|
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TAM BÌNH TỈNH VĨNH LONG |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
|
Bản án số: 30/2024/HS-ST Ngày 17 – 4 – 2024 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TAM BÌNH, TỈNH VĨNH LONG
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Ông Trần Thanh Thảo
Các Hội thẩm nhân dân:
- Ông Phan Kiên Nhẫn
- Ông Trần Văn Bé Hai
- Thư ký phiên tòa: Bà Dương Kim Huyền – Thư ký Tòa án của Tòa án nhân dân huyện Tam Bình, tỉnh Vĩnh Long
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Tam Bình, tỉnh Vĩnh Long tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Minh Tâm – Kiểm sát viên.
Ngày 17 tháng 4 năm 2024 tại Trụ sở Tòa án nhân dân huyện Tam Bình xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 17/2024/TLST-HS ngày 06 tháng 02 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 35/2024/QĐXXST-HS ngày 20 tháng 3 năm 2024 đối với bị cáo:
Nguyễn Việt T, sinh năm 1990 tại tỉnh Vĩnh Long; nơi thường trú: ấp B, xã L, huyện T, tỉnh Vĩnh Long; nghề nghiệp: Làm vườn; trình độ học vấn: 9/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Văn Bé H và bà Huỳnh Thị Á; vợ Trần Bích T1 và 02 người con (lớn sinh năm 2010, nhỏ sinh năm 2012).
Tiền sự: Không.
Tiền án: Không.
Bị cáo bị bắt, tạm giữ tạm giam từ ngày 01/11/2023 đến nay và có mặt tại phiên tòa.
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án: Anh Võ Văn T2, sinh năm 1994; nơi cư trú: ấp B, xã N, huyện T, tỉnh Vĩnh Long (vắng mặt).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Vào lúc 10 giờ 30 phút, ngày 01/11//2023 qua công tác trinh sát trên tuyến lộ ĐH45 thuộc địa phận ấp B, xã N, huyện T, tỉnh Vĩnh Long phát hiện Nguyễn Việt T điều khiển xe mô tô mang biển số 95B1-133.30 có biểu hiện nghi vấn nên lực lượng Công an huyện T yêu cầu dừng phương tiện để kiểm tra thì phát hiện trên lề lộ gần chỗ T dừng phương tiện có 01 đoạn ống nhựa (loại ống hút) màu xanh sọc trắng nhìn thấy bên trong được hàn kín hai đầu bên trong có chứa chất tinh thể màu trắng nghi là chất ma túy. Công an huyện T tiến hành lập biên bản bắt người phạm tội quả tang đối với T và thu giữ các tang vật có liên quan gồm:
- 01 đoạn ống nhựa (loại ống hút) màu xanh sọc trắng nhìn thấy bên trong được hàn kín hai đầu bên trong có chứa chất tinh thể màu trắng nghi là chất ma túy (niêm phong đánh số 1).
- 01 điện thoại di động NOKIA màu đen đã qua sử dụng.
- 01 xe mô tô màu đỏ mang biển só 95B1-133.30.
Quá trình điều tra Nguyễn Việt T đã thừa nhận: Vào khoảng 10 giờ, ngày 01/11/2023 bị cáo T điều khiển xe mô tô biển kiểm soát 95B1-133.30 của Võ Văn T2 (là cháu của T) đến nhà của Lê Văn Chánh E, sinh năm: 1992, ngụ ấp :, xã N, huyện T, tỉnh Vĩnh Long để bán 01 con gà trống tre cho Chánh E nhưng Chánh E không mua. Sau đó, bị cáo T hỏi mua ma túy của Chánh E với giá 200.000 đồng thì Chánh E đồng ý. Sau khi nhận ma túy xong thì bị cáo T điều khiển xe chạy về nhà, trên đường chạy về thì bị lực lượng Công an kiểm tra và bắt quả tang.
Theo kết luận số 773/KL-KTHS ngày 06/11/2023 của Phòng K Công an tỉnh V kết luận: Mẫu tinh thể rắn màu trắng bên trong phong bì (đánh số 1) gửi giám định là ma túy, có khối lượng 0,1471 gam, loại Methamphetamine.
Ngày 07/11/2023 Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện T ra quyết định khởi tố vụ án hình sự, khởi tố bị can và ra Lệnh tạm giam đối với Nguyễn Việt T về tội “Tàng trữ trái phép chất ma tuý” theo quy định tại khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự.
