tín dụng ngày 26/4/2023, loại thẻ VIB Travel Éllte giữa Ngân hàng TMCP Q1 với ông Nguyễn Đức T. Tại biên bản hoà giải ngày 31/5/2024, ông Nguyễn Đức T cho rằng: Ông Nguyễn Đức T chỉ đồng ý vợ chồng ông bà cùng trả khoản nợ theo Hợp đồng tín dụng số 1458112.23 ngày 09/5/2023, còn khoản nợ theo đề nghị phát hành thẻ tín dụng ngày 26/4/2023, loại thẻ VIB Travel Éllte thì ông không đồng ý buộc cả hai vợ chồng phải trả mà chỉ riêng một mình ông T phải trả. Tuy nhiên, tại biên bản lấy lời khai ngày 19/4/2024, ông Nguyễn Đức T đã xác nhận các khoản nợ theo hai hợp đồng tín dụng nêu trên là khoản nợ chung của vợ chồng.
- [3.5] Tại bản tự khai ngày 16 tháng 02 năm 2024, bà Nguyễn Thị H1 trình bày: Bà đồng ý với yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng Thương mại Cổ phần Q1 nên có thể hiểu là bà H1 đồng ý cùng với ông Nguyễn Đức T trả cho Ngân hàng TMCP Q1 các khoản nợ theo hai hợp đồng tín dụng mà Ngân hàng TMCP Q1 đang khởi kiện. Điều này thể hiện bà H1 xác nhận Hợp đồng tín dụng theo đề nghị phát hành thẻ tín dụng ngày 26/4/2023, loại thẻ VIB Travel Éllte ký giữa Ngân hàng TMCP Q1 và ông Nguyễn Đức T là khoản nợ chung của vợ chồng.
- [3.6] Mặt khác, tại đề nghị phát hành thẻ ngày 26/4/2023, loại thẻ VIB Travel Éllte ký giữa Ngân hàng TMCP Q1 và ông Nguyễn Đức T tại phần liên hệ khi cần là bà Nguyễn Thị H1 là vợ ông Nguyễn Đức T. Điều này thể hiện ông Nguyễn Đức T buộc phải nhận thức, biết được khi cần thiết Ngân hàng TMCP Q1 có thể hệ với bà Nguyễn Thị H1 và bà Nguyễn Thị H1 sẽ biết được khoản vay nợ của ông Nguyễn Đức T. Do đó, ý chí của ông Nguyễn Đức T khi ký đề nghị phát hành thẻ ngày 26/4/2023 xác định là nợ chung của vợ chồng. Ngoài ra, tại đơn đề nghị phát hành thẻ ngày 26/4/2023 xác định việc mở thẻ được áp dụng đối với khách hàng có khoản vay tại V mà việc vay nợ tại Hợp đồng tín dụng số 1458112.23 ngày 09/5/2023 được ký giữa VIB với cả ông Nguyễn Đức T và bà Nguyễn Thị H1.
- [3.7] Toà án đã ra Thông báo yêu cầu ông Nguyễn Đức T, bà Nguyễn Thị H1 có ý kiến gì về lời khai của ông Nguyễn Đức T tại biên bản lấy lời khai ngày 19/4/2024 và lời khai của ông Nguyễn Đức T tại biên bản hoà giải ngày 31/5/2024, lời khai của bà Nguyễn Thị H1 tại bản tự khai ngày 16/02/2024 và các tài liệu chứng cứ chứng minh cho lời khai của mình. Tuy nhiên, cho đến nay ông Nguyễn Đức T, bà Nguyễn Thị H1 vẫn không có ý kiến và không cung cấp tài liệu chứng cứ.
- [3.8] Như vậy, theo quy định tại khoản 1 Điều 37 của Luật Hôn nhân và gia đình thì ông Nguyễn Đức T, bà Nguyễn Thị H1 cùng phải có nghĩa vụ trả nợ cho Ngân hàng Thương mại Cổ phần Q1.
