Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

THÀNH PHỐ CAO LÃNH

TỈNH ĐỒNG THÁP

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 30/2024/HS-ST

Ngày: 17-4-2024.

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ CAO LÃNH, TỈNH ĐỒNG THÁP

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Cẩm Trinh.

Các Hội thẩm nhân dân: 1. Ông Nguyễn Hồng Thơ.

2. Ông Nguyễn Phú Hữu.

- Thư ký phiên tòa: Ông Bùi Phan Minh Trí là Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Cao Lãnh, tỉnh Đồng Tháp.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Cao Lãnh, tỉnh Đồng Tháp tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Kim H - Kiểm sát viên.

Ngày 17 tháng 4 năm 2024, tại Trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Cao Lãnh, tỉnh Đồng Tháp xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 22/2024/TLST-HS ngày 08/3/2024, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 106/2024/QĐXXST-HS ngày 25/3/2024, đối với bị cáo:

- Họ và tên: Phạm Nhật H1, sinh năm 2002; Giới tính: Nam; Nơi sinh: Đồng Tháp; Nơi thường trú: Tổ A, ấp H, xã H, thành phố C, tỉnh Đồng Tháp; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Nghề nghiệp: Làm thuê; Trình độ học vấn: 01/12; Con ông Phạm Quang T, sinh năm 1975; Con bà Lê Thị Thùy D; sinh năm 1980; Vợ: Lê Thị Hồng H2, sinh năm 2001; có một con chung sinh năm 2023; Gia đình có 02 chị em, bị cáo là con nhỏ nhất trong gia đình; Tiền án, tiền sự: Không; Bị cáo hiện đang áp dụng biện pháp ngăn chặn: Cấm đi khỏi nơi cư trú. Bị cáo có mặt tại phiên tòa.

- Bị hại: Lê Thành Đ, sinh năm 1978.

Cư trú: Tổ A, ấp T, xã T, thành phố C, tỉnh Đồng Tháp (Có mặt).

- Người làm chứng:

1. Nguyễn Thị Tuyết L, sinh năm 1981.

Cư trú: Tổ A, ấp T, xã T, thành phố C, tỉnh Đồng Tháp (Có mặt).

2. Hồ Thị Tuyết M, sinh năm 1987.

Cư trú: Tổ A, ấp T, xã T, thành phố C, tỉnh Đồng Tháp (Có đơn xin xét xử vắng mặt).

3. Lê Thị Ngọc L1, sinh năm 1988.

Cư trú: Tổ A, ấp T, xã T, thành phố C, tỉnh Đồng Tháp (Có đơn xin xét xử vắng mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

ông Lê Thành Đ là chú vợ của Phạm Nhật H1. Vào khoảng 19 giờ 30 phút, ngày 16/7/2023, H1 đang ở nhà mình tại tổ A, ấp T, xã T, thành phố C cách nhà ông Đ 02 căn nhà. H1 nghe ông Đ lớn tiếng chửi thề, nói “Đi nhậu về đập đồ”. Nghe vậy H1 cho rằng ông Đ đang nói về mình, nên cầm dao tự chế của H1 có sẵn ở nhà, loại dao có lưỡi sắc bén bằng kim loại màu đen dài khoảng 35cm, cán bằng gỗ dài khoảng 13cm, đi cửa sau qua sau nhà ông Đ để nói chuyện.

Trong khi nói chuyện thì H1 và ông Đ xảy ra cự cãi, nên H1 nói với ông Đ có gì ra trước nhà ông Đ nói chuyện. Khi ra phía trước, H1 vẫn tiếp tục cầm dao, ông Đ từ trong nhà đi ra, 01 tay cầm khúc gỗ không rõ kích thước, 01 tay cầm 01 cây sứa. H1 và ông Đ tiếp tục cự cãi sau đó H1 cầm dao bằng tay phải, đứng đối diện ông Đ, chém từ trên xuống, ông Đ đưa tay trái lên đỡ thì bị chém trúng bàn tay trái gây thương tích. Sau khi gây thương tích cho ông Đ thì H1 tự dừng lại và bỏ về nhà, còn ông Đ được gia đình đưa đến Bệnh viện Đ1 nhập viện điều trị từ ngày 16/7/2023 đến ngày 19/7/2023. Ngày 17/7/2023, chị Nguyễn Thị Tuyết L là vợ ông Đ đến trình báo với Công an xã T và ông Đ yêu cầu xử lý Phạm Nhật H1 theo quy định của pháp luật.