Việc thu giữ tài liệu, đồ vật, xử lý vật chứng:
- Mẫu tinh thể rắn màu trắng bên trong phong bì (đánh số 1) còn lại sau giám định, có khối lượng 0,0889 gam và vỏ bao gói.
- 01 điện thoại di động NOKIA màu đen đã qua sử dụng.
- 01 xe mô tô màu đỏ mang biển kiểm soát 95B1-133.30.
Tại Cáo trạng số: 19/CT-VKSTB ngày 05/02/2024 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Tam Bình đã truy tố bị cáo Nguyễn Việt T về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 của Bộ luật Hình sự.
Tại phiên tòa sơ thẩm, bị cáo Nguyễn Việt T thừa nhận cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân huyện Tam Bình truy tố bị cáo là đúng hành vi, không oan.
Đối với Lê Văn Chánh E không thừa nhận hành vi bán ma túy cho Nguyễn Việt T, ngoài lời khai của T không có căn cứ xác định Chánh E đã bán ma túy cho T. Do đó, Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện T không xử lý Lê Văn C Em về tội Mua bán trái phép chất ma túy là có căn cứ.
Đối với Võ Văn T2 chỉ cho bị cáo T mượn xe mô tô biển kiểm soát 95B1-133.30 làm phương tiện đi lại, không biết bị cáo T lấy xe đi mua ma túy nên Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện T không đề cặp xử lý là có cơ sở. Tuy nhiên, trong quá trình điều tra T2 khai nhận đã mua xe mô tô biển kiểm soát 95B1-133.30 của một người tên T3 không rõ họ tên địa chỉ, đồng thời qua tra cứu và xác minh xe mô tô biển kiểm soát 95B1-133.30 thì được biết xe này là của bà Trần Thị Thật Cà R, sinh năm 1978, đăng ký thường trú: ấp C, xã V, huyện V, tỉnh Hậu Giang. Hiện tại Bà Cà R không có mặt tại địa phương chưa làm việc được. Khi nào làm việc được sẽ xử lý theo quy định của pháp luật.
Kiểm sát viên thực hành quyền công tố giữ nguyên quyết định truy tố đối với bị cáo Nguyễn Việt T về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”. Sau khi phân tích nguyên nhân, tính chất, mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội, nhân thân bị cáo, tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự áp dụng cho bị cáo, Kiểm sát viên đề nghị:
Về trách nhiệm hình sự: Tuyên bố bị cáo Nguyễn Việt T phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249; Điều 38; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự đề nghị xử phạt bị cáo Nguyễn Việt T mức án từ 01 (Một) năm đến 01 (Một) năm 06 (Sáu) tháng tù.
Về xử lý vật chứng: Áp dụng điểm a, c khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự; khoản 2, khoản 3 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự:
- Tịch thu tiêu hủy vật chứng: 01 (một) phong bì niêm phong số 773/1 ngày 06/11/2023. Bên trong phong bì có chứa mẫu tinh thể rắn màu trắng còn lại sau giám định, khối lượng là 0,0889 gam và vỏ bao gói.
- Trả cho bị cáo T 01 điện thoại di động nhãn hiệu NOKIA màu đen đã qua sử dụng.
- Giao 01 xe mô tô màu đỏ, mang biển số 95B1 – 133.30 đã qua sử dụng cho Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện T tiếp tục làm rõ xử lý theo quy định pháp luật.
Lời nói sau cùng của bị cáo: Xin giảm nhẹ hình phạt.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về thủ tục tố tụng: Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện T, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Tam Bình, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo và những người tham gia tố tụng khác không có người nào có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
[2] Về nội dung vụ án:
[2.1] Lời khai nhận của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai của người làm chứng, biên bản hỏi cung bị can, biên bản bắt người phạm tội quả tang cùng các tài liệu chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra công khai tại phiên tòa thể hiện: Vào lúc 10 giờ 30 phút, ngày 01/11/2023, trên tuyến lộ ĐH45 thuộc ấp B, xã N, huyện T, tỉnh Vĩnh Long, Công an huyện T tiến hành kiểm tra bắt quả tang Nguyễn Việt T (là đối tượng nghiện ma túy) có hành vi tàng trữ sử dụng trái phép chất ma túy loại: Methamphetamine khối lượng 0,1471 gam.
Hành vi của bị cáo Nguyễn Việt T đã phạm vào tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” được quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 của Bộ luật Hình sự như truy tố của Viện kiểm sát là đúng người, đúng tội, đúng quy định của pháp luật và có căn cứ.