-
[3.9] Bị đơn là ông Nguyễn Đức T, bà Nguyễn Thị H1 đã vi phạm nghĩa vụ trả
nợ gốc và nợ lãi theo thỏa thuận trong hợp đồng tín dụng do đó Ngân hàng Thương
mại Cổ phần Q1 yêu cầu ông Nguyễn Đức T, bà Nguyễn Thị H1 phải trả số tiền còn
nợ của Hợp đồng tín dụng số 1458112.23 ngày 09/5/2023 đều được ký giữa Ngân
hàng Thương mại Cổ phần Q1 và ông Nguyễn Đức T, bà Nguyễn Thị H1 và đề nghị
phát hành thẻ tín dụng ngày 26/4/2023, loại thẻ VIB Travel Éllte giữa Ngân hàng
TMCP Q1 với ông Nguyễn Đức T là có căn cứ. Vì vậy căn cứ vào các điều 280, 463,
466 của Bộ luật Dân sự; Điều 95 của Luật Các tổ chức tín dụng chấp nhận yêu cầu
khởi kiện của Ngân hàng Thương mại Cổ phần Q1, buộc ông Nguyễn Đức T và bà
Nguyễn Thị H1 phải trả cho Ngân hàng Thương mại Cổ phần Q1 số tiền nợ tính đến
ngày 18/7/2024 là: 1.474.670.500 đồng, cụ thể:
- [3.9.1] Hợp đồng tín dụng số 1458112.23 ngày 09/5/2023: Số nợ gốc: 1.130.833.000 đồng, số nợ lãi trong hạn: 72.558.690 đồng, số nợ lãi quá hạn: 106.592.173 đồng, số nợ lãi phạt chậm trả: 0 đồng. Tổng cộng: 1.309.983.863 đồng.
- [3.9.2] Thẻ tín dụng: Số tiền nợ gốc là 109.582.448 đồng, số tiền nợ lãi là 34.794.603 đồng; số tiền nợ phí là 20.309.586. Tổng cộng là 164.686.637 đồng.
-
Xét Hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất số 544.GĐTC1.068.23 được công
chứng theo số công chứng 6182/HĐTC/2023, quyển số 03 TP/CC-SCC/HĐGD ngày
09/5/2023 tại Văn phòng công chứng Đất Cảng được ký giữa chủ tài sản là ông
Nguyễn Đức T và Ngân hàng Thương mại Cổ phần Q1:
- [4.1] Hợp đồng thế chấp nêu trên là hoàn toàn tự nguyện, tài sản thế chấp được đăng ký bảo đảm Chi nhánh Văn phòng đăng ký đất đai huyện T, mục đích và nội dung của hợp đồng thế chấp phù hợp với quy định tại các điều 298, 319 của Bộ luật Dân sự và không trái đạo đức xã hội.
- [4.2] Theo lời khai của bị đơn ông Nguyễn Đức T, bà Nguyễn Thị H1, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan ông Nguyễn Đức C và các tài liệu Tòa án xác minh thu thập được tại địa phương, tài liệu Ngân hàng cung cấp (Văn bản xác nhận và cam kết về tài sản riêng ngày 09/5/2023 của bà Nguyễn Thị H1, giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số số DI 937153, số vào sổ cấp giấy chứng nhận CS 01010 do Sở tài nguyên và môi trường thành phố H cấp ngày 06/1/2023 đứng tên ông Nguyễn Đức T) có thể xác định: Toàn bộ diện tích đất ở 364,5 m² tại thửa đất số 3575, tờ bản đồ số 04, địa chỉ thửa đất: Thôn C (nay là thôn B), xã A, huyện T, thành phố Hải Phòng là tài sản riêng của ông Nguyễn Đức T. Còn đối với tài sản trên đất thì bờ tường bao chiều dài 9,8m (trên bờ tường bao có rào sắt, lán tôn, diện tích khoảng 2 m²) giáp giữa nhà ông Nguyễn Đức T và ông Nguyễn Đức C là do ông Nguyễn Đức C xây dựng năm 2017, trước thời điểm thế chấp. Mặc dù khi thực hiện việc thế chấp tài sản Ngân hàng không xem xét thẩm định. Tuy nhiên, tại mục 1.2 Điều 1 của Hợp đồng tặng cho quyền sử dụng đất quyền sở hữu nhà ở và tài sản gắn liền với đất ngày 05/10/2022 giữa ông Nguyễn Đức C và ông Nguyễn Đức T thể hiện: “Ông Nguyễn Đức C thoả thuận đồng ý tặng cho, ông Nguyễn Đức T đồng ý nhận tặng cho 364,5 m² trong tổng diện tích đất 1106,0 m² nêu tại khoản 1.1 Điều 1 của Hợp đồng này, nay nhất trí ký kết Hợp đồng này làm cơ sở pháp lý để chuyển quyền sử dụng với đất 364,5 m² và tài sản gắn liền với đất đã được nêu trên cho ông Nguyễn Đức T là người đứng tên Bên được tặng cho trong Hợp đồng này làm tài sản riêng”. Tại tiểu mục 5.1.2 của mục 5.1 tại Điều 5 của Hợp đồng thế chấp giữa Ngân hàng TMCP Q1 và ông Nguyễn Đức T thể hiện: Ông Nguyễn Đức T (Bên B) cam kết “Bên B là chủ sở hữu/sử dụng hợp pháp toàn bộ và được hưởng lợi đối với TSTC theo Hợp đồng này và đối với bất kỳ tài sản nào được hình thành trong quá trình tạo lập/xây dựng mà tạo thành một phần của TSTC”. Thời điểm tặng cho là năm 2022, thời điểm ông Nguyễn Đức C xây dựng tường bao là năm 2017. Như vậy, ông Nguyễn Đức C đã đồng ý tặng cho ông Nguyễn Đức T tài sản gắn liền với diện tích đất 364,5 m² tức là ông Nguyễn Đức C tặng cho ông Nguyễn Đức T cả phần tường bao chiều dài 9,8m (trên bờ tường bao có rào sắt, lán tôn, diện tích khoảng 2 m²) giáp giữa nhà ông Nguyễn Đức T và ông Nguyễn Đức C. Chính vì vậy, không chấp nhận ý kiến của ông Nguyễn Đức T, ông Nguyễn Đức C về việc không chấp nhận phát mại phần tường bao có chiều dài 9,8m (trên bờ tường bao có rào sắt, lán tôn, diện tích khoảng 2 m²) giáp giữa nhà ông Nguyễn Đức T và ông Nguyễn Đức C.
- [4.3] Theo bị đơn ông Nguyễn Đức T khai: Phía sau nhà ông Nguyễn Đức T ở dưới phần đất có một phần bể bioga (khoảng hơn 1 m chiều dài, chiều ngang là hết đất) của bố mẹ ông, ông không nhớ xây dựng năm nào, không biết giá trị là bao nhiêu. Tuy nhiên, ông không có tài liệu chứng cứ gì chứng minh là có bể bioga. Ông Nguyễn Đức T khẳng định khi thế chấp tài sản ông Nguyễn Đức T không thông tin về bể bioga cho Ngân hàng TMCP Q1. Ông Nguyễn Đức C khẳng định bể bioga do vợ chồng ông xây dựng nằm trọn trong khuôn viên đất của ông, không nằm trong phần đất ông đã cho ông Nguyễn Đức T. Mặt khác, việc xây dựng bể bioga không có hồ sơ xây dựng. Do đó, không có tài liệu nào xác định có bể bioga của ông Nguyễn Đức C, bà Nguyễn Thị T3 xây lấn sang đất của ông Nguyễn Đức T. Trường hợp nếu như có bể bioga xây lấn sang đất của ông Nguyễn Đức T theo như tại mục 1.2 Điều 1 của Hợp đồng tặng cho quyền sử dụng đất quyền sở hữu nhà ở và tài sản gắn liền với đất ngày 05/10/2022 giữa ông Nguyễn Đức C và ông Nguyễn Đức T ở trên đã xác định tài sản gắn liền với đất ông Nguyễn Đức C chuyển quyền sử dụng cho ông Nguyễn Đức T. Ông Nguyễn Đức T đồng ý phát mại tài sản và không yêu cầu trả lại phần giá trị một phần của bể bioga. Do đó, khi phát mại tài sản sẽ phát mại toàn bộ cả phần đất có cả phần bể bioga (nếu có) mà không phải thanh toán trả giá trị cho ai.
- [4.4] Ông Nguyễn Đức T cho rằng: Toàn bộ tài sản trên diện tích thửa đất số 3575, tờ bản đồ số 04, địa chỉ thôn C (nay là thôn B), xã A, huyện T, thành phố Hải Phòng (trừ bờ tường bao diện tích 2 m² và một phần bể bioga), do vợ chồng ông T tạo lập. Ông Nguyễn Đức T không đồng ý phát mại tài sản trên đất vì đây là tài sản chung của vợ chồng ông. Nếu phát mại tài sản trên đất thì phải trả cho vợ ông là bà Nguyễn Thị H1 ½ giá trị tài sản trên đất. Hội đồng xét xử xét thấy: Tại Văn bản tự khai, xác nhận và cam kết về tài sản riêng ngày 09/5/2022 của bà Nguyễn Thị H1 thể hiện: “Bất động sản nói trên (bao gồm cả quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất đã, đang và sẽ hình thành trong tương lai) là tài sản riêng của ông Nguyễn Đức T, có nguồn gốc được tặng cho riêng... Trong trường hợp ông Nguyễn Đức T có nhu cầu thế chấp bất động sản trên để bảo đảm thực hiện các nghĩa vụ theo các hợp đồng tín dụng tại Ngân hàng thì tôi đồng ý cho ông Nguyễn Đức T được sử dụng một phần hoặc toàn bộ nguồn thu nhập hợp pháp của hai vợ chồng để trả nợ các nghĩa vụ đó”. Tại tiểu mục 3.1.2 mục 3.1 của Điều 3 của Hợp đồng thế chấp giữa Ngân hàng TMCP Q1 và ông Nguyễn Đức T thể hiện: “Tài sản thế chấp theo Hợp đồng này bao gồm nhưng không giới hạn: ...Tài sản mới phát sinh từ hoặc tăng thêm do sửa chữa, nâng cấp, đầu tư vào tài sản thế chấp”. Như vậy, có thể khẳng định toàn bộ tài sản gắn liền với đất do vợ chồng ông Nguyễn Đức T, bà Nguyễn Thị H1 tạo lập thuộc vào tài sản thế chấp. Lời khai của bà Nguyễn Thị H1 đồng ý phát mại toàn bộ tài sản trên diện tích đất thế chấp. Do đó, Ngân hàng TMCP Q1 được quyền phát mại toàn bộ diện tích đất và tài sản trên đất mà không phải thanh toán cho bà Nguyễn Thị H1 ½ giá trị tài sản trên đất, không chấp nhận ý kiến của ông Nguyễn Đức T về vấn đề này.
- Về án phí: Do yêu cầu của nguyên đơn là Ngân hàng Thương mại Cổ phần Q1 được chấp nhận toàn bộ nên căn cứ khoản 1 Điều 147 của Bộ luật Tố tụng dân sự; khoản 2 Điều 26 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án, bị đơn là ông Nguyễn Đức T và bà Nguyễn Thị H1 phải chịu 56.240.115 đồng ((36.000.000 đ + (3% x 674.670.500 đ)) án phí dân sự sơ thẩm. Trả lại Ngân hàng Thương mại Cổ phần Q1 số tiền tạm ứng án phí 25.774.000 đồng đã nộp theo biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0009784 ngày 31 tháng 01 năm 2024 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Thủy Nguyên, thành phố Hải Phòng.
- Về chi phí xem xét thẩm định tại chỗ và định giá tài sản: Ông Nguyễn Đức T và bà Nguyễn Thị H1 phải chịu 15.000.000 đồng tiền chi phí xem xét thẩm định tại chỗ và định giá tài sản. Ngân hàng TMCP Q1 đã nộp tạm ứng số tiền chi phí xem xét thẩm định tại chỗ và định giá tài sản nên ông Nguyễn Đức T, bà Nguyễn Thị H1 phải trả lại cho Ngân hàng TMCP Q1 số tiền 15.000.000 đồng.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào khoản 3 Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, Điều 144, Điều 147, Điều 227, Điều 228, Điều 271 và Điều 273 Bộ luật Tố tụng dân sự;
Căn cứ vào các điều 116, 117, 118, 119, 280, 298, 299, 319, 320, 323, 463, 466 Bộ luật Dân sự;
Căn cứ vào khoản 2 Điều 91, Điều 95 của Luật Các tổ chức tín dụng;
Căn cứ vào khoản 1 Điều 37 của Luật Hôn nhân và gia đình;
Căn cứ vào khoản 2 Điều 26 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Xử:
-
Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn là Ngân hàng Thương mại Cổ
phần Q1, buộc: Ông Nguyễn Đức T và bà Nguyễn Thị H1 phải trả cho Ngân hàng
Thương mại Cổ phần Q1 số tiền nợ tính đến hết ngày 18 tháng 7 năm 2024 là:
1.474.670.500 đồng, cụ thể:
- + Số tiền nợ của Hợp đồng tín dụng số 1458112.23 ngày 09/5/2023 được ký giữa Ngân hàng Thương mại Cổ phần Q1 và ông Nguyễn Đức T, bà Nguyễn Thị H1: Số nợ gốc: 1.130.833.000 đồng, số nợ lãi trong hạn: 72.558.690 đồng, số nợ lãi quá hạn: 106.592.173 đồng, số nợ lãi phạt chậm trả: 0 đồng. Tổng cộng: 1.309.983.863 đồng.
- + Số tiền nợ của Hợp đồng tín dụng theo Đề nghị phát hành thẻ tín dụng ngày 26/4/2023, loại thẻ V được ký giữa Ngân hàng Thương mại Cổ phần Q1 và ông Nguyễn Đức T: Số tiền nợ gốc là 109.582.448 đồng, số tiền nợ lãi là 34.794.603 đồng; số tiền nợ phí là 20.309.586. Tổng cộng là 164.686.637 đồng.
Kể từ ngày 19/7/2024 cho đến khi thi hành án xong, ông Nguyễn Đức T và bà Nguyễn Thị H1 còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành theo mức lãi suất các bên thỏa thuận trong hợp đồng tín dụng nhưng phải phù hợp với quy định của pháp luật. Trường hợp trong hợp đồng tín dụng, các bên có thỏa thuận về việc điều chỉnh lãi suất cho vay theo từng thời kỳ của Ngân hàng cho vay thì lãi suất mà khách hàng vay phải tiếp tục thanh toán cho Ngân hàng cho vay theo quyết định của Tòa án cũng sẽ được điều chỉnh cho phù hợp với sự điều chỉnh lãi suất của Ngân hàng cho vay.