Căn cứ Bản kết luận giám định tổn thương trên cơ thể người sống số 353/KLTTCT-TTPYĐT ngày 18/9/2023 của Trung tâm Pháp y tỉnh Đ đối với ông Lê Thành Đ, kết luận giám định: Sẹo vết thương phần mềm + sẹo mổ đốt xa ngón I bàn tay trái, kích thước trung bình; Cứng khớp liên đốt gần – đốt xa ngón I bàn tay trái; 02 sẹo vết thương phần mềm đốt gần ngón II, đốt gần ngón III bàn tay trái, kích thước nhỏ; Gãy đốt xa ngón I bàn tay trái; mất đốt giữa và đốt xa ngón II bàn tay trái; Gãy đốt gần ngón III bàn tay trái. Xác định tỷ lệ phần trăm tổn thương cơ thể của Lê Thành Đ tại thời điểm giám định là 21%. Tổn thương trên do vật sắc gây ra. Cơ chế hình thành tổn thương do ngoại lực tác động gây ra.

Về vật chứng: Thu giữ 01 con dao tự chế có lưỡi bằng kim loại màu đen dài khoảng 35cm, cán bằng gỗ dài khoảng 13cm Phạm Nhật H1 đã dùng để gây thương tích cho bị hại; 01 cây sứa cán bằng nhựa dài khoảng 6cm, lưỡi bằng kim loại dài khoảng 15cm của bị hại đã cầm theo trong lúc cãi nhau với H1. Trong quá trình điều tra, đã trả lại cây sứa nói trên cho bị hại Lê Thành Đ. Đối với khúc gỗ ông Đ cầm theo khi cự cãi với H1, cơ quan điều tra đã tiến hành truy tìm nhưng không tìm được.

Về trách nhiệm dân sự: Bị cáo Phạm Nhật H1 đã bồi thường cho bị hại Lê Thành Đ theo yêu cầu với số tiền 10.000.000 đồng. Ngoài ra bị hại không có yêu cầu gì khác.

Tại Cáo trạng số 29/CT-VKS-TPCL ngày 08/3/2024 của Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân thành phố Cao Lãnh đã truy tố bị cáo Phạm Nhật H1 về tội “Cố ý gây thương tích” theo quy định tại điểm đ khoản 2 Điều 134 của Bộ luật Hình sự.

Tại phiên tòa sơ thẩm, đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Cao Lãnh, tỉnh Đồng Tháp giữ nguyên quyết định truy tố, phân tích hành vi phạm tội, các tình tiết tăng nặng giảm nhẹ đối với bị cáo và đề nghị Hội đồng xét xử tuyên bố:

Về trách nhiệm hình sự: Đề nghị Tòa án tuyên bị cáo Phạm Nhật H1, đã phạm tội “Cố ý gây thương tích”.

- Áp dụng điểm đ khoản 2 Điều 134; điểm b, s khoản 1, 2 Điều 51; Điều 38 của Bộ luật Hình sự, xử phạt bị cáo Phạm Nhật H1, mức án: Từ 02 - 03 năm tù.

Về trách nhiệm dân sự: Đã giải quyết xong.

Về xử lý vật chứng: Tịch thu tiêu hủy 01 con dao tự chế lưỡi bằng kim loại dài khoảng 35cm, cán bằng gỗ 13cm là công cụ phạm tội.

Tại phiên tòa, bị cáo không tranh luận, thừa nhận hành vi phạm tội của mình và xin giảm nhẹ hình phạt.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về tính hợp pháp của hành vi, quyết định tố tụng trong vụ án, Hội đồng xét xử xét thấy: Hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an thành phố C, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Cao Lãnh, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra, truy tố, chuẩn bị xét xử và tại phiên tòa, bị cáo và những người tham gia tố tụng khác không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, mọi hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

[2] Về tố tụng: Đối với người làm chứng có đơn xin vắng mặt tại phiên tòa. Xét thấy trong quá trình điều tra đã có lời khai rõ ràng và sự vắng mặt của những người này không gây trở ngại cho việc xét xử. Do đó, căn cứ Điều 293 của Bộ luật Tố tụng hình sự, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng người làm chứng.