[2.2] Xét tính chất, mức độ hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, đã xâm phạm đến chính sách quản lý độc quyền của Nhà nước về các chất ma túy. Bị cáo biết rõ việc tàng trữ chất ma túy là trái pháp luật, thấy được tác hại của việc tàng trữ, sử dụng chất ma túy nhưng bị cáo cố tình thực hiện, gây mất an ninh trật tự tại địa phương. Vì vậy, cần xử lý bị cáo một mức án nghiêm khắc tương xứng với tính chất, mức độ hành vi phạm tội của bị cáo nhằm cải tạo, giáo dục bị cáo đồng thời giúp bị cáo cai nghiện, trở thành người công dân tốt, có ích cho xã hội và ngăn chặn những trường hợp tương tự có thể xảy ra.
[2.3] Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với bị cáo: Bị cáo sau khi phạm tội đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; có ông nội được công nhận là liệt sĩ; cha ruột người trực tiếp tham gia kháng chiến chống Mỹ được hưởng chế độ trợ cấp một lần theo Quyết định 290/2005/QĐ-TTg, ngày 08/11/2005 của Thủ tướng Chính phủ, đây là những tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự được quy định tại điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự.
[2.4] Về xử lý vật chứng: Căn cứ điểm a, c khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự; khoản 2, khoản 3 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự:
- Tịch thu tiêu hủy vật chứng không có giá trị, vật thuộc loại Nhà nước cấm tàng trữ: 01 (một) phong bì niêm phong số 773/1 ngày 06/11/2023. Bên trong phong bì có chứa mẫu tinh thể rắn màu trắng còn lại sau giám định, khối lượng là 0,0889 gam và vỏ bao gói.
- Trả cho bị cáo T 01 điện thoại di động nhãn hiệu NOKIA màu đen đã qua sử dụng do không liên quan đến hành vi phạm tội.
- Giao 01 xe mô tô màu đỏ, mang biển số 95B1 – 133.30 đã qua sử dụng cho Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện T tiếp tục điều tra làm rõ, xử lý theo quy định pháp luật.
[3] Về án phí hình sự sơ thẩm: Buộc bị cáo Nguyễn Việt T phải nộp tiền án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
1. Căn cứ vào điểm c khoản 1 Điều 249; Điều 38; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự;
1.1 Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Nguyễn Việt T phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
1.2 Về hình phạt: Xử phạt bị cáo Nguyễn Việt T 01 (Một) năm tù.
Thời hạn tù tính từ ngày 01/11/2023.
2. Về xử lý vật chứng: Căn cứ điểm a, c khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự; khoản 2, khoản 3 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự:
- Tịch thu tiêu hủy: 01 (Một) phong bì niêm phong số 773/1 ngày 06/11/2023. Bên trong phong bì có chứa mẫu tinh thể rắn màu trắng còn lại sau giám định, khối lượng là 0,0889 gam và vỏ bao gói.
- Trả cho bị cáo T 01 (Một) điện thoại di động nhãn hiệu NOKIA màu đen đã qua sử dụng.
- Giao 01 (Một) xe mô tô màu đỏ, mang biển số 95B1 – 133.30 đã qua sử dụng cho Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện T tiếp tục điều tra làm rõ, xử lý theo quy định pháp luật.
Hiện vật chứng đang quản lý tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Tam Bình theo biên bản giao nhận vật chứng vụ án ngày 04/3/2024.
3. Về án phí hình sự sơ thẩm: Căn cứ vào Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự; điểm a khoản 1 Điều 23 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án. Buộc bị cáo Nguyễn Việt T phải nộp 200.000 đồng (Hai trăm ngàn đồng) tiền án phí hình sự sơ thẩm.
4. Về quyền kháng cáo: Bị cáo có mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 (Mười lăm) ngày kể từ ngày tuyên án. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 (Mười lăm) ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết.
|
Nơi nhận:
|
TM.HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA (Đã ký) Trần Thanh Thảo |
Bản án số 30/2024/HS-ST ngày 17/04/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TAM BÌNH, TỈNH VĨNH LONG về tàng trữ trái phép chất ma túy
- Số bản án: 30/2024/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Tàng trữ trái phép chất ma túy
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 17/04/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TAM BÌNH, TỈNH VĨNH LONG
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Bị cáo Nguyễn Việt T phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”
