|
TAND HUYỆN LẠNG GIANG TỈNH BẮC GIANG |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
Bản án số: 30/2024/DS-ST
Ngày 17-6-2024
V/v tranh chấp hợp đồng tín dụng
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN LẠNG GIANG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Đỗ Thị Quỳnh Hoa
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Nguyễn Quang Vinh
Ông Nguyễn Văn Thanh
- Thư ký phiên tòa: Ông Hà Quý Đôn- Thư ký Tòa án nhân dân huyện Lạng Giang.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Lạng Giang, tỉnh Bắc Giang tham gia phiên tòa: Bà Đồng Thị Toàn - Kiểm sát viên.
Ngày 17 tháng 6 năm 2024 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Lạng Giang tiến hành mở phiên tòa xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự sơ thẩm thụ lý số: 193/2024/TLST-DS ngày 10 tháng 11 năm 2023 về việc “Tranh chấp hợp đồng tín dụng” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 64/2024/QĐXXST-DS ngày 10 tháng 5 năm 2024; Quyết định hoãn phiên tòa số 52/QĐST-DS ngày 30 tháng 5 năm 2024 giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Ngân hàng Thương mại cổ phần V (V1)
Địa chỉ: Số H L, phường L, quận Đ, thành phố Hà Nội
Người đại diện theo pháp luật: Ông Ngô Chí D- Tổng giám đốc.
Đại diện theo ủy quyền: Ông Đỗ Hoàng L- Giám đốc Trung tâm thu hồi nợ khách hàng doanh nghiệp và xử lý nợ pháp lý.
Theo Văn bản ủy quyền số 58/2023/UQ-HĐQT ngày 12/7/2023 của ông Ngô Chí D.
Người được ủy quyền lại: Ông Giàng A S- Trung tâm thu hồi nợ khách hàng doanh nghiệp và xử lý nợ pháp lý (có mặt)
Theo Văn bản ủy quyền số 64/2024/UQ-LCC-KHCNMB1 ngày 08/4/2024 của Ngân hàng TMCP V.
Địa chỉ: Tầng G, Tòa nhà V, số G D, quận C, thành phố Hà Nội.
-Bị đơn: 1. Bà Nguyễn Thị Kim N, sinh năm 1995 (vắng mặt)
2. Ông Nguyễn Văn Đ sinh năm 1990 (vắng mặt)
Cùng địa chỉ: Thôn T, xã M, huyện L, tỉnh Bắc Giang.
-Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan:
1. Ông Nguyễn Hữu N1, sinh năm 1975 ( vắng mặt)
2. Bà Mạc Thị N2, sinh năm 1974 (vắng mặt)
Cùng địa chỉ: Thôn T, xã D, huyện L, tỉnh Bắc Giang.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
*Tại đơn khởi kiện và các bản tự khai tiếp theo nguyên đơn Ngân hàng Thương mại cổ phần V (V1) do ông Giàng A S đại diện theo ủy quyền trình bày: Ngày 19/4/2018 Ngân hàng TMCP V (V1) chi nhánh T1 ký với ông Nguyễn Văn Đ và bà Nguyễn Thị Kim N Hợp đồng tín dụng số LN1804110616647 với nội dung số tiền giải ngân là 287.000.000 đồng mục đích giải ngân thanh toán mua xe ô tô CHEVROLET SPARK 1.2 LS MY 2018 mới 100%, thời hạn vay 83 tháng từ ngày tiếp theo bên ngân hàng giải ngân vốn vay đầu tiên cho bên vay, lãi suất tại thời điểm giải ngân 10,4%/ năm. Lãi suất cho vay trong hạn sẽ chỉ cố định trong vòng 12 tháng kể từ ngày giải ngân khoản vay. Hết thời hạn 12 tháng, lãi suất được điều chỉnh định kỳ 03 tháng một lần vào các ngày 01/01, 01/04, 01/7, và 01/10 hàng năm. Ngày điều chỉnh lãi suất đầu tiên là ngày 19/4/2019, điều chỉnh sau đó vào ngày 01/7/2019. Mức lãi suất điều chỉnh được xác định bằng mức lãi suất tiết kiệm thường VNĐ kỳ hạn 24 tháng theo mức tiền gửi cao nhất của bên Ngân hàng đang áp dụng tại thời điểm điều chỉnh (+) biên độ 6,0%/năm.
Lãi suất quá hạn: Lãi suất cho vay áp dụng đối với dư nợ gốc quá hạn bằng 150% mức lãi suất cho vay trong hạn áp dụng đối với dư nợ gốc quá hạn bằng 150% lãi trong hạn. Lãi suất chậm trả áp dụng đối với tiền lãi chậm trả bằng 150% lãi suất cho vay trong hạn áp dụng tại thời điểm chậm trả lãi nhưng tối đa không quá 10%/năm tính trên số dư lãi chậm trả tương ứng với thời gian chậm trả.
Tài sản đảm bảo cho khoản vay trên là 01 xe ô tô, nhãn hiệu CHEVROLET SPARK, số khung 48DJHH949863, số máy 1958HN7X0269; Giấy chứng nhận đăng ký xe ô tô biển kiểm soát số 98A-175.74 thuộc quyền sở hữu/sử dụng của bà Nguyễn Thị Kim N và ông Nguyễn Văn Đ. Tất cả các phụ tùng, thiết bị, vật tư... được lắp thêm, thay thế vào tài sản thế chấp cũng thuộc tài sản thế chấp.
Quá trình thực hiện các hợp đồng trên, bà Nguyễn Thị Kim N và ông Nguyễn Văn Đ đã vi phạm nghĩa vụ trả nợ đối với V1 từ ngày 19/8/2022 và phải chịu mức lãi suất nợ quá hạn theo thỏa thuận trong Hợp đồng tín dụng tính đến ngày xét xử 17/6/2024 bà Nguyễn Thị Kim N và ông Nguyễn Văn Đ còn nợ V1 tổng số tiền là: Nợ gốc: 110.443.188 đồng; Nợ lãi: 54.174.953 đồng. Tổng cộng là 164.618.141 đồng.
Nay Ngân hàng TMCP V (V1) yêu cầu Tòa án buộc bà Nguyễn Thị Kim N và ông Nguyễn Văn Đ mỗi người có nghĩa vụ riêng rẽ phải thanh toán cho V1 ½ số tiền nợ gốc, nợ lãi và các khoản phát sinh liên quan theo các Hợp đồng tín dụng nêu trên. Dư nợ tính đến ngày xét xử 17/6/2024 là: Nợ gốc: 110.443.188 đồng; Nợ lãi: 54.174.953 đồng. Tổng cộng là 164.618.141 đồng.
Đề nghị Tòa án tiếp tục tính lãi theo đúng thỏa thuận trong Hợp đồng cho vay đến ngày thực tế bà Nguyễn Thị Kim N và ông Nguyễn Văn Đ thanh toán xong toàn bộ khoản nợ cho V1.
Đề nghị Tòa án tuyên trong bản án: Trường hợp bà Nguyễn Thị Kim N và ông Nguyễn Văn Đ không thực hiện nghĩa vụ trả nợ cho Ngân hàng theo quy định, Ngân hàng có quyền yêu cầu cơ quan Thi hành án kê biên, phát mại tài sản thế chấp là 01 xe ô tô, nhãn hiệu CHEVROLET SPARK, số khung 48DJHH949863, số máy 1958HN7X0269; Giấy chứng nhận đăng ký xe ô tô biển kiểm soát số 98A-175.74 thuộc quyền sở hữu/sử dụng của bà Nguyễn Thị Kim N và ông Nguyễn Văn Đ.
Tại phiên tòa ông Giàng A S đại diện theo ủy quyền của Ngân hàng TMCP V (V1) vẫn giữ nguyên yêu cầu trên.
*Tại bản tự khai bị đơn bà Nguyễn Thị Kim N trình bày: Ngày 19/4/2018 bà và ông Nguyễn Văn Đ có ký Hợp đồng tín dụng vay Ngân hàng TMCP V (V1) số tiền là 287.000.000 đồng, mục đích vay để mua xe ô tô nhãn hiệu CHEVROLET SPARK biển kiểm soát số 98A-175.74. Chiếc xe ô tô là do bố mẹ đẻ bà là ông Nguyễn Hữu N1 và bà Mạc Thị N2 bỏ tiền ra mua nhưng để bà đứng tên chủ sở hữu. Sau đó bố mẹ bà có nhờ bà và ông Nguyễn Văn Đ đứng ra vay Ngân hàng TMCP V (V1) số tiền là 287.000.000 đồng. Chiếc xe ô tô hiện vẫn do bố mẹ bà quản lý và sử dụng. Hàng tháng bố mẹ bà vẫn thực hiện nghĩa vụ thanh toán với Ngân hàng chuyển tiền vào tài khoản V1 mang tên Nguyễn Thị Kim N để Ngân hàng tự động đối trừ.
Nay Ngân hàng khởi kiện yêu cầu bà cùng ông Nguyễn Văn Đ phải thanh toán số tiền nợ gốc và lãi cho Ngân hàng số tiền trên, quan điểm của bà vợ chồng bà chỉ đứng ra vay tiền hộ bố mẹ của bà để mua xe nên trách nhiệm thanh toán tiền thuộc về bố mẹ bà là ông Nguyễn Hữu N1 và bà Mạc Thị N2. Bà và ông Nguyễn Văn Đ không có nghĩa vụ thanh toán cho Ngân hàng số nợ trên.
Tại phiên tòa bà Nguyễn Thị Kim N vắng mặt lần hai không có lý do.
*Bị đơn ông Nguyễn Văn Đ được Tòa án giao niêm yết thông báo thụ lý vụ án, giấy triệu tập, yêu cầu cung cấp chứng cứ, thông báo về phiên họp tiếp cận, công khai chứng cứ và phiên hòa giải, nhưng ông Nguyễn Văn Đ không đến Tòa án để viết bản tự khai, hòa giải và cung cấp chứng cứ. Ông Nguyễn Văn Đ cố tình trốn tránh nghĩa vụ với Ngân hàng không đến Tòa án làm việc từ chối khai báo.
Tại phiên tòa bị đơn ông Nguyễn Văn Đ vắng mặt lần hai không có lý do.
*Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan ông Nguyễn Hữu N1 và bà Mạc Thị N2 được Tòa án giao, niêm yết thông báo thụ lý vụ án, giấy triệu tập, yêu cầu cung cấp chứng cứ thông báo về phiên họp tiếp cận, công khai chứng cứ và phiên hòa giải, nhưng ông Nguyễn Hữu N1 và bà Mạc Thị N2 không đến Tòa án để viết bản tự khai, hòa giải và cung cấp chứng cứ. Ông Nguyễn Hữu N1 và bà Mạc Thị N2 cố tình trốn tránh không đến Tòa án làm việc từ chối khai báo.
Tại phiên tòa ông Nguyễn Hữu N1 và bà Mạc Thị N2 vắng mặt lần hai không có lý do.
*Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Lạng Giang tham gia phiên tòa xét xử sơ thẩm, phát biểu ý kiến: Quá trình giải quyết vụ án từ khi thụ lý vụ án đến trước khi mở phiên tòa Thẩm phán và Thư ký Tòa án tuân theo đúng trình tự tố tụng. Tại phiên tòa HĐXX sơ thẩm thực hiện đúng quy định của Bộ luật tố tụng dân sự. Về phía nguyên đơn chấp hành nghiêm chỉnh, thực hiện đúng quyền và nghĩa vụ của mình. Phía bị đơn ông Nguyễn Văn Đ và người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan ông Nguyễn Hữu N1 và bà Mạc Thị N2 không chấp hành các quy định của Bộ luật tố tụng dân sự. Căn cứ khoản 16 Điều 4, Điều 90, Điều 91, Điều 94, Điều 95, Điều 98 của Luật các tổ chức tín dụng; Điều 27, Điều 37 của Luật hôn nhân và gia đình; Điều 280, Điều 287, Điều 288 khoản 1 Điều 299 và Điều 303 của Bộ luật dân sự năm 2015; Mục 11 Phần III Công văn 196/TANDTC-PC năm 2023việc thông báo kết quả giải đáp trực tuyến một số vướng mắc trong công tác xét xử ngày 03/10/2023 của Tòa án nhân dân tối cao; các Điều 147, 227, 228, 271, 272, 273 của Bộ luật tố tụng dân sự; khoản 2 Điều 26 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016, Nghị quyết quy định về mức thu, miễn, giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Đề nghị HĐXX chấp nhận yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng TMCP V (V1).
Buộc ông Nguyễn Văn Đ và bà Nguyễn Thị Kim N mỗi người phải có nghĩa vụ trả cho Ngân hàng TMCP V (V1) theo Hợp đồng tín dụng số LN1804110616647 ngày 19/4/2018 số tiền gốc là 55.221.594 đồng (Năm mươi lăm triệu, hai trăm hai mươi mốt nghìn, năm trăm chín mươi tư đồng) và tiền lãi là 27.087.476 đồng (Hai mươi bẩy triệu, không trăm tám mươi bẩy nghìn, bốn trăm bẩy mươi sáu đồng). Tổng cộng là 82.309.000 đồng (T mươi hai triệu, ba trăm linh chín nghìn đồng).
Buộc ông Nguyễn Văn Đ và bà Nguyễn Thị Kim N tiếp tục trả tiền lãi phát sinh trên số nợ gốc chưa thanh toán, kể từ ngày tiếp theo của ngày xét xử theo mức lãi suất thỏa thuận trong Hợp đồng tín dụng số số LN1804110616647 ngày 19/4/2018 cho đến khi ông Nguyễn Văn Đ và bà Nguyễn Thị Kim N thanh toán hết các khoản nợ cho Ngân hàng TMCP V (V1).
Trường hợp ông Nguyễn Văn Đ và bà Nguyễn Thị Kim N không thực hiện nghĩa vụ trả nợ cho Ngân hàng theo quy định, Ngân hàng có quyền yêu cầu cơ quan Thi hành án kê biên, phát mại tài sản thế chấp là 01 xe ô tô, nhãn hiệu CHEVROLET SPARK, số khung 48DJHH949863, số máy 1958HN7X0269; Giấy chứng nhận đăng ký xe ô tô biển kiểm soát số 98A-175.74 thuộc quyền sở hữu/sử dụng của bà Nguyễn Thị Kim N và ông Nguyễn Văn Đ.
Ngoài ra đại diện Viện kiểm sát còn đề xuất giải quyết về nghĩa vụ chậm trả tiền, án phí và quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và được thẩm tra chứng cứ tại phiên tòa, căn cứ kết quả tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:
[1] Về thẩm quyền: Ngày 20/11/2023, Tòa án nhân dân huyện Lạng Giang thụ lý vụ án theo đơn khởi kiện yêu cầu tranh chấp hợp tín dụng giữa Ngân hàng TMCP V (V1) với bị đơn bà Nguyễn Thị Kim N và ông Nguyễn Văn Đ là đúng quy định tại khoản 3 Điều 26 và điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật tố tụng dân sự.
Về tố tụng: Tại phiên tòa bị đơn bà Nguyễn Thị Kim N và ông Nguyễn Văn Đ, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan ông Nguyễn Hữu N1 và bà Mạc Thị N2 vắng mặt lần hai không có lý do. Nên HĐXX căn cứ Điều 227, Điều 228 của Bộ luật tố tụng dân sự tiến hành xét xử vắng mặt bị đơn, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan theo thủ tục chung.
Về quan hệ tranh chấp: Ngày 19/4/2018 Ngân hàng TMCP V (V1) chi nhánh T1 ký với ông Nguyễn Văn Đ và bà Nguyễn Thị Kim N Hợp đồng tín dụng số số LN1804110616647. Thực hiện hợp đồng tín dụng, Ngân hàng TMCP V (V1) đã giải ngân số tiền 287.000.000 đồng cho ông Nguyễn Văn Đ và bà Nguyễn Thị Kim N nhận đủ số tiền trên. Phía gia đình ông Nguyễn Văn Đ và bà Nguyễn Thị Kim N không có đăng ký kinh doanh. Quá trình thực hiện hợp đồng, phía ông Nguyễn Văn Đ và bà Nguyễn Thị Kim N từ ngày 19/8/2022 đã vi phạm nghĩa vụ trả nợ như đã cam kết trong hợp đồng tín dụng. Tháng 11/2023 Ngân hàng đã khởi kiện đến Tòa án. Hội đồng xét xử xác định quan hệ tranh chấp liên quan đến số tiền trên là “Tranh chấp hợp đồng tín dụng”, có kỳ hạn, có lãi suất quy định tại khoản 3 Điều 26 của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015; khoản 16 Điều 4, Điều 90, Điều 91, Điều 94, Điều 95, Điều 98 của Luật các tổ chức tín dụng.
[2] Về nội dung: Ngày 19/4/2018 Ngân hàng TMCP V (V1) chi nhánh T1 ký với ông Nguyễn Văn Đ và bà Nguyễn Thị Kim N hợp đồng tín dụng số LN1804110616647 với nội dung số tiền giải ngân là 287.000.000 đồng mục đích giải ngân thanh toán mua xe ô tô CHEVROLET SPARK 1.2 LS MY 2018 mới 100%, thời hạn vay 83 tháng từ ngày tiếp theo bên ngân hàng giải ngân vốn vay đầu tiên cho bên vay, lãi suất tại thời điểm giải ngân 10,4%/ năm. Lãi suất cho vay trong hạn sẽ chỉ cố định trong vòng 12 tháng kể từ ngày giải ngân khoản vay. Hết thời hạn 12 tháng, lãi suất được điều chỉnh định kỳ 03 tháng một lần vào các ngày 01/01, 01/04, 01/7, và 01/10 hàng năm. Ngày điều chỉnh lãi suất đầu tiên là ngày 19/4/2019, điều chỉnh sau đó vào ngày 01/7/2019. Mức lãi suất điều chỉnh được xác định bằng mức lãi suất tiết kiệm thường VNĐ kỳ hạn 24 tháng theo mức tiền gửi cao nhất của bên Ngân hàng đang áp dụng tại thời điểm điều chỉnh (+) biên độ 6,0%/năm. Ngân hàng đã giải ngân cho ông Đ, bà N với số tiền 287.000.000 đồng theo đúng yêu cầu của khách hàng và phù hợp với Hợp đồng tín dụng.
Quá trình thực hiện hợp đồng ông Đ, bà N đã vi phạm nghĩa vụ thanh toán nợ gốc và lãi phát sinh từ ngày 19/8/2022. Dư nợ tính đến ngày xét xử tiền nợ gốc là 110.443.188 đồng; Nợ lãi: 54.174.953 đồng. Tổng cộng là 164.618.141 đồng. Nay Ngân hàng TMCP V (V1) khởi kiện yêu cầu ông Nguyễn Văn Đ và bà Nguyễn Thị Kim N mỗi người phải có nghĩa vụ trả ½ số tiền gốc, lãi còn nợ trên cho Ngân hàng.
HĐXX xét thấy việc ông Đ, bà N vay tiền của Ngân hàng không trả tiền gốc lãi đúng hạn từ ngày 19/8/2022, đã vi phạm nghĩa vụ thanh toán như đã thỏa thuận trong hợp đồng tín dụng mà hai bên đã ký. Quá trình giải quyết vụ án bà N cho rằng khoản tiền vay của Ngân hàng là bà và ông Đ làm thủ tục ký giấy vay hộ để mua xe cho bố đẻ bà N là ông Nguyễn Hữu N1, bà Mạc Thị N2, xe ô tô do bố mẹ bà quản lý, sử dụng và hàng tháng phải trả tiền gốc lãi cho Ngân hàng theo số tài khoản của bà N, nên trách nhiệm trả nợ Ngân hàng thuộc về ông N1 và bà N2 mà bà và ông Đ không có liên quan.
Xét thấy căn cứ hợp đồng tín dụng và hợp đồng thế chấp vay tiền Ngân hàng thể hiện chữ ký bên vay và bên thế chấp là bà N và ông Đ, ngoài lời khai của bà N thì không có tài liệu chứng cứ nào chứng minh việc ông N1, bà N2 nhờ bà N đứng ra vay tiền Ngân hàng và ông N1, bà N2 là người quản lý sử dụng chiếc xe ô tô này, do vậy lời khai của bà N là không có căn cứ. Nay Ngân hàng TMCP V (V1) khởi kiện yêu cầu ông Nguyễn Văn Đ và bà Nguyễn Thị Kim N mỗi người phải có nghĩa vụ trả ½ số tiền gốc, lãi còn nợ Ngân hàng trên là có căn cứ phù hợp với quy định tại khoản 16 Điều 4, Điều 90, Điều 91, Điều 94, Điều 95, Điều 98 của Luật các tổ chức tín dụng cần chấp nhận.
-Về yêu cầu tính tiền lãi trong hạn phải trả và nợ lãi chậm trả tổng só tiền lãi là 54.174.953 đồng của Ngân hàng TMCP V (V1) và đề nghị Tòa án tiếp tục tính lãi, lãi quá hạn kể từ ngày tiếp theo của ngày xét xử cho đến khi ông Đ, bà N thanh toán xong toàn bộ khoản nợ theo quy định của Hợp đồng tín dụng, khế ước nhận nợ đã ký. HĐXX xét thấy theo Hợp đồng tín dụng số LN1804110616647 ký ngày 19/4/2018, phía ông Nguyễn Văn Đ và bà Nguyễn Thị Kim N đã vi phạm nghĩa vụ thanh toán như thỏa thuận giữa hai bên đã ký quy định tại Điều 4, Điều 6 của Hợp đồng tín dụng quy định về điều khoản và điều kiện cấp tín dụng đính kèm theo hợp đồng tín dụng. Nay phía Ngân hàng yêu cầu tính lãi, và lãi phạt do vi phạm nghĩa vụ yêu cầu này của Ngân hàng phù hợp với luật các tổ chức tín dụng và các văn bản quy phạm pháp luật, quy định chi tiết, hướng dẫn áp dụng Luật các tổ chức tín dụng. Như vậy, yêu cầu về lãi suất, và số tiền phạt chậm trả lãi của Ngân hàng dựa trên thỏa thuận tự nguyện của ông Nguyễn Văn Đ và bà Nguyễn Thị Kim N khi tham gia ký kết trong Hợp đồng tín dụng số LN1804110616647 ngày 19/4/2018 của ông Nguyễn Văn Đ và bà Nguyễn Thị Kim N với phía Ngân hàng V1 là phù hợp với quy định của pháp luật và quy định tại Điều 7 Nghị quyết số 01/2019/NQ-HĐTP ngày 11/01/2019 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao thì lãi và cách tính lãi được áp dụng trên cơ sở thỏa thuận của hai bên trong Hợp đồng tín dụng nên được chấp nhận.
-Về nghĩa vụ trả tiền: HĐXX xét thấy ông Nguyễn Văn Đ và bà Nguyễn Thị Kim N vay số tiền trên của Ngân hàng trong thời kỳ hôn nhân của vợ chồng. Tại Bản án HNGĐ số 80/2023/HNGĐ-ST ngày 28/9/2023 của Tòa án nhân dân huyện Lạng Giang đã giải quyết cho ông Nguyễn Văn Đ và bà Nguyễn Thị Kim N ly hôn và giải quyết về con chung của vợ chồng, không giải quyết về chia tài sản chung và nghĩa vụ chung về tài sản trong thời kỳ hôn nhân giữa ông Đ và bà N.
Nay Ngân hàng TMCP V (V1) yêu cầu ông Nguyễn Văn Đ và bà Nguyễn Thị Kim N cùng có trách nhiệm trả khoản tiền gốc, lãi còn nợ Ngân hàng trong thời kỳ hôn nhân của vợ chồng là có căn cứ chấp nhận cần buộc ông Đ, bà N mỗi người phải có trách nhiệm trả cho Ngân hàng ½ số tiền nợ gốc và tiền lãi theo yêu cầu của Ngân hàng. Buộc ông Nguyễn Văn Đ và bà Nguyễn Thị Kim N mỗi người phải trả số tiền nợ gốc là 55.221.594 đồng (Năm mươi lăm triệu, hai trăm hai mươi mốt nghìn, năm trăm chín mươi tư đồng) và tiền lãi là 27.087.476 đồng (Hai mươi bẩy triệu, không trăm tám mươi bẩy nghìn, bốn trăm bẩy mươi sáu đồng). Tổng cộng là 82.309.000 đồng (T mươi hai triệu, ba trăm linh chín nghìn đồng) tính làm tròn số là phù hợp với Điều 27, Điều 37 của Luật hôn nhân và gia đình; Điều 287, Điều 288 của Bộ luật dân sự năm 2015.
[3] Về lãi suất phát sinh do chậm thực hiện nghĩa vụ trả tiền: Do bị đơn ông Nguyễn Văn Đ và bà Nguyễn Thị Kim N vắng mặt tại phiên tòa nên không thỏa thuận được lãi suất chậm thi hành án, lãi suất chậm trả thực hiện theo mức đã giao kết trong Hợp đồng tín dụng số LN1804110616647 ngày 19/4/2018 của Ngân hàng TMCP V (V1) đối với ông Nguyễn Văn Đ và bà Nguyễn Thị Kim N tương ứng với thời gian và số tiền còn phải thi hành.
*Về đề nghị tuyên Ngân hàng có quyền yêu cầu cơ quan Thi hành án kê biên, phát mại tài sản thế chấp: HĐXX xét thấy hợp đồng tín dụng và hợp đồng thế chấp tài sản tuân thủ đầy đủ quy định pháp luật trong quá trình ký kết, hợp đồng có hiệu lực pháp luật, quá trình xem xét thẩm định không xác định được 01 xe ô tô, nhãn hiệu CHEVROLET SPARK, số khung 48DJHH949863, số máy 1958HN7X0269; Giấy chứng nhận đăng ký xe ô tô biển kiểm soát số 98A-175.74 thuộc quyền sở hữu/sử dụng của bà Nguyễn Thị Kim N và ông Nguyễn Văn Đ là tài sản thế chấp ở đâu, tại thời điểm tranh chấp không làm vô hiệu hợp đồng tín dụng và hợp đồng thế chấp. Do đó, khi đến hạn thực hiện nghĩa vụ mà bên vay không thực hiện hoặc thực hiện không đúng nghĩa vụ thì Tòa án tuyên phát mại tài sản thế chấp theo quy định tại khoản 1 Điều 299 và Điều 303 của Bộ luật dân sự năm 2015. Căn cứ Mục 11 Phần III Công văn 196/TANDTC-PC năm 2023ngày 03/10/2023 về việc thông báo kết quả giải đáp trực tuyến một số vướng mắc trong công tác xét xử của Tòa án nhân dân tối cao yêu cầu này của Ngân hàng là có căn cứ cần chấp nhận.
[4] Về án phí: Do yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng được chấp nhận nên Ngân hàng TMCP V (V1) không phải chịu tiền án phí dân sự sơ thẩm. Hoàn trả Ngân hàng TMCP V (V1) số tiền 3.650.000 đồng tiền tạm ứng án phí đã nộp theo biên lai thu số 0007478 ngày 10/11/2023 tại Chi cục thi hành án dân sự huyện Lạng Giang.
Buộc ông Nguyễn Văn Đ và bà Nguyễn Thị Kim N mỗi người phải chịu 4.115.400 đồng (Bốn triệu, một trăm mười lăm nghìn, bốn trăm đồng) tiền án phí dân sự sơ thẩm theo Điều 147 của Bộ luật tố tụng dân sự; khoản 2 Điều 26 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016, Nghị quyết quy định về mức thu, miễn, giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
[5] Về quyền kháng cáo: Căn cứ Điều 271, Điều 272, Điều 273 của Bộ luật tố tụng dân sự. Các đương sự được quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.
[6] Về ý kiến đề nghị của đại diện Viện kiểm sát tại phiên tòa là phù hợp với nhận định của HĐXX nên chấp nhận.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ khoản 3 Điều 26; khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39, khoản 2, khoản 4 Điều 91; Điều 147; Điều 227; Điều 228; Điều 271; Điều 272; Điều 273 của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015; Khoản 16 Điều 4, Điều 90, Điều 91, Điều 94, Điều 95, Điều 98 của Luật các tổ chức tín dụng; Điều 27, Điều 37 của Luật hôn nhân và gia đình; Điều 280, Điều 287, Điều 288; khoản 1 Điều 299 và Điều 303 của Bộ luật dân sự năm 2015; Mục 11 Phần III Công văn 196/TANDTC-PC năm 2023ngày 03/10/2023 về việc thông báo kết quả giải đáp trực tuyến một số vướng mắc trong công tác xét xử của Tòa án nhân dân tối cao; Khoản 2 Điều 26 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016, Nghị quyết quy định về mức thu, miễn, giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
1. Tuyên xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng Thương mại cổ phần V (V1) yêu cầu thanh toán tiền còn nợ theo Hợp đồng tín dụng số LN1804110616647 ngày 19/4/2018 đối với ông Nguyễn Văn Đ và bà Nguyễn Thị Kim N.
Buộc ông Nguyễn Văn Đ và bà Nguyễn Thị Kim N mỗi người phải có nghĩa vụ trả cho Ngân hàng Thương mại cổ phần V (V1) theo Hợp đồng tín dụng số LN1804110616647 ngày 19/4/2018 số tiền gốc là 55.221.594 đồng (Năm mươi lăm triệu, hai trăm hai mươi mốt nghìn, năm trăm chín mươi tư đồng) và tiền lãi là 27.087.476 đồng (Hai mươi bẩy triệu, không trăm tám mươi bẩy nghìn, bốn trăm bẩy mươi sáu đồng). Tổng cộng là 82.309.000 đồng (T mươi hai triệu, ba trăm linh chín nghìn đồng).
Buộc ông Nguyễn Văn Đ và bà Nguyễn Thị Kim N tiếp tục trả tiền lãi phát sinh trên số nợ gốc chưa thanh toán, kể từ ngày tiếp theo của ngày xét xử theo mức lãi suất thỏa thuận trong Hợp đồng tín dụng số LN1804110616647 ngày 19/4/2018 cho đến khi ông Nguyễn Văn Đ và bà Nguyễn Thị Kim N thanh toán hết các khoản nợ cho Ngân hàng TMCP V (V1).
Trường hợp ông Nguyễn Văn Đ và bà Nguyễn Thị Kim N không thực hiện nghĩa vụ trả nợ cho Ngân hàng theo quy định, Ngân hàng có quyền yêu cầu cơ quan Thi hành án kê biên, phát mại tài sản thế chấp là 01 xe ô tô, nhãn hiệu CHEVROLET SPARK, số khung 48DJHH949863, số máy 1958HN7X0269; Giấy chứng nhận đăng ký xe ô tô biển kiểm soát số 98A-175.74 thuộc quyền sở hữu/sử dụng của bà Nguyễn Thị Kim N và ông Nguyễn Văn Đ.
2. Về án phí: Buộc ông Nguyễn Văn Đ và bà Nguyễn Thị Kim N mỗi người phải chịu 4.115.400 đồng (Bốn triệu, một trăm mười lăm nghìn, bốn trăm đồng) tiền án phí dân sự sơ thẩm.
Ngân hàng TMCP V (V1) không phải chịu tiền án phí dân sự sơ thẩm. Hoàn trả Ngân hàng TMCP V (V1) số tiền 3.650.000 đồng ( Ba triệu, sáu trăm năm mươi nghìn đồng) tạm ứng án phí đã nộp theo biên lai thu số 0007478 ngày 10/11/2023 tại Chi cục thi hành án dân sự huyện Lạng Giang.
3. Về quyền kháng cáo: Đương sự có mặt có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.
Đương sự vắng mặt có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận tống đạt hoặc niêm yết bản án.
Trong trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, Điều 7, Điều 7a, Điều 7b và Điều 9 Luật thi hành án dân sự. Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự./.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Đỗ Thị Quỳnh Hoa |
Bản án số 30/2024/DS-ST ngày 17/06/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN LẠNG GIANG về tranh chấp hợp đồng tín dụng
- Số bản án: 30/2024/DS-ST
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp hợp đồng tín dụng
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 17/06/2024
- Loại vụ/việc: Dân sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN LẠNG GIANG
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Ngân hàng, chị Ng