[3] Xét nội dung vụ án: Tại phiên tòa sơ thẩm, bị cáo Phạm Nhật H1 đã thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội như nội dung Cáo trạng 29/CT-VKS-TPCL ngày 08/3/2024 của Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân thành phố Cao Lãnh đã truy tố là đúng với hành vi phạm tội của bị cáo và phù hợp với lời khai của bị cáo tại cơ quan điều tra, biên bản kham nghiệm hiện trường, sơ đồ, ban anh; kết luận giám định phap y, lời khai người làm chứng và phù hợp với các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án, có đủ cơ sở xác định bị cáo phạm vào tội “Cố ý gây thương tích”, tội phạm và hình phạt được quy định tại điểm đ khoản 2 Điều 134 của Bộ luật Hình sự.

Tại phiên tòa, bị cáo đồng ý với tội danh mà cáo trạng đã truy tố; bị cáo không có ý kiến tranh luận, thừa nhận lời luận tội của Kiểm sát viên là đúng người, đúng tội, đúng với tính chất, mức độ, hành vi phạm tội mà bị cáo gây ra.

Bị cáo là người đã thành niên, có thể chất, tinh thần phát triển bình thường, có khả năng điều khiển hành vi, giao tiếp xã hội, nhận thức được pháp luật, đủ tuổi và có đủ năng lực chịu trách nhiệm hình sự theo quy định, biết rõ hành vi cố ý gây thương tích cho người khác là vi phạm pháp luật nhưng vẫn cố tinh thực hiện, xâm phạm đến sức khỏe, tính mạng của người khác một cách trái pháp luật. Bị cáo vì tức giận nhất thời nên đã cầm dao tự chế chém 01 nhát trúng vào bàn tay trái của ông Đ, hậu quả ông Đ bị thương tích với tỷ lệ phần trăm tổn thương cơ thể là 21%, chứng tỏ việc phạm tội của bị cáo là cố ý và thực hiện tội phạm đã hoàn thành. Do vậy, Hội đồng xét xử đủ cơ sở kết luận bị cáo pham tội “Cố ý gây thương tích” theo quy định tại điểm đ khoản 2 Điều 134 của Bộ luật Hình sự.

Tại điểm đ khoản 2 Điều 134 Bộ luật Hình sự quy định:

1. Người nào cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác mà tỷ lệ tổn thương cơ thể từ 11% đến 30% hoặc dưới 11% nhưng thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc phạt tù từ 06 tháng đến 03 năm:

a) Dùng vũ khí, vật liệu nổ, hung khí nguy hiểm hoặc thủ đoạn có khả năng gây nguy hại cho nhiều người;

i) Có tính chất côn đồ;

...

2. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 02 năm đến 06 năm:

đ) Gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác mà tỷ lệ tổn thương cơ thể từ 11% đến 30% nhưng thuộc một trong các trường hợp quy định tại các điểm từ điểm a đến điểm k khoản 1 Điều này.

...”

Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, đã trực tiếp xâm phạm đến sức khỏe của người khác một cách trái pháp luật. Lẽ ra, khi nghe ông Lê Thành Đ là người ở cùng xóm nói chuyện lớn tiếng, chửi thề mà H1 nghĩ ông Đ nói về mình thì bị cáo phải bình tĩnh, kiềm chế bản thân và đến nói chuyện cho rõ ràng, lễ phép vì bị cáo là cháu rể của ông Đ hoặc tìm cách giải quyết mâu thuẫn một cách đúng đắn hoặc báo chính quyền địa phương để giải quyết sự việc, có như vậy sẽ không phát sinh sự việc đáng tiếc. Nhưng bị cáo không làm được điều này mà lại chọn cách giải quyết mâu thuẫn bằng bạo lực, có tính chất côn đồ nên bị cáo đã thực hiện hành vi phạm tội như đã nêu trên. Bản thân bị cáo nhận thức được dao tự chế là hung khí nguy hiểm và hành vi dùng dao chém vào cơ thể người khác là sẽ gây thương tích là vi phạm pháp luật nhưng bị cáo vẫn thực hiện và hậu quả đã xảy ra làm cho người bị hại bị thương tích với tỷ lệ tổn thương cơ thể tại thời điểm giám định là 21%. Do đó, việc đưa bị cáo ra xét xử là cần thiết và cần áp dụng mức hình phạt tương xứng với hành vi phạm tội của bị cáo, cách ly bị cáo ra khỏi xã hội một thời gian nhất định để bị cáo có thời gian học tập cải tạo trở thành người tốt có ích cho gia đình, xã hội, đồng thời cũng nhằm để răn đe, giáo dục và phòng ngừa chung.