Trường hợp ông Nguyễn Đức T và bà Nguyễn Thị H1 không thực hiện nghĩa vụ trả nợ thì Ngân hàng Thương mại Cổ phần Q1 có quyền yêu cầu Cơ quan Thi hành án dân sự có thẩm quyền phát mại tài sản thế chấp:
Quyền sử dụng đất ở diện tích 364,5 m² và toàn bộ tài sản gắn liền với đất tại thửa đất số 3575, tờ bản đồ số 04, địa chỉ thôn C (nay là thôn B), xã A, huyện T, thành phố Hải Phòng theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số DI 937153, số vào sổ cấp giấy chứng nhận CS 01010 do Sở tài nguyên và môi trường thành phố H cấp ngày 06/1/2023 đứng tên ông Nguyễn Đức T để thực hiện nghĩa vụ bảo đảm cho khoản vay theo Hợp đồng tín dụng số 1458112.23 ngày 09/5/2023 được ký giữa Ngân hàng Thương mại Cổ phần Q1 và ông Nguyễn Đức T, bà Nguyễn Thị H1 và Hợp đồng tín dụng theo Đề nghị phát hành thẻ tín dụng ngày 26/4/2023, loại thẻ V được ký giữa Ngân hàng Thương mại Cổ phần Q1 và ông Nguyễn Đức T.
Trường hợp số tiền có được từ việc phát mại tài sản thế chấp sau khi thanh toán hết nghĩa vụ trả nợ cho Ngân hàng Thương mại Cổ phần Q1 thì số tiền còn thừa phải được trả lại cho bên thế chấp là ông Nguyễn Đức T. Trường hợp số tiền có được từ việc phát mại tài sản thế chấp không đủ để thực hiện nghĩa vụ trả nợ cho Ngân hàng Thương mại Cổ phần Q1 thì ông Nguyễn Đức T và bà Nguyễn Thị H1 phải có nghĩa vụ trả hết nợ cho Ngân hàng Thương mại Cổ phần Q1.
- Về án phí và chi phí tố tụng khác: Ông Nguyễn Đức T và bà Nguyễn Thị H1 phải chịu 56.240.115 đồng án phí dân sự sơ thẩm. Ông Nguyễn Đức T và bà Nguyễn Thị H1 phải trả cho Ngân hàng Q1 số tiền 15.000.000 đồng tiền xem xét thẩm định tại chỗ và định giá tài sản. Trả lại Ngân hàng Thương mại Cổ phần Q1 số tiền tạm ứng án phí 25.774.000 đồng đã nộp theo biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0009784 ngày 31 tháng 01 năm 2024 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Thủy Nguyên, thành phố Hải Phòng.
- Về quyền kháng cáo: Nguyên đơn là Ngân hàng Thương mại Cổ phần Q1 có mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 (mười lăm) ngày, kể từ ngày tuyên án. Bị đơn là ông Nguyễn Đức T và bà Nguyễn Thị H1, toàn bộ người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan chị Nguyễn Thị L, chị Nguyễn Thị H2, anh Nguyễn Đức K, bà Võ Thị Thanh X, ông Nguyễn Đức C và cụ Phạm Thị P vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 (mười lăm) ngày, kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật.
- Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, 7, 7a và 9 Luật Thi hành án dân sự, thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
Nơi nhận:
- - Đương sự;
- - TAND thành phố Hải Phòng;
- - VKSND huyện Thuỷ Nguyên;
- - Chi cục THADS huyện Thuỷ Nguyên;
- - Lưu: VT, hồ sơ vụ án.
|
THÀNH VIÊN HỘI ĐỒNG XÉT XỬ |
TM.HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA |
|
Phạm Văn Sóng Doãn Văn Sáng |
Vũ Thị Hằng |
Bản án số 30/2024/DS-ST ngày 18/07/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THUỶ NGUYÊN, THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG về tranh chấp hợp đồng tín dụng
- Số bản án: 30/2024/DS-ST
- Quan hệ pháp luật: tranh chấp hợp đồng tín dụng
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 18/07/2024
- Loại vụ/việc: Dân sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THUỶ NGUYÊN, THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Ngân hàng Quốc tế + Thịnh, Huyền