[4] Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Không có.

[5] Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Trong giai đoạn điều tra, truy tố cũng như tại phiên tòa sơ thẩm, bị cáo đã thành khẩn khai báo, tỏ ra ăn năn hối cải; đã bồi thường cho bị hại số tiền 10.000.000đ để khắc hậu quả. Đây là các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm b, s khoản 1, 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự nên cần xem xét giảm nhẹ một phần hình phạt cho bị cáo.

[6] Xét đề nghị của đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Cao Lãnh là có căn cứ và phù hợp nên chấp nhận đề nghị của đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Cao Lãnh.

[7] Về trách nhiệm dân sự: Bị cáo Phạm Nhật H1 đã bồi thường cho bị hại Lê Thành Đ theo yêu cầu với số tiền 10.000.000 đồng. Ngoài ra, bị hại không có yêu cầu gì khác nên Hội đồng xét xử không xem xét.

[8] Về xử lý vật chứng: Căn cứ khoan 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự và điểm a khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng Hình sự;

Tịch thu tiêu hủy 01 con dao tự chế lưỡi bằng kim loại dài khoảng 35cm, cán bằng gỗ 13cm, là công cụ phạm tội.

[9] Các vấn đề khác: Hành vi Cố ý gây thương tích của Phạm Nhật H1 là do mâu thuẫn giữa H1 và ông Lê Thành Đ, không gây ảnh hưởng xấu đến tình hình an ninh trật tự tại địa phương. Chính quyền địa phương không nhận được đơn thư phản ánh của người dân, nên không xử lý về hành vi gây rối trật tự công cộng

[10] Về án phí: Bị cáo Phạm Nhật H1 phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

[11] Bị cáo, bị hại có quyền kháng cáo theo quy định tại Điều 331, Điều 333 của Bộ luật tố tụng Hình sự.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào điểm đ khoản 2 Điều 134; các điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38 Bộ luật Hình sự.

Tuyên bố: Bị cáo Phạm Nhật H1 phạm tội “Cố ý gây thương tích”.

Xử phạt: Bị cáo Phạm Nhật H1 03 (ba) năm tù. Thời hạn tù tính từ ngày bị cáo chấp hành hình phạt tù.

Về trách nhiệm dân sự: Đã giải quyết xong.

Về xử lý vật chứng: Căn cứ khoan 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự và điểm a khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng Hình sự;

Tịch thu tiêu hủy 01 con dao tự chế lưỡi bằng kim loại dài khoảng 35cm, cán bằng gỗ 13cm, là công cụ phạm tội.

(Vật chứng nêu trên hiện Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Cao Lãnh đang quản lý).

Về án phí: Căn cứ Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự; khoản 1 Điều 21, điểm a khoản 1 Điều 23 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý, sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.

Buộc bị cáo Phạm Nhật H1 phải nộp 200.000 đồng tiền án phí hình sự sơ thẩm.

Bị cáo và bị hại có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.

Nơi nhận:

  • - TAND tỉnh ĐT;
  • - VKSND tỉnh Đồng Tháp;
  • - VKSND TP. Cao Lãnh;
  • - CATPCL (Bộ phận HSNV, CQCSĐT, CQ THAHS);
  • - Bị cáo;
  • - Những người tham gia tố tụng;
  • - Lưu VPTA và hồ sơ vụ án.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Nguyễn Thị Cẩm Trinh

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 30/2024/HS-ST ngày 17/04/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ CAO LÃNH, TỈNH ĐỒNG THÁP về cố ý gây thương tích

  • Số bản án: 30/2024/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Cố ý gây thương tích
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 17/04/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ CAO LÃNH, TỈNH ĐỒNG THÁP
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Cố ý gây thương tích
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger